← Danh sách bài đọc
Bài 108

Organic Farming and chemical fertilisers

Organic Farming and chemical fertilisers

Organic Farming and chemical fertilisers
Canh tác hữu cơ và phân bón hóa học
The world’s population continues to climb. And despite the rise of high-tech agriculture, 800 million people don’t get enough to eat. Clearly, it’s time to rethink the food we eat and where it comes from.
Dân số thế giới đang tiếp tục tăng cao. Mặc dù nông nghiệp đang phát triển theo hướng công nghệ cao, 800 triệu người vẫn không đủ ăn. Rõ ràng, đã đến lúc phải suy nghĩ lại về thực phẩm chúng ta ăn và nguồn gốc của nó.
Feeding 9 billion people will take more than the same old farming practices, especially if we want to do it without felling rainforests and planting every last scrap of the prairie. Finding food for all those people will tax farmers’ – and researchers’ – ingenuity to the limit.
Việc nuôi sống 9 tỷ người sẽ đòi hỏi nhiều hơn là các phương thức canh tác cũ, đặc biệt là nếu chúng ta muốn làm điều đó mà không phải đốn hạ các khu rừng nhiệt đới và khai thác đến mẩu đất cuối cùng trên đồng cỏ. Việc tìm kiếm thức ăn cho tất cả những những con người này cần có sự khéo léo tuyệt vời của nông dân - và cả các nhà nghiên cứu.
Yet already, precious aquifers that provide irrigation water for some of the world’s most productive farmlands are drying up or filling with seawater, and arable land in China is eroding to create vast dust storms that redden sunsets as far away as North America.
Tuy nhiên, các tầng chứa nước quý giá cung cấp nước tưới tiêu cho một số vùng đất nông nghiệp năng suất nhất trên thế giới đang khô cạn hoặc bị nhiễm mặn, và đất canh tác ở Trung Quốc đang bị xói mòn tạo ra những cơn bão bụi khổng lồ gây nên hiện tượng hoàng hôn đỏ ở tận Bắc Mỹ.
“Agriculture must become the solution to environmental problems in 50 years. If we don’t have systems that make the environment better – not just hold the fort-then we’re in trouble,” says Kenneth Cassman, an agronomist at the University of Nebraska at Lincoln.
“Nông nghiệp phải trở thành giải pháp cho các vấn đề môi trường trong 50 năm nữa. Nếu chúng ta không có các hệ thống giúp cải thiện môi trường tốt hơn - không phải chỉ là cầm cự tạm thời - thì chúng ta sẽ gặp rắc rối,” Kenneth Cassman, một nhà nông học tại Đại học Nebraska tại Lincoln cho biết.
That view was echoed in January by the Curry report, a government panel that surveyed the future of farming and food in Britain.
Quan điểm đó được lặp lại hồi tháng Một trong báo cáo của Curry, một hội đồng chính phủ chịu trách nhiệm khảo sát về tương lai của nông nghiệp và lương thực ở Anh.
It’s easy to say agriculture has to do better, but what should this friendly farming of the future look like? Concerned consumers come up short at this point, facing what appears to be an ever-widening ideological divide.
Thật đơn giản để nói rằng nông nghiệp phải làm tốt hơn, nhưng nền nông nghiệp thân thiện này trong tương lai sẽ như thế nào? Không nhiều người tiêu dùng quan tâm đến vấn đề này, đồng nghĩa rằng chúng ta đang đối mặt với hiện trạng rằng sự chia rẽ trong ý thức hệ ngày càng gia tăng.
In one corner are the techno-optimists who put their faith in genetically modified crops, improved agrochemicals, and computer-enhanced machinery; in the other are advocates of organic farming, who reject artificial chemicals and embrace back-to-nature techniques such as composting.
Một bên là những người ủng hộ hướng công nghệ hóa, những người này đặt niềm tin vào cây trồng biến đổi gen, hóa chất nông nghiệp cải tiến và máy móc được cải tiến bằng máy tính; mặt khác là những người ủng hộ nông nghiệp hữu cơ, những người từ chối các hóa chất nhân tạo và áp dụng các kỹ thuật tự nhiên như ủ phân hữu cơ.
Both sides cite plausible science to back their claims to the moral high ground, and both bring enough passion to the debate for many people to come away thinking we’re faced with a stark choice between two mutually incompatible options.
Cả hai bên đều trích dẫn các luận điểm khoa học hợp lý để chiếm thế thượng phong, và cả hai đều có đủ nhiệt huyết cho cuộc tranh luận để nhiều người bỏ ý nghĩ rằng chúng ta đang phải đối mặt với một sự lựa chọn rõ ràng giữa hai lựa chọn không tương thích lẫn nhau.
