← Danh sách bài đọc
Bài 104

Memory Decoding

Giải mã Trí Nhớ

Try this memory test: Study each face and compose a vivid image for the person’s first and last name. Rose Leo, for example, could be a rosebud and a lion. Fill in the blanks on the next page. The Examinations School at Oxford University is an austere building of oak-paneled rooms, large Gothic windows, and looming portraits of eminent dukes and earls. It is where generations of Oxford students have tested their memory on final exams, and it is where, last August, 34 contestants gathered at the World Memory Championships to be examined in an entirely different manner.
Hãy thử kiểm tra trí nhớ bằng bài test này: Nghiên cứu từng khuôn mặt và tạo ra một hình ảnh sống động cho họ và tên của người đó. Ví dụ, Rose Leo có thể là một nụ hồng và một con sư tử. Điền vào chỗ trống trên trang tiếp theo. Trường Khảo thí tại Đại học Oxford là một tòa nhà giản dị gồm các phòng ốp gỗ sồi, những ô cửa sổ lớn kiểu Gothic và những bức chân dung thấp thoáng của các công tước và bá tước lỗi lạc. Đây là nơi nhiều thế hệ sinh viên Oxford đã kiểm tra trí nhớ của họ trong các kỳ thi cuối kỳ. Vào tháng 8 năm ngoái, 34 thí sinh đã tập trung tại đây để kiểm tra trí nhớ trong Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới theo một cách hoàn toàn khác.
In timed trials, contestants were challenged to look at and then recite a two-page poem, memorize rows of 40-digit numbers, recall the names of 110 people after looking at their photographs, and perform seven other feats of extraordinary retention.
Trong những thử thách tính giờ, các thí sinh được thử thách bằng cách nhìn và sau đó đọc thuộc lòng một bài thơ dài hai trang, ghi nhớ các dãy số gồm 40 chữ số, nhớ lại tên của 110 người sau khi xem ảnh của họ và thực hiện bảy kĩ năng điêu luyện khác về khả năng ghi nhớ phi thường.
Some tests took just a few minutes; others lasted hours.
Một số bài kiểm tra chỉ mất vài phút; một số khác kéo dài nhiều giờ đồng hồ.
In the 14 years since the World Memory Championships was founded, no one has memorized the order of a shuffled deck of playing cards in less than 30 seconds.
Trong 14 năm kể từ khi Giải vô địch trí nhớ thế giới được thành lập, không ai có thể nhớ thứ tự của một bộ bài bị xáo trộn trong vòng chưa đầy 30 giây.
That nice round number has become the four-minute mile of competitive memory, a benchmark that the world’s best “mental athletes,” as some of them like to be called, is closing in on.
Con số đẹp tròn trịa đó đã trở thành bốn phút trong cuộc đọ sức về trí nhớ, một tiêu chuẩn mà những "vận động viên trí óc" giỏi nhất thế giới - như một vài người trong số họ muốn được gọi - đang hướng tới.
Most contestants claim to have just average memories, and scientific testing confirms that they’re not just being modest.
Hầu hết các thí sinh cho rằng họ chỉ có trí nhớ ở mức trung bình, và kiểm tra khoa học xác nhận rằng họ không phải chỉ đang khiêm tốn.
Their feats are based on tricks that capitalize on how the human brain encodes information.
Kĩ năng điêu luyện của họ dựa trên các thủ thuật lợi dụng cách bộ não con người mã hóa thông tin.
Anyone can learn them.
Bất cứ ai cũng có thể học chúng.
Psychologists Elizabeth Valentine and John Wilding, authors of the monograph Superior Memory, recently teamed up with Eleanor Maguire, a neuroscientist at University College London to study eight people, including Karsten, who had finished near the top of the World Memory Championships.
Các nhà tâm lý học Elizabeth Valentine và John Wilding - tác giả của cuốn sách chuyên khảo Siêu Trí nhớ - gần đây đã hợp tác với Eleanor Maguire - một nhà khoa học thần kinh tại Đại học College London - để nghiên cứu tám người, bao gồm cả Karsten, người đã hoàn thành gần nhất giải Vô địch Trí nhớ Thế giới.
They wondered if the contestants’ brains were different in some way.
Họ tự hỏi liệu bộ não của các thí sinh có khác nhau theo một cách nào đó hay không.
The researchers put the competitors and a group of control subjects into an MRI machine and asked them to perform several different memory tests while their brains were being scanned.
Các nhà nghiên cứu đưa các đối thủ cạnh tranh và một nhóm đối chứng vào trong một máy chụp cộng hưởng từ não (MRI) và yêu cầu họ thực hiện một số bài kiểm tra trí nhớ khác nhau trong khi não của họ đang được quét.
