← Danh sách bài đọc
Bài 110

What are you laughing at?

Bạn đang cười gì thế?

We like to think that laughing is the height of human sophistication.
Chúng ta thích ví tiếng cười với sự tinh tế của con người.
Our big brains let us see the humour in a strategically positioned pun, an unexpected plot twist or a clever piece of wordplay.
Bộ não vĩ mô của chúng ta thấy được sự vui vẻ trong các trò chơi chữ có chiến lược, một tình tiết bất ngờ hay một đoạn chơi chữ thông minh.
But while joking and wit are uniquely human inventions, laughter certainly is not.
Nhưng trong khi trò đùa và sự dí dỏm là những phát minh độc nhất của con người, tiếng cười chắc chắn không nằm trong số đó.
Other creatures, including chimpanzees, gorillas and even rats, chuckle.
Các sinh vật khác, bao gồm tinh tinh, khỉ đột và cả chuột, đều cười khúc khích.
Obviously, they don’t crack up at Homer Simpson or titter at the boss’s dreadful jokes, but the fact that they laugh in the first place suggests that sniggers and chortles have been around for a lot longer than we have.
Hiển nhiên là chúng không phá lên cười khi xem Homer Simpson hay cố nén cười trước trò đùa kinh khủng của sếp, nhưng việc chúng biết cười ngay từ đầu gợi ý rằng tiếng cười khẩy và cười nắc nẻ đã tồn tại lâu hơn chúng ta rất nhiều.
It points the way to the origins of laughter, suggesting a much more practical purpose than you might think.
Điều này chỉ ra rằng nguồn gốc của tiếng cười, gợi ra một mục đích thiết thực hơn nhiều so với cái bạn nghĩ.
There is no doubt that laughing typical involves groups of people.
Không nghi ngờ gì khi tiếng cười liên quan đến nhiều nhóm người.
‘Laughter evolved as a signal to others – it almost disappears when we are alone,’ says Robert Provine, a neuroscientist at the University of Maryland.
“Tiếng cười tiến hóa là một dấu hiệu tới những người khác – nó gần như biến mất khi chúng ta ở một mình,” Robert Provine – chuyên gia về thần kinh tại trường Đại học Maryland chia sẻ.
Provine found that most laughter comes as a polite reaction to everyday remarks such as ‘see you later’, rather than anything particularly funny.
Provine tìm ra rằng hầu hết sự cười đáp lại là một cách hành xử lịch sự giống như nói "hẹn gặp lại" mỗi ngày, hơn là những gì thật sự buồn cười.
And the way we laugh depends on the company we’re keeping.
Và cách chúng ta cười còn phụ thuộc vào người đang đứng bên cạnh.
Men tend to laugh longer and harder when they are with other men, perhaps as a way of bonding.
Đàn ông thường cười lớn và lâu hơn khi họ ở cùng những người đàn ông khác, có lẽ như một cách để kết nối với nhau.
Women tend to laugh more and at a higher pitch when men are present, possibly indicating flirtation or even submission.
Phụ nữ thường cười nhiều hơn và cao hơn khi có mặt đàn ông, điều đó có thể chỉ sự tán tỉnh hoặc cả sự phục tùng.
To find the origins of laughter, Provine believes we need to look at the play.
Để tìm nguồn gốc của tiếng cười, Provine tin rằng chúng ta cần nhìn vào các trò đùa.
He points out that the masters of laughing are children, and nowhere is their talent more obvious than in the boisterous antics, and the original context plays,’ he says.
Ông ấy chỉ ra rằng bậc thầy những tiếng cười là trẻ em, và không nơi nào mà tài năng của chúng rõ ràng hơn là trong những trò hề huyên náo, và bối cảnh ban đầu đóng vai trò chính”, ông ấy nói.
Well-known primate watchers, including Dian Fossey and Jane Goodall, have long argued that chimps laugh while at play.
Dian Fossey và Jane Goodall là nhiều trong số các nhà quan sát linh trưởng nổi tiếng đã tranh luận rằng liệu tinh tinh có cười khi chơi đùa.
The sound they produce is known as a panting laugh.
Âm thanh mà chúng tạo ra được biết đến như là tiếng cười hổn hển.
It seems obvious when you watch their behavior – they even have the same ticklish spots as we do.
Điều đó dễ trông thấy khi bạn quan sát hành vi của chúng – chúng thậm chí có những chỗ nhột giống như chúng ta.
But remove the context, and the parallel between human laughter and a chimp’s characteristic pant laugh is not so clear.