Not so. If you take off the ideological blinkers and simply ask how the world can produce the food it needs with the least environmental cost, a new middle way opens. The key is sustainability: whatever we do must not destroy the capital of soil and water we need to keep on producing.
Không phải như vậy. Nếu bạn bỏ qua những cái nhìn thiển cận và đơn giản hỏi làm thế nào thế giới có thể sản xuất thực phẩm với cái giá phải đánh đổi vể mặt môi trường ở mức thấp nhất, một con đường trung gian mới sẽ mở ra. Chìa khóa là tính bền vững: bất cứ điều gì chúng ta làm đều không được phá hủy đặc tính vốn có của nguồn đất và nước cần thiết để tiếp tục sản xuất.
Like today’s organic farming, the intelligent farming of the future should pay much more attention to the health of its soil and the ecosystem it’s part of. But intelligent farming should also make shrewd and locally appropriate use of chemical fertilisers and pesticides.
Giống như canh tác hữu cơ ngày nay, canh tác thông minh trong tương lai cần quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của đất và hệ sinh thái đất thuộc về. Nhưng canh tác thông minh cũng nên sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu một cách khôn ngoan và phù hợp với từng nơi.
The most crucial ingredient in this new style of agriculture is not chemicals but information about what’s happening in each field and how to respond. Yet ironically, this key element may be the most neglected today.
Yếu tố quan trọng nhất trong phương pháp canh tác nông nghiệp mới này không phải là hóa chất mà là hiểu biết về những gì đang xảy ra ở từng vùng đất và cách ứng phó. Tuy nhiên, trớ trêu thay, yếu tố quan trọng này ngày nay có thể là thứ bị bỏ qua nhiều nhất.
Clearly, organic farming has all the warm, fuzzy sentiment on its side. An approach that eschews synthetic chemicals surely runs no risk of poisoning land and water.
Rõ ràng, canh tác hữu cơ được ủng hộ với những cảm tình cả nồng nhiệt lẫn mơ hồ. Một cách tiếp cận tránh các hóa chất tổng hợp chắc chắn không có nguy cơ gây nhiễm độc đất và nước.
And its emphasis on building up natural ecosystems seems to be good for everyone. Perhaps these easy assumptions explain why sales of organic food across Europe are increasing by at least 50 percent per year.
Và sự chú trọng của nó đối với việc xây dựng các hệ sinh thái tự nhiên dường như tốt cho tất cả mọi người. Có lẽ những giả định đơn giản này giải thích tại sao doanh số bán thực phẩm hữu cơ trên khắp châu Âu đang tăng ít nhất 50% mỗi năm.
Going organic sounds idyllic – but it’s native, too. Organic agriculture has its own suite of environmental costs, which can be worse than those of conventional farming, especially if it were to become the world norm.
Canh tác thuần tự nhiên nghe có vẻ dân dã - nhưng nó cũng có tính bản địa. Nông nghiệp hữu cơ cũng đi kèm với hàng tá cái giá phải đánh đổi về mặt môi trường, thậm chí nghiêm trọng hơn so với canh tác thông thường, đặc biệt nếu nó trở thành tiêu chuẩn thế giới.
But more fundamentally, the organic versus-chemical debate focuses on the wrong question.
Nhưng cơ bản hơn, cuộc tranh luận giữa hai phe hữu cơ và hóa học đang tập trung vào câu hỏi sai.
The issue isn’t what you put into a farm, but what you get out of it, both in terms of crop yields and pollutants, and what condition the farm is in when you’re done.
Vấn đề không phải là bạn đưa gì vào một trang trại, mà là bạn nhận được gì từ nó, cả về sản lượng cây trồng và chất gây ô nhiễm, và tình trạng của trang trại khi bạn hoàn thành.
Take chemical fertilisers, which deliver nitrogen, an essential plant nutrient, to crops along with some phosphorus and potassium. It is a mantra of organic farming that these fertilisers are unwholesome, and plant nutrients must come from natural sources.
Lấy phân bón hóa học, cùng với phốt pho và kali, các loại phân cung cấp nitơ, một chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng, làm ví dụ. Câu cửa miệng quen thuộc của phe nông nghiệp hữu cơ là những loại phân bón này thường độc hại và chất dinh dưỡng cho cây trồng phải đến từ các nguồn tự nhiên.