When it came to memorizing sequences of three-digit numbers, the difference between the memory contestant and the control subjects was, as expected, immense.
Khi nói đến việc ghi nhớ thứ tự các số có ba chữ số, những thí sinh thi trí nhớ và nhóm đối chứng có sự khác biệt rất lớn - như những gid các nhà nghiên cứu mong đợi.
However, when they were shown photographs of magnified snowflakes, images that the competitors had never tried to memorize before, the champions did no better than the control group.
Tuy nhiên, khi họ được cho xem những bức ảnh chụp bông tuyết phóng đại- hình ảnh mà trước đó tất cả những người tham gia thí nghiệm chưa bao giờ cố gắng ghi nhớ - thì các nhà vô địch cũng chẳng khá hơn gì so với nhóm đối chứng.
When the researchers analyzed the brain scans, they found that the memory champs were activating some brain regions that were different from those the control subjects were using.
Khi các nhà nghiên cứu phân tích bản quét não, họ nhận thấy rằng các nhà vô địch trí nhớ đang kích hoạt một số vùng não khác với vùng mà nhóm đối chứng sử dụng.
These regions, which included the right posterior hippocampus, are known to be involved in visual memory and spatial navigation.
Những vùng này, bao gồm vùng hải mã phía sau bên phải, được biết đến là có liên quan đến trí nhớ thị giác và định vị không gian.
It might seem odd that the memory contestants would use visual imagery and spatial navigation to remember numbers, but the activity makes sense when their techniques are revealed.
Nó có vẻ kỳ lạ khi các thí sinh cuộc thi trí nhớ sẽ sử dụng hình ảnh trực quan và định vị không gian để ghi nhớ các con số, nhưng hoạt động này sẽ có ý nghĩa khi các kỹ thuật của họ được tiết lộ.
Cooke, a 23-year-old cognitive-science graduate student with a shoulder-length mop of curly hair, is a grand master of brain storage.
Cooke - một sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học nhận thức 23 tuổi với mái tóc xoăn dài chấm vai - là một bậc thầy vĩ đại về lưu trữ não bộ.
He can memorize the order of 10 decks of playing cards in less than an hour or one deck of cards in less than a minute.
Anh ấy có thể ghi nhớ thứ tự của 10 bộ bài trong vòng chưa đầy một giờ hoặc một bộ bài trong vòng chưa đầy một phút.
He is closing in on the 30-second deck.
Anh ấy đang tiếp cận ván bài 30 giây.
In the Lamb and Flag, Cooke pulled out a deck of cards and shuffled it.
Trong Con Chiên và Cờ, Cooke rút ra một bộ bài và tráo nó.
He held up three cards – the 7 of spades, the queen of clubs, and the 10 of spades.
Anh ấy giữ 3 quân bài - 7 bích, Q nhép và 10 bích.
He pointed at a fireplace and said, “Destiny’s Child is whacking Franz Schubert with handbags.”
Anh ta chỉ vào một cái lò sưởi và nói, Destiny’ s Child đang dùng túi xách đánh đập Franz Schubert."
The next three cards were the king of hearts, the king of spades, and the jack of clubs.
Ba lá bài tiếp theo là K cơ, K bích và J nhép.
How did he do it?
Anh ấy làm điều đó như thế nào?
Cooke has already memorized a specific person, verb, and object that he associates with each card in the deck.
Cooke đã ghi nhớ một người, một động từ và một đồ vật cụ thể mà anh ta liên kết với mỗi lá bài trong bộ bài.
For example, for the 7 of spades, the person (or, in this case, persons) is always the singing group Destiny’s Child, the action is surviving a storm, and the image is a dinghy.
Ví dụ, đối với quân 7 bích, người (hoặc, trong trường hợp này là nhiều người) luôn là nhóm hát Destiny's Child, hành động là sống sót sau một cơn bão, và hình ảnh là một chiếc thuyền.
The queen of clubs is always his friend Henrietta, the action is thwacking with a handbag, and the image is of wardrobes filled with designer clothes.
Q nhép luôn là người bạn của anh ấy Henrietta, hành động là đập túi xách, và hình ảnh là những chiếc tủ đựng đầy quần áo hàng hiệu.
When Cooke commits a deck to memory, he does it three cards at a time.
Khi Cooke ghi nhớ một bộ bài, anh ấy nhớ ba lá cùng một lúc.
Every three-card group forms a single image of a person doing something to an object.
Mỗi nhóm ba lá bài tạo thành một hình ảnh duy nhất của một người đang làm điều gì đó với một vật.
