← Danh sách bài đọc
Bài 105
Copy your neighbor
Bắt chước người hàng xóm của bạn
Nguồn: https://ieltssongngu.com
There's no animal that symbolises rainforest diversity quite as spectacularly as the tropical butterfly.
Không có loài vật nào có thể đặc trưng cho sự đa dạng nơi rừng nhiệt đới một cách ngoạn mục như loài bướm nhiệt đới.
Anyone lucky enough to see these creatures flitting between patches of sunlight cannot fail to be impressed by the variety of their patterns.
Bất kỳ ai may mắn được chiêm ngưỡng sinh vật này chập chờn bay lượn giữa những mảng ánh sáng chiếu rọi từ mặt trời đều không thể không bị ấn tượng bởi sự đa dạng trong tạo hình của chúng.
But why do they display such colourful exuberance?
Nhưng tại sao loài vật này lại phô bày màu sắc sặc sỡ đến vậy?
Until recently, this was almost as pertinent a question as it had been when the 19th-century naturalists, armed only with butterfly nets and insatiable curiosity, battle through the rainforests.
Cho đến gần đây, vấn đề này lại một lần nữa trở nên nóng hổi như nó đã từng xảy ra vào thế kỉ 19, khi các nhà tự nhiên học đã chiến đấu xuyên rừng nhiệt đới chỉ với lưới bắt bướm và sự tò mò vô hạn.
These early explorers soon realised that although some of the butterflies’ bright colours are there to attract a mate, others are warning signals.
Những nhà thám hiểm đầu tiên này đã sớm nhận ra rằng mặc dù một số loài bướm có màu sắc tươi sáng nhằm thu hút bạn tình nhưng với những loài khác thì đây lại là tín hiệu cảnh báo.
They send out a message to any predators: “Keep off, we’re poisonous.”
Đó là một thông điệp gửi tới bất kỳ kẻ săn mồi nào: "Hãy tránh xa ra, chúng tôi rất độc."
And because wearing certain patterns affords protection, other species copy them.
Và bởi việc khoác lên mình một lớp áo nhất định có khả năng bảo vệ bản thân, nhiều loài vật khác đã sao chép chúng.
Biologists use the term “mimicry rings” for these clusters of impostors and their evolutionary idol.
Các nhà sinh vật học sử dụng thuật ngữ "vòng bắt chước" cho nhóm kẻ mạo danh này cũng như những thần tượng tiến hóa của chúng.
But here’s the conundrum.
Nhưng đây lại là một câu đố phức tạp.
“Classical mimicry theory says that only a single ring should be found in any one area,” explains George Beccaloni of the Natural History Museum, London.
Ông George Beccaloni từ Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, London giải thích: “Lý thuyết bắt chước cổ điển cho rằng chỉ nên có duy nhất một chiếc vòng ở bất kỳ một khu vực nào."
The idea is that in each locality there should be just the one pattern that best protects its wearers.
Giải nghĩa cho điều này có nghĩa là ở mỗi địa phương chỉ nên có một tạo hình bảo vệ tốt nhất cho những kẻ khoác nó lên người
Predators would quickly learn to avoid it and eventually, all mimetic species in a region should converge upon it.
Những kẻ săn mồi nhanh chóng hiểu được rằng đó là dấu hiệu chúng cần tránh né và cuối cùng, tất cả các loài bắt chước trong cùng khu vực đấy sẽ khoác lên mình "lớp áo" giống nhau đó.
“The fact that this is patently not the case has been one of the major problems in mimicry research,” says Beccaloni.
Ông Beccaloni tiết lộ: “Hiện tượng này trong thực tế không phải là một trong những vấn đề lớn trong nghiên cứu về tập tính bắt chước."
In pursuit of a solution to the mystery of mimetic exuberance, Beccaloni set off for one of the mega centres for butterfly diversity, the point where the western edge of the Amazon basin meets the foothills of the Andes in Ecuador.
Nhằm tìm ra lời giải cho bí ẩn về việc bắt chước trong tự nhiên, Beccaloni đã đi đến một trong những trung tâm lớn về sự đa dạng của loài bướm, nằm ở rìa phía tây của lưu vực sông Amazon giao với chân dãy Andes ở Ecuador.
“It’s exceptionally rich, but comparatively well collected, so I pretty much knew what was there,” says Beccaloni.
Beccaloni chia sẻ: “Số lượng các loài bướm ở đây phong phú đến lạ kỳ, tôi thu thập được khá nhiều, vì vậy tôi biết được nhiều điều khi ở đó."
The trick was to work out how all the butterflies were organised and how this related to mimicry.
Bí quyết chính là tìm ra cách tổ chức của tất cả các loài bướm và xem điều này liên quan đến sự bắt chước như thế nào.
Working at the Jatun Sach Biological Research Station on the banks of the Rio Napo, Beccaloni focused his attention on a group of butterflies called ithomiines.