But in fact, the main environmental damage done by chemical fertilisers as opposed to any other kind is through greenhouse gasses-carbon dioxide from the fossil fuels used in their synthesis and nitrogen oxides released by their degradation.
Nhưng trên thực tế, thiệt hại môi trường chính do phân bón hóa học gây ra, trái ngược với bất kỳ loại nào khác, là thông qua khí nhà kính-carbon dioxide từ nhiên liệu hóa thạch được sử dụng trong quá trình tổng hợp và các oxit nitơ thải ra do sự phân hủy của chúng.
Excess nitrogen from chemical fertilisers can pollute groundwater, but so can excess nitrogen from organic manures.
Nitơ dư thừa từ phân bón hóa học có thể gây ô nhiễm nước ngầm, nhưng dư thừa nitơ từ phân hữu cơ cũng có thể gây ô nhiễm.
On the other hand, relying solely on chemical fertilisers to provide soil nutrients without doing other things to build healthy soil is damaging.
Mặt khác, chỉ dựa vào phân bón hóa học để cung cấp chất dinh dưỡng cho đất mà không sử dụng bất kì phương pháp nào khác để xây dựng đất lành mạnh là điều có hại.
Organic farmers don’t use chemical fertilisers, so they are very good at building soil fertility by working crop residues and manure into the soil, rotating grain with legumes that fix atmospheric nitrogen, and other techniques.
Nông dân canh tác theo phương thức hữu cơ không sử dụng phân bón hóa học, vì vậy họ rất giỏi trong việc tạo độ phì nhiêu cho đất bằng cách đưa các phần tàn dư của cây trồng và phân vào đất, luân canh ngũ cốc với các loại cây họ đậu để cố định nitơ trong không khí và các kỹ thuật khác.
This generates vital soil nutrients and also creates a soil that is richer in organic matter, so it retains better and is hospitable to the crop’s roots and creatures such as earthworms that help maintain soil fertility.
Điều này tạo ra các chất dinh dưỡng quan trọng cho đất và cũng tạo ra một loại đất giàu chất hữu cơ hơn, vì vậy nó giữ được chất dinh dưỡng tốt hơn và thân thiện với rễ cây trồng cũng như các sinh vật giúp duy trì độ phì nhiêu của đất, chẳng hạn giun đất.
Such soil also holds water better and therefore makes more efficient use of both rainfall and irrigation water. And organic matter ties up CO2 in the soil, helping to offset emissions from burning fossil fuels and reduce global warming.
Đất như vậy cũng giữ nước tốt hơn và do đó sử dụng hiệu quả hơn cả hai nguồn nước mưa và nước tưới. Và các chất hữu cơ liên kết với CO2 trong đất, giúp bù đắp lượng khí thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch và giảm sự nóng lên toàn cầu.
Advocates of organic farming like to point out that fields managed in this way can produce yields just as high as fields juiced up with synthetic fertilisers.
Những người ủng hộ nông nghiệp hữu cơ muốn chỉ ra rằng những cánh đồng được quản lý theo cách này có thể tạo ra năng suất cao ngang với những cánh đồng được tưới bằng phân bón tổng hợp.
For example, Bill Liebhardt, research manager at the Rodale Institute in Kutztown, Pennsylvania, recently compiled the results of such comparisons for corn, wheat, soybeans, and tomatoes in the US and found that the organic fields averaged between 94 and 100 percent of the yields of nearby conventional crops.
Ví dụ, Bill Liebhardt, giám đốc nghiên cứu tại Viện Rodale ở Kutztown, Pennsylvania, gần đây đã tổng hợp kết quả của những so sánh như vậy đối với ngô, lúa mì, đậu nành và cà chua ở Mỹ và nhận thấy rằng các cánh đồng hữu cơ trung bình từ 94 đến 100% năng suất của các loại cây trồng thông thường gần đó.
But this optimistic picture tells only half the story. Farmers can’t grow such crops every year if they want to maintain or build soil nutrients without synthetic fertilisers.
Nhưng bức tranh lạc quan này chỉ nói lên một nửa câu chuyện. Nông dân không thể trồng những loại cây này hàng năm nếu họ muốn duy trì hoặc tạo chất dinh dưỡng cho đất nếu không có phân bón tổng hợp.
They need to alternate with soil-building crops such as pasture grasses and legumes such as alfalfa. So in the long term, the yield of staple grains such as wheat, rice, and corn must go down. This is the biggest cost of organic farming.