The first card in the triplet becomes the person, the second the verb, the third the object.
Thẻ đầu tiên trong bộ ba thẻ trở thành người, thẻ thứ hai trở thành động từ, thẻ thứ ba trở thành một vật.
He then places those images along a specific familiar route, such as the one he took through the Lamb and Flag.
Sau đó, anh ta đặt những hình ảnh đó dọc theo một tuyến đường quen thuộc cụ thể, chẳng hạn như tuyến đường mà anh ấy đã giải thích từng bước qua Chiên Con và Cờ.
In competitions, he uses an imaginary route that he has designed to be as smooth and downhill as possible.
Trong các cuộc thi, anh ấy sử dụng một tuyến đường tưởng tượng mà anh ấy đã thiết kế sao cho càng trơn tru và càng xuống dốc càng tốt.
When it comes time to recall, Cooke takes a mental walk along his route and translates the images into cards.
Khi đến lúc nhớ lại, Cooke đi dạo trên con đường của mình và chuyển các hình ảnh thành thẻ.
That’s why the MRIs of the memory contestants showed activation in the brain areas associated with visual imagery and spatial navigation.
Đó là lý do tại sao chụp hình não MRI của những người dự thi trí nhớ cho thấy sự kích hoạt trong các vùng não liên quan đến hình ảnh trực quan và định hướng không gian.
The more resonant the images are, the more difficult they are to forget.
Những hình ảnh càng có tính cộng hưởng, hình ảnh đó càng khó quên.
But even meaningful information is hard to remember when there’s a lot of it.
Nhưng ngay cả thông tin có nghĩa cũng khó để ghi nhớ khi mà có rất nhiều thông tin.
That’s why competitive memorizers place their images along an imaginary route.
Đó là lý do tại sao những người thi đấu trí nhớ đặt hình ảnh của họ theo một lộ trình tưởng tượng.
That technique, known as the loci method, reportedly originated in 477 B.C. with the Greek poet Simonides of Ceos.
Kỹ thuật đó, được gọi là phương pháp loci, được cho là bắt nguồn từ năm 477 trước Công nguyên bởi nhà thơ Hy Lạp Simonides của hòn đảo Ceos.
Simonides was the sole survivor of a roof collapse that killed all the other guests at a royal banquet.
Simonides là người duy nhất sống sót sau vụ sập mái nhà khiến tất cả những vị khách khác trong bữa tiệc hoàng gia thiệt mạng.
The bodies were mangled beyond recognition, but Simonides was able to reconstruct the guest list by closing his eyes and recalling each individual around the dinner table.
Các thi thể đã bị cán không thể nhận ra, nhưng Simonides đã có thể tạo lại danh sách khách mời bằng cách nhắm mắt và hồi tưởng lại từng người xung quanh bàn ăn.
What he had discovered was that our brains are exceptionally good at remembering images and spatial information.
Những gì ông đã phát hiện ra là bộ não của chúng ta đặc biệt tốt trong việc ghi nhớ các hình ảnh và thông tin không gian.
Evolutionary psychologists have offered an explanation: Presumably, our ancestors found it important to recall where they found their last meal or the way back to the cave.
Các nhà tâm lý học tiến hóa đã đưa ra lời giải thích: Có lẽ, tổ tiên của chúng ta thấy rằng việc phải nhớ lại nơi họ tìm thấy bữa ăn cuối cùng hoặc đường trở lại hang động là điều quan trọng.
After Simonides’ discovery, the loci method became popular across ancient Greece as a trick for memorizing speeches and texts.
Sau khám phá của Simonides, phương pháp loci đã trở nên phổ biến trên khắp Hy Lạp cổ đại như một mẹo để ghi nhớ các bài phát biểu và văn bản.
Aristotle wrote about it, and later a number of treatises on the art of memory were published in Rome.
Aristotle đã viết về nó, và sau đó một số chuyên luận về nghệ thuật ghi nhớ đã được xuất bản ở Rome.
Before printed books, the art of memory was considered a staple of classical education, on a par with grammar, logic, and rhetoric.
Trước khi có sách in, nghệ thuật ghi nhớ được coi là một yếu tố quan trọng của giáo dục cổ điển, ngang hàng với ngữ pháp, logic và tu từ.
The most famous of the naturals was the Russian journalist S.V. Shereshevski, who could recall long lists of numbers memorized decades earlier, as well as poems, strings of nonsense syllables, and just about anything else he was asked to remember.