Làm việc tại Trạm Nghiên cứu Sinh học Jatun Sach trên bờ sông Rio Napo, Beccaloni tập trung hết sự chú ý của mình vào một nhóm bướm mang tên ithomiini.
These distant relatives of Britain’s Camberwell Beauty are abundant throughout Central and South America and the Caribbean.
Chúng là họ hàng xa của loài Camberwell Beauty đến từ Anh Quốc có nhiều ở khắp vùng Trung và Nam Mỹ và Caribê.
They are famous for their bright colours, toxic bodies and complex mimetic relationships.
Chúng nổi tiếng với màu sắc tươi sáng, cơ thể chứa độc tố và các mối quan hệ bắt chước đầy phức tạp.
“They can comprise up to 85 per cent of the individuals in a mimicry ring and their patterns are mimicked not just by butterflies, but by other insects as diverse as damselflies and true bugs,” says Philip DeVries of the Milwaukee Public Museum’s Center for Biodiversity Studies.
Philip DeVries thuộc Trung tâm Đa dạng Sinh học của Bảo tàng Công cộng Milwaukee cho biết: “Chúng có thể chiếm đến 85% số cá thể trong một "vòng bắt chước" và tạo hình của chúng không chỉ được bắt chước bởi các loài bướm mà còn bởi những loài côn trùng khác rất đa dạng như chuồn chuồn kim hay những loài thuộc bộ cánh nửa."
Even though all ithomiines are poisonous, it is in their interests to evolve to look like one another because predators that learn to avoid one species will also avoid others that resemble it.
Mặc dù tất cả các con bướm ithomiini đều có độc nhưng lợi ích của chúng là phát triển để có tạo hình trông giống nhau bởi vì những kẻ săn mồi học cách tránh một loài cũng sẽ tránh những loài khác có vẻ ngoài tương tự.
This is known as Müllerian mimicry.
Điều này được gọi là bắt chước kiểu Müller.
Mimicry rings may also contain insects that are not toxic but gain protection by looking likes a model species that is: an adaptation called Batesian mimicry.
Vòng bắt chước cũng có thể bao gồm những loài côn trùng không chứa độc tố nhưng có khả năng bảo vệ chính mình bằng cách trông giống một loài gốc: một dạng thích nghi mang tên bắt chước kiểu Bates.
So strong is an experienced predator’s avoidance response that even quite inept resemblance gives some protection.
Phản ứng tránh né của những kẻ săn mồi dày dặn kinh nghiệm mạnh đến mức thậm chí vẻ ngoài hơi giống nhau cũng đã có thể đem lại hiệu quả bảo vệ.
“Often there will be a whole series of species that mimic, with varying degrees of verisimilitude, a focal or model species,” says John Turner from the University of Leeds.
John Turner từ Đại học Leeds cho biết: “Thường thì sẽ có cả một loạt các loài bắt chước, với các mức độ khác nhau theo mẫu của một loài tiêu biểu.”
“The results of these deceptions are some of the most exquisite examples of evolution known to science.”
“Kết quả của những sự giả trang này là một trong những ví dụ tinh tế nhất về sự tiến hóa mà khoa học từng biết đến”.
In addition to colour, many mimics copy behaviours and even the flight pattern of their model species.
Bên cạnh màu sắc, nhiều loài còn bắt chước hành vi và thậm chí cả cách bay của loài gốc.
But why are there so many different mimicry rings?
Nhưng tại sao lại có nhiều kiểu vòng bắt chước khác nhau?
One idea is that species flying at the same height in the forest canopy evolve to look like one another.
Một ý kiến cho rằng các loài bay cùng độ cao trong một khu rừng tiến hóa để trông giống nhau.
“It had been suggested since the 1970s that mimicry complexes were stratified by flight height,” says DeVries.
DeVries nói: “Từ những năm 70 đã có đề xuất rằng tổ hợp bắt chước được phân tầng theo độ cao bay."
"The idea is that wing colour patterns are camouflaged against the different patterns of light and shadow at each level in the canopy, providing the first line of defence against predators.”
"Giả thuyết cho rằng những mẫu màu cánh ấy được ngụy trang dựa trên các mảng sáng tối khác nhau ở nhiều cấp độ trong các tán cây, là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại những kẻ săn mồi ”.
But the light patterns and wing patterns don’t match very well,” he says.
"Tuy vậy các mảng ánh sáng và màu cánh không khớp nhau lắm.” DeVries chia sẻ.
And observations show that the insects do not shift in height as the day progresses and the light patterns change.
Và các quan sát chỉ ra rằng côn trùng không thay đổi cao độ bay dù cho ngày cứ trôi và những mảng ánh sáng cứ đổi thay.
Worse still, according to DeVries, this theory doesn’t explain why the model species is flying at that particular height in the first place.
