← Danh sách bài đọc
Bài 111
Multitasking Debate
Tranh cãi xoay quanh việc đa nhiệm
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Can we do them at the same time?
Liệu rằng chúng ta có thể làm nhiều việc cùng lúc?
Talking on the phone while driving isn’t the only situation where we’re worse at multitasking than we might like to think we are.
Nói chuyện điện thoại khi đang lái xe không phải là tình huống duy nhất khiến chúng ta làm nhiều việc cùng lúc kém hơn những gì chúng ta tưởng.
New studies have identified a bottleneck in our brains that some say means we are fundamentally incapable of true multitasking.
Các nghiên cứu mới đã tìm ra một nút thắt cổ chai trong não của chúng ta mà một số người cho rằng có nghĩa là chúng ta về cơ bản không có khả năng làm việc đa nhiệm thực sự.
If experimental findings reflect real-world performance, people who think they are multitasking are probably just underperforming in all – or at best, all but one – of their parallel pursuits.
Nếu các thí nghiệm nghiên cứu phản ánh hiệu suất thật sự, thì những người nghĩ rằng mình có thể làm việc đa nhiệm thực chất là đang làm tất cả các việc đều kém hiệu quả- hoặc tối đa thì làm tốt trong tất cả nhưng trừ một việc- trong số các công việc mà họ làm song song
Practice might improve your performance, but you will never be as good as when focusing on one task at a time.
Thực hành có lẽ sẽ cải thiện hiệu suất của bạn, nhưng sẽ chẳng bao giờ tốt như khi bạn tập trung vào một việc tại một thời điểm xác định
The problem, according to René Marois, a psychologist at Vanderbilt University in Nashville, Tennessee, is that there’s a sticking point in the brain.
Vấn đề này, theo như René Marois, một nhà tâm lý học tại Đại học Vanderbilt ở Nashville, Tennessee, là có một trở ngại trong bộ não.
To demonstrate this, Marois devised an experiment to locate it.
Để minh hoạ điều này, Marois đã nghĩ ra một thí nghiệm để xác định vị trí của nó.
Volunteers watch a screen and when a particular image appears, a red circle, say, they have to press a key with their index finger. Different coloured circles require presses from different fingers.
Các tình nguyện viên coi một màn hình và khi một hình ảnh xuất hiện, một vòng tròn đỏ, các nhà khoa học nói, họ phải nhấn một phím với ngón trỏ của họ. Các vòng tròn mang màu khác nhau đòi hỏi nhiều hành động nhấn từ các ngón tay khác nhau.
Typical response time is about half a second, and the volunteers quickly reach their peak performance.
Khoảng thời gian phản hồi thường thấy là khoảng nửa giây và các tình nguyện viên phải nhanh chóng đạt mức cao nhất ở hiệu suất của họ.
Then they learn to listen to different recordings and respond by making a specific sound.
Họ học cách nghe các ghi âm khác nhau và phản hồi lại bằng cách làm một âm thanh cụ thể.
For instance, when they hear a bird chirp, they have to say “ba”; an electronic sound should elicit a “ko”, and so on.
Ví dụ, khi họ nghe tiếng chim kêu, họ phải nói “ba”, nghe một âm thanh điện tử thì đáp lại từ “ko” và cứ thế.
Again, no problem
Một lần nữa, chưa có vấn đề gì xảy ra.
A normal person can do that in about half a second, with almost no effort.
Một người bình thường có thể làm điều đó trong khoảng nửa giây mà chẳng tốn chút công lực nào.
The trouble comes when Marois shows the volunteers an image, and then almost immediately plays them a sound.
Vấn đề ập đến khi Marois cho các tình nguyện viên xem một bức ảnh và gần như ngay sau đó cho họ nghe một âm thanh.
Now they’re flummoxed.
Giờ thì họ bối rối rồi.
“If you show an image and play a sound at the same time, one task is postponed,” he says.
“Nếu cứ cho họ xem một bức ảnh và phát ra âm thanh cùng lúc, một việc sẽ bị hoãn lại”-một tình nguyện viên nói.
In fact, if the second task is introduced within the half-second or so it takes to process and react to the first, it will simply be delayed until the first one is done.
Thực tế, nếu như việc thứ hai được giới thiệu trong vòng nửa giây hoặc lâu hơn để xử lý và phản ứng với nhiệm vụ đầu tiên, việc đó đơn giản sẽ bị hoãn lại cho tới khi nhiệm vụ trước đó được hoàn thành.