Nhưng nếu loại bỏ ngữ cảnh, thì sự so sánh giữa tiếng cười của con người và tiếng cười hổn hển đặc trưng của loài tinh tinh không quá rõ ràng.
When Provine played a tape of the pant laughs to 119 of his students, for example, only two guessed correctly what it was.
Ví dụ, khi Provine phát một đoạn băng về những tiếng cười hổn hển cho 119 học sinh của mình, chỉ có 2 người đoán đúng nó là gì.
These findings underline how chimp and human laughter vary.
Những phát hiện này nhấn mạnh tiếng cười của con người và tinh tinh khác nhau như thế nào.
When we laugh the sound is usually produced by chopping up a single exhalation into a series of shorter with one sound produced on each inward and outward breath.
Khi chúng ta cười, âm thanh thường được tạo ra bằng cách “cắt nhỏ” một lần thở thành một chuỗi ngắn hơn với từng âm thanh được tạo ra trên mỗi hơi thở vào và ra.
The question is: does this pant laughter have the same source as our own laughter?
Câu hỏi chính là: liệu tiếng cười hổn hển này có cùng nguồn gốc với tiếng cười của chính chúng ta không?
New research lends weight to the idea that it does.
Nghiên cứu mới càng chứng minh là nó có.
The findings come from Elke Zimmerman, head of the Institute for Zoology in Germany, who compared the sounds made by babies and chimpanzees in response to tickling during the first year of their life.
Phát hiện này đến từ Elke Zimmerman, người đúng đầu Viện Động vật học ở Đức, người đã so sánh những âm thanh do trẻ sơ sinh và tinh tinh phát ra khi bị cù trong năm đầu đời của chúng.
Using sound spectrographs to reveal the pitch and intensity of vocalizations, she discovered that chimp and human baby laughter follow broadly the same pattern.
Bằng cách sử dụng máy quang phổ âm thanh để phát hiện cao độ và cường độ của giọng nói, cô phát hiện ra rằng tiếng cười của tinh tinh và con người nhìn chung là giống nhau.
Zimmerman believes the closeness of baby laughter to chimp laughter supports the idea that laughter was around long before humans arrived on the scene.
Zimmerman tin rằng sự gần gũi của tiếng cười trẻ em với tiếng cười tinh tinh chứng minh cho ý tưởng rằng tiếng cười đã tồn tại rất lâu trước con người.
What started simply as a modification of breathing associated with enjoyable and playful interactions has acquired a symbolic meaning as an indicator of pleasure.
Điều bắt đầu như là một sự biến đổi nhịp thở kết hợp với những tương tác thú vị và vui vẻ đã mang một ý nghĩa tượng trưng như một dấu hiệu của niềm vui.
Pinpointing when laughter developed is another matter.
Xác định thời điểm tiếng cười phát triển lại là một vấn đề khác.
Humans and chimps share a common ancestor that lived perhaps 8 million years ago, but animals might have been laughing long before that.
Con người và tinh tinh có chung tổ tiên sống cách đây gần 8 triệu năm, nhưng động vật có thể đã biết cười từ rất lâu trước đó.
More distantly related primates, including gorillas, laugh, and anecdotal evidence suggests that other social mammals may do too.
Các loài linh trưởng có quan hệ họ hàng xa hơn, bao gồm khỉ đột cũng cười, và các bằng chứng có tính chất giai thoại gợi ý rằng các loài động vật có vú sống theo tổ chức xã hội khác cũng vậy.
Scientists are currently testing such stories with a comparative analysis of just how common laughter is among animals.
Các nhà khoa học hiện đang thử nghiệm những câu chuyện như vậy với một phân tích so sánh về độ phổ biến của tiếng cười giữa các loài động vật.
So far, though, the most compelling evidence for laughter beyond primates comes from research done by Jaak Panksepp from Bowling Green State University, Ohio, into the ultrasonic chirps produced by rats during play and in response to tickling.
Tuy nhiên, cho đến nay, bằng chứng thuyết phục nhất về tiếng cười ngoài động vật linh trưởng đến từ một nghiên cứu thực hiện bởi Jaak Panksepp từ Đại học Bowling Green State ở Ohio, về tiếng kêu siêu âm do chuột tạo ra khi chơi đùa và khi phản ứng khi bị cù.
All this still doesn’t answer the question of why we laugh at all.
Tất cả những điều trên vẫn không trả lời được câu hỏi tại sao chúng ta lại cười.