Người nổi tiếng nhất về số tự nhiên là nhà báo người Nga S.V. Shereshevski, ông có thể nhớ lại những danh sách dài các con số đã mà ông đã ghi nhớ hàng thập kỷ trước đó, cũng như những bài thơ, chuỗi âm tiết vô nghĩa, và bất cứ điều gì khác mà ông ấy được yêu cầu nhớ.
“The capacity of his memory had no distinct limits,” wrote Alexander Luria, the Russian psychologist who studies Shereshevski also had synesthesia, a rare condition in which the senses become intertwined.
Alexander Luria - nhà tâm lý học người Nga nghiên cứu về Shereshevski - người cũng có khả năng cảm giác kèm, một tình trạng hiếm hoi trong đó các giác quan đan xen lẫn nhau, đã viết: “Khả năng ghi nhớ của anh ấy không có giới hạn rõ ràng”.
For example, every number may be associated with a color or every word with a taste.
Ví dụ, mỗi số có thể được liên tưởng với một màu sắc hoặc mỗi từ được liên tưởng với một mùi vị.
Synesthetic reactions evoke a response in more areas of the brain, making memory easier.
Phản ứng cảm giác kèm gợi lên sự hưởng ứng ở nhiều vùng hơn của não, giúp ghi nhớ dễ dàng hơn.
K. Anders Ericsson, a Swedish-born psychologist at Florida State University, thinks anyone can acquire Shereshevski’s skills.
K. Anders Ericsson - một nhà tâm lý học gốc Thụy Điển tại Đại học Bang Florida - cho rằng bất kỳ ai cũng có thể có được các kỹ năng của Shereshevski.

Từ vựng (24)

  • innately (adj) (ɪˈneɪt.li) (adj*) — bẩm sinh
  • a deck of cards (ˈeɪ, ə) (dek) (əv) (ˈkɑɹdz) — một bộ bài
  • a royal banquet (n) (ˈeɪ, ə) (ˈrɔɪ.əl) (ˈbæŋ.kwət) (ˈɛn) — một bữa tiệc hoàng gia
  • a shoulder-length mop of curly hair (ˈeɪ, ə) (ˈʃoʊl.dɚ) (leŋθ) (mɑːp) (əv) (ˈkɝː.li) (her) — mái tóc xoăn dài chấm vai
  • a staple of + N (ˈeɪ, ə) (ˈsteɪ.pəl) (əv) (ˈɛn) — một yếu tố quan trọng của cái gì
  • austere (adj) (ɑːˈstɪr) (adj*) — đơn giản, giản dị
  • clubs (ˈkɫəbz) — chất nhép (bài)
  • diamonds (ˈdaɪməndz) — chất rô (bài)
  • digit (n) (ˈdɪdʒ.ɪt) (ˈɛn) — chữ số/ ký tự
  • encode (v) (ɪnˈkoʊd) (ˈvi) — mã hoá
  • exceptional (adj) (ɪkˈsep.ʃən.əl) (adj*) — khác thường, đặc biệt, hiếm có
  • feat (n) (fiːt) (ˈɛn) — kì công, ngón điêu luyện, ngón tài ba
  • hearts (ˈhɑɹts) — chất cơ (bài)
  • intertwine (v) (ˌɪn.t̬ɚˈtwaɪn) (ˈvi) — đan xen
  • magnify (adj) (ˈmæɡ.nə.faɪ) (adj*) — phóng đại
  • monograph (n) (ˈmɑː.nə.ɡræf) (ˈɛn) — chuyên khảo
  • MRI (Magnetic Resonance Imaging) machine (n) (ˌem.ɑːrˈaɪ) (mæɡˈnet̬.ɪk) (ˈrez.ən.əns) (ɪˈmɪdʒ.ɪŋ) (məˈʃiːn) (ˈɛn) — Máy chụp cộng hưởng từ não
  • oak-paneled rooms (n) (oʊk) (ˈpænəɫd) (ˈɹumz) (ˈɛn) — những căn phòng ốp gỗ sồi
  • resonant (adj) (ˈrez.ən.ənt) (adj*) — mang tính cộng hưởng
  • shuffle (v) (ˈʃʌf.əl) (ˈvi) — xáo trộn, tráo (bài)
  • spades (ˈspeɪdz) — chất bích (bài)
  • spatial navigation (n) (ˈspeɪ.ʃəl) (ˌnæv.əˈɡeɪ.ʃən) (ˈɛn) — định vị không gian/ điều hướng không gian
  • synesthesia (n) (ˌsɪn.əsˈθiː.ʒə) (ˈɛn) — cảm giác kèm
  • visual imagery (n) (ˈvɪʒ.u.əl) (ˈɪm.ə.dʒər.i) (ˈɛn) — hình ảnh trực quan