The largest dual-task delays occur when the two tasks are presented simultaneously; delays progressively shorten as the interval between presenting the tasks lengthens.
Sự chậm trễ nhiệm vụ kép lớn nhất xảy ra khi hai tác vụ được trình bày đồng thời; sự chậm trễ dần dần rút ngắn khi khoảng thời gian giữa việc trình bày các nhiệm vụ dài ra.
There are at least three points where we seem to get stuck, says Marois.
Marois nói, có ít nhất ba điểm mà chúng ta có vẻ gặp khó khăn.
The first is in simply identifying what we’re looking at.
Đầu tiên là ta chỉ đơn giản xác định những gì chúng ta đang xem.
This can take a few tenths of a second, during which time we are not able to see and recognise a second item.
Quá trình này có thể mất vài phần mười giây, trong thời gian đó chúng ta không thể nhìn và nhận ra mục thứ hai.
This limitation is known as the “attentional blink”: experiments have shown that if you’re watching out for a particular event and a second one shows up unexpectedly any time within this crucial window of concentration, it may register in your visual cortex but you will be unable to act upon it.
Hạn chế này được gọi là “chớp mắt không chú ý”: các thí nghiệm đã chỉ ra rằng nếu bạn đang theo dõi một sự kiện cụ thể và sự kiện thứ hai xuất hiện bất ngờ bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian tập trung quan trọng này, nó có thể ghi nhận trong vỏ não thị giác của bạn nhưng bạn sẽ không thể hành động theo nó.
Interestingly, if you don’t expect the first event, you have no trouble to respond to the second.
Điều thú vị là nếu bạn không mong chờ sự kiện đầu tiên, bạn sẽ không gặp khó khăn gì khi phản hồi sự kiện thứ hai.
What exactly causes the attentional blink is still a matter for debate.
Nguyên nhân chính xác gây ra hiện tượng chớp mắt không chú ý là gì vẫn còn là một vấn đề tranh luận.
A second limitation is in our short-term visual memory. It’s estimated that we can keep track of about four items at a time, fewer if they are complex.
Hạn chế thứ hai là trí nhớ hình ảnh ngắn hạn của chúng ta. Ước tính rằng chúng ta có thể theo dõi khoảng bốn sự vật cùng một lúc, và ít hơn nếu chúng phức tạp.
This capacity shortage is thought to explain, in part, our astonishing inability to detect even huge changes in scenes that are otherwise identical, so-called “change blindness”.
Sự thiếu hụt khả năng này được cho là giải thích một phần nào đó, việc chúng ta không thể phát hiện ra những thay đổi lớn thậm chí rất lớn trong những cảnh giống hệt nhau, được gọi là “mù thoáng qua”.
Show people pairs of near-identical photos – say, aircraft engines in one picture have disappeared in the other – and they will fail to spot the differences.
Cho mọi người xem các cặp ảnh gần giống hệt nhau - ví dụ, động cơ máy bay trong bức ảnh này đã biến mất trong bức ảnh kia - và họ sẽ không phát hiện ra sự khác biệt.
Here again, though, there is disagreement about what the essential limiting factor really is.
Tuy nhiên, ở đây lại có sự bất đồng về yếu tố giới hạn chủ yếu thực sự là gì.
Does it come down to a dearth of storage capacity, or is it about how much attention a viewer is paying?
Chung quy là bị cạn kiệt dung lượng lưu trữ hay là về mức độ chú ý của người xem?
A third limitation is that choosing a response to a stimulus – braking when you see a child in the road, for instance, or replying when your mother tells you over the phone that she’s thinking of leaving your dad – also takes brainpower.
Hạn chế thứ ba là việc lựa chọn phản ứng với một kích thích - ví dụ: nhấn phanh khi bạn nhìn thấy một đứa trẻ trên đường, hoặc trả lời khi mẹ bạn nói với bạn qua điện thoại rằng mẹ đang nghĩ đến việc rời xa bố bạn - cũng đòi hỏi trí tuệ.
Selecting a response to one of these things will delay by some tenths of a second your ability to respond to the other. This is called the “response selection bottleneck” theory, first proposed in 1952.
Việc lựa chọn phản hồi cho một trong những điều này sẽ làm chậm trễ một phần mười giây khả năng phản hồi của bạn với điều kia. Đây được gọi là lý thuyết “tắc nghẽn lựa chọn phản ứng”, được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1952.