One idea is that laughter and tickling originated as a way of sealing the relationship between mother and child.
Một ý kiến cho rằng tiếng cười và việc cù nhau bắt nguồn như một cách để gắn kết mối quan hệ giữa mẹ và con.
Another is that the reflex response to tickling is protective, alerting us to the presence of crawling creatures that might harm us or compelling us to defend the parts of our bodies that are most vulnerable in hand-to-hand combat.
Một ý kiến khác thì cho rằng phản xạ khi bị cù là sự bảo vệ, báo động cho chúng ta về sự hiện diện của các sinh vật trườn bò có thể gây hại cho chúng ta hoặc thúc ép chúng ta phải bảo vệ những bộ phận dễ bị tổn thương nhất trên cơ thể khi chiến đấu tay đôi.
But the idea that has gained most popularity in recent years is that laughter in response to tickling is a way for two individuals to signal and test their trust in one another.
Nhưng ý tưởng đã trở nên phổ biến nhất trong những năm gần đây cho rằng tiếng cười được phản ứng lại khi bị cù là một cách để hai cá nhân báo hiệu và kiểm tra sự tin tưởng của nhau.
This hypothesis starts from the observation that although a little tickle can be enjoyable if it goes on too long it can be torture.
Giả thuyết này bắt đầu từ sự quan sát rằng một chút nhột nhột có thể thú vị, nhưng nếu diễn ra quá lâu thì đây là một cực hình.
By engaging in a bout of tickling, we put ourselves at the mercy of another individual, and laughing is a signal that we laughter is what makes it a reliable signal of trust according to Tom Flamson, a laughter researcher at the University of California, Los Angeles.
Theo như Tom Flamson, một nhà nghiên cứu tiếng cười ở Đại học California, Los Angeles cho rằng bằng cách để cho người khác cù, chúng ta đặt niềm tin vào lòng tốt của người khác, và tiếng cười trở thành một tín hiệu rõ ràng của sự tin tưởng.
‘Even in rats, laughter, tickle, play and trust are linked.
Ngay cả ở loài chuột, tiếng cười, sự cù lần, vui chơi và sự tin tưởng đều có mối liên hệ với nhau.
Rats chirp a lot when they play,’ says Flamson.
“Chuột kêu chiêm chiếp rất nhiều khi chúng chơi”, Flamson nói.
‘These chirps can be aroused by tickling.
“Những tiếng chiêm chiếp này có thể được kích thích bằng cách cù.
And they get bonded to us as a result, which certainly seems like a show of trust.’
Và kết quả là chúng gắn bó với chúng ta, điều mà chắc chắn là sự thể hiện của lòng tin.
We’ll never know which animal laughed the first laugh, or why.
Chúng ta sẽ không bao giờ biết loài động vật nào cười đầu tiên, cũng như tại sao.
But we can be sure it wasn’t in response to a prehistoric joke.
Nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng nó không phải vì một trò đùa thời tiền sử.
The funny thing is that while the origins of laughter are probably quite serious, we owe human laughter and our language-based humor to the same unique skill.
Điều thú vị là trong khi nguồn gốc của tiếng cười có thể khá khô khan, chúng ta lại sở hữu tiếng cười của con người và cảm nhận sự hài hước qua ngôn ngữ là cùng một kĩ năng độc nhất.
While other animals pant, we alone can control our breath well enough to produce the sound of laughter.
Trong khi các loài động vật khác thở hổn hển, thì chỉ chúng ta mới có thể kiểm soát hơi thở của mình đủ tốt để tạo ra âm thanh của tiếng cười.
Without that control, there would also be no speech – and no jokes to endure.
Nếu không có sự kiểm soát đó thì cũng sẽ không có bài phát biểu nào– và không có trò đùa nào để chịu đựng cả.

Từ vựng (11)

  • sophistication (səˌfɪs.təˈkeɪ.ʃən) — tinh hoa, tinh tế
  • crack up (kræk) (ʌp) — bật cười
  • snigger (ˈsnɪɡ.ɚ) — cười khẩy
  • chortle (ˈtʃɔːr.t̬əl) — cười nắc nẻ
  • neuroscientist (ˌnʊr.oʊˈsaɪ.ən.tɪst) — nhà khoa học về thần kinh
  • boisterous (ˈbɔɪ.stɚ.əs) — huyên náo
  • ticklish spots (ˈtɪk.əl.ɪʃ) (ˈspɑts) — chỗ nhột
  • exhalation (ˌeks.həˈleɪ.ʃən) — sự thở ra
  • sound spectrographs (saʊnd) (spectrographs*) — máy quang phổ âm thanh
  • anecdotal evidence (ˌæn.ɪkˈdoʊ.t̬əl) (ˈev.ə.dəns) — chứng cứ giai thoại
  • prehistoric (ˌpriː.hɪˈstɔːr.ɪk) — tiền sử