Họ cần xen kẽ với các loại cây trồng cải tạo đất như cỏ đồng cỏ và cây họ đậu như cỏ linh lăng. Vì vậy, về lâu dài, sản lượng các loại ngũ cốc chủ yếu như lúa mì, gạo và ngô phải giảm. Đây là chi phí lớn nhất của nông nghiệp hữu cơ.
Vaclav Smil of the University of Manitoba in Winnipeg, Canada, estimates that if farmers worldwide gave up the 80 million tonnes of synthetic fertiliser they now use each year, total grain production would fall by at least half.
Vaclav Smil của Đại học Manitoba ở Winnipeg, Canada, ước tính rằng nếu nông dân trên toàn thế giới từ bỏ 80 triệu tấn phân bón tổng hợp mà họ hiện đang sử dụng mỗi năm, tổng sản lượng ngũ cốc sẽ giảm ít nhất một nửa.
Either farmer would have to double the amount of land they cultivate – at catastrophic cost to natural habitats – or billions of people would starve.
Người nông dân sẽ phải tăng gấp đôi diện tích đất mà họ canh tác - với cái giá phải trái thê thảm về môi trường sống tự nhiên - hoặc hàng tỷ người sẽ chết đói.
That doesn’t mean farmers couldn’t get by with less fertiliser. Technologically advanced farmers in wealthy countries, for instance, can now monitor their yields hectare by hectare, or even more finely, throughout a huge field.
Điều đó không có nghĩa là nông dân không thể sống được với ít phân bón hơn. Chẳng hạn, những người nông dân có công nghệ tiên tiến ở các nước giàu có giờ đây có thể theo dõi sản lượng của họ theo từng ha, hoặc thậm chí tinh vi hơn, trên khắp một cánh đồng rộng lớn.
They can then target their fertiliser to the parts of the field where it will do the most good, instead of responding to average conditions. This increases yield and decreases fertiliser use.
Sau đó, họ có thể nhắm mục tiêu phân bón của họ đến những phần ruộng mà nó sẽ phát triển tốt nhất, thay vì đáp ứng với các điều kiện trung bình. Điều này làm tăng năng suất và giảm lượng phân bón sử dụng.
Eventually, farmers may incorporate long-term weather forecasts into their planning as well, so that they can cut back on fertiliser use when the weather is likely to make harvests poor anyway, says Ron Olson, an agronomist with Cargill Fertilizer in Tampa, Florida.
Cuối cùng, nông dân cũng có thể kết hợp dự báo thời tiết dài hạn vào kế hoạch của họ, để họ có thể cắt giảm việc sử dụng phân bón khi thời tiết có khả năng gây ra thu hoạch kém, Ron Olson, một nhà nông học của Cargill Fertilizer ở Tampa, Florida cho biết.
Organic techniques certainly have their benefits, especially for poor farmers. But strict “organic agriculture”, which prohibits certain technologies and allows others, isn’t always better for the environment.
Các kỹ thuật hữu cơ chắc chắn có những lợi ích của chúng, đặc biệt là đối với nông dân nghèo. Nhưng “nông nghiệp hữu cơ” nghiêm ngặt, nông nghiệp mà cấm một số công nghệ nhất định và cho phép những công nghệ khác, không phải lúc nào cũng tốt hơn cho môi trường.
Take herbicides, for example.These can leach into waterways and poison both wildlife and people.
Lấy ví dụ như thuốc diệt cỏ. Những thứ này có thể ngấm vào đường nước và gây nhiễm độc cho cả động vật hoang dã và con người.
Just last month, researchers led by Tyrone Hayes at the University of California at Berkeley found that even low concentrations of atrazine, the most commonly used weedkiller in the US, can prevent frog tadpoles from developing properly..
Mới tháng trước, các nhà nghiên cứu do Tyrone Hayes tại Đại học California ở Berkeley đứng đầu đã phát hiện ra rằng ngay cả nồng độ thấp của atrazine, loại thuốc diệt cỏ được sử dụng phổ biến nhất ở Mỹ, cũng có thể ngăn cản nòng nọc ếch phát triển bình thường.

Từ vựng (4)

  • high-tech agriculture (haɪ) (tek) (ˈæɡ.rə.kʌl.tʃɚ) — nông nghiệp thao hướng công nghệ cao
  • ingenuity (ˌɪn.dʒəˈnjuː.ə.t̬i) — sự khéo léo
  • techno-optimists (ˈtek.noʊ) (ˈɑptəmɪsts) — người ủng hộ công nghệ
  • fertilisers and pesticides (fertilisers*) (ænd) (ˈpɛstəˌsaɪdz) — phân bón hóa học và thuốc trừ sâu