Tệ hơn nữa, theo DeVries, giả thuyết này không giải thích được lý do vì sao những loài mẫu lại bay ở độ cao nhất định đó ngay từ đầu.
“When I first went out to Ecuador, I didn’t believe the flight height hypothesis and set out to test it,” says Beccaloni.
Beccaloni chia sẻ: “Khi tôi lần đầu tiên đặt chân đến Ecuador, tôi đã không tin vào giả thuyết về độ cao khi bay và bắt đầu thử nghiệm nó."
“A few weeks with the collecting net convinced me otherwise.
“Một vài tuần cùng chiếc lưới đã khiến tôi phải tin vào giả thuyết này.
They really flew that way.”
Chúng thực sự bay như vậy.”
What he didn’t accept, however, was the explanation about light patterns.
Tuy nhiên, điều mà Beccaloni chưa thể chấp nhận chính là lời giải thích về các mảng sáng tối.
“I thought if this idea really is true, I can work out why it could help explain why there are so many different warning patterns in any not place.
“Tôi tin rằng nếu giả thuyết này thực sự đúng, tôi có thể tìm ra lý do tại sao nó giúp giải thích được việc có rất nhiều vẻ ngoài khác nhau nhằm mục đích cảnh báo ở bất kỳ nơi nào.
Then we might finally understand how they could evolve in such a complex way.”
Tiếp đó, chúng tôi cuối cùng có thể sẽ hiểu được làm cách nào mà những loài vật này tiến hóa theo chiều hướng phức tạp như vậy."
The job was complicated by the sheer diversity of species involved at Jatun Sach.
Việc này vẫn còn rất khó khăn vì Jatun Sach có sự đa dạng cao về các loài.
Not only were there 56 ithomiine butterfly species divided among eight mimicry rings, but there were also 69 other insect species, including 34 day-flying moths and a damselfly, all in a 200-hectare study area.
Không chỉ có 56 loài bướm ithomiini được chia thành tám vòng bắt chước, mà còn có 69 loài côn trùng khác, bao gồm 34 loài ngài bay ngày và một loài chuồn chuồn kim, tất cả đều nằm trong một khu vực nghiên cứu rộng 200 ha.
Like many entomologists before him, Beccaloni used a large bag-like net to capture his prey.
Giống như nhiều nhà côn trùng học trước đó, Beccaloni cũng sử dụng một chiếc lưới lớn giống như chiếc túi để bắt con mồi của mình.
This allowed him to sample the 2.5 metres immediately above the forest floor.
Điều này giúp nhà khoa học lấy được mẫu thí nghiệm ở độ cao 2,5 mét ở rừng.
Unlike many previous workers, he kept very precise notes on exactly where he caught his specimens.
Không giống như những nhà nghiên cứu trước đây, Beccaloni đã ghi chép kỹ lưỡng về địa điểm chính xác mà ông lấy được mẫu vật.
The attention to detail paid off.
Sự cẩn thận đến từng chi tiết đã được đền đáp.
Beccaloni found that the mimicry rings were flying at two quite separate altitudes.
Beccaloni nhận thấy rằng hiện tượng vòng bắt chước diễn ra ở hai độ cao khá riêng biệt.
“Their use of the forest was quite distinctive,” he recalls.
“Việc chúng tận dụng khu rừng này như thế nào khá đặc biệt,” ông hồi tưởng.
“For example, most members of the clear-winged mimicry ring would fly close to the forest floor, while the majority of the 12 species in the tiger-winged ring fly high up.”
“Ví dụ, hầu hết các loài côn trùng thuộc vòng bắt chước của những loài có cánh trong suốt sẽ bay gần với mặt đất, trong khi phần lớn trong số 12 loài thuộc vòng bắt chước của những loài có cánh vằn hổ lại bay lên cao.”
Each mimicry wing had its own characteristic flight height.
Mỗi loại cánh bắt chước sẽ có độ cao bay đặc trưng.
Từ vựng (12)
- flit (flɪt) — chập chờn bay
- exuberance (ɪɡˈzuː.bɚ.əns) — sự hoa mỹ
- pertinent (ˈpɝː.tən.ənt) — phù hợp với hoàn cảnh
- insatiable (ɪnˈseɪ.ʃə.bəl) — vô hạn, không thể thỏa mãn
- conundrum (kəˈnʌn.drəm) — câu hỏi lắt léo
- patently (ˈpæ.tənt.li) — rõ ràng
- verisimilitude (ˌver.ə.səˈmɪl.ə.tuːd) — tính chân thực
- stratify (ˈstræt̬.ə.faɪ) — phân tầng
- sample (ˈsæm.pəl) — lấy mẫu thử
- altitude (ˈæl.tə.tuːd) — độ cao
- chromatic (kroʊˈmæt̬.ɪk) — thuộc về màu sắc
- consort (kənˈsɔːrt) — phối ngẫu