But David Meyer, a psychologist at the University of Michigan, Ann Arbor, doesn’t buy the bottleneck idea.
Nhưng David Meyer, nhà tâm lý học tại Đại học Michigan, Ann Arbor, không đồng tình ý tưởng này.
He thinks dual-task interference is just evidence of a strategy used by the brain to prioritise multiple activities. Meyer is known as something of an optimist by his peers.
Ông cho rằng sự can thiệp của hai nhiệm vụ chỉ là bằng chứng về một chiến lược được bộ não sử dụng để ưu tiên nhiều hoạt động. Meyer được các đồng nghiệp của mình xem như là một người lạc quan.
He has written papers with titles like “Virtually perfect time-sharing in dual-task performance: Uncorking the central cognitive bottleneck”.
Ông ấy đã viết các bài báo với tiêu đề như “Phân chia thời gian gần như hoàn hảo trong thực hiện nhiệm vụ kép: Giải quyết nút thắt trong nhận thức trung tâm”.
His experiments have shown that with enough practice – at least 2000 tries – some people can execute two tasks simultaneously as competently as if they were doing them one after the other.
Các thí nghiệm của ông đã chỉ ra rằng thực hành đủ - ít nhất 2000 lần thử - một số người có thể thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ một cách thành thạo như thể họ đang làm từng cái một.
He suggests that there is a central cognitive processor that coordinates all this and, what’s more, he thinks it used discretion: sometimes it chooses to delay one task while completing another.
Ông ấy đề nghị rằng có một bộ xử lý nhận thức trung tâm điều phối tất cả những điều này và hơn thế nữa, ông cho rằng nó được sử dụng theo ý muốn: đôi khi nó chọn trì hoãn một nhiệm vụ trong khi hoàn thành một nhiệm vụ khác.
Marois agrees that practice can sometimes erase interference effects.
Marois đồng ý rằng thực hành đôi khi có thể xóa bỏ các hiệu ứng gây nhiễu.
He has found that with just 1 hour of practice each day for two weeks, volunteers show a huge improvement at managing both his tasks at once.
Ông đã phát hiện ra rằng chỉ với 1 giờ luyện tập mỗi ngày trong hai tuần, các tình nguyện viên cho thấy sự cải thiện đáng kể trong việc quản lý cả hai nhiệm vụ của mình cùng một lúc.
Where he disagrees with Meyer is in what the brain is doing to achieve this.
Điểm mà anh ta không đồng ý với Meyer nằm ở việc bộ não đang làm gì để đạt được điều này.
Marois speculates that practice might give us the chance to find less congested circuits to execute a task – rather like finding trusty back streets to avoid heavy traffic on main roads – effectively making our response to the task subconscious.
Marois suy đoán rằng việc thực hành có thể cho chúng ta cơ hội tìm thấy các mạch ít tắc nghẽn hơn để thực hiện một nhiệm vụ - thay vì tìm những con đường đáng tin cậy phía sau để tránh giao thông đông đúc trên các con đường chính - khiến chúng ta phản ứng với nhiệm vụ trong tiềm thức một cách hiệu quả.
After all, there are plenty of examples of subconscious multitasking that most of us routinely manage: walking and talking, eating and reading, watching TV and folding the laundry.
Rốt cuộc, có rất nhiều ví dụ về đa nhiệm trong tiềm thức mà hầu hết chúng ta thường quản lý: đi bộ và nói chuyện, ăn và đọc, xem TV và gấp quần áo.
It probably comes as no surprise that, generally speaking, we get worse at multitasking as we age.
Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi nói chung, chúng ta làm việc đa nhiệm kém hơn khi chúng ta già đi.
According to Art Kramer at the University of Illinois at Urbana- Champaign, who studies how ageing affects our cognitive abilities, we peak in our 20s.
Theo Art Kramer tại Đại học Illinois tại Urbana- Champaign, nhànghiên cứu mức độ ảnh hưởng của lão hóa đến khả năng nhận thức của chúng ta, thì con người đạt đỉnh cao nhất ở độ tuổi 20.
Though the decline is slow through our 30s and on into our 50s, it is there; and after 55, it becomes more precipitous.
Mặc dù sự suy giảm diễn ra chậm trong độ tuổi 30 và đến tuổi 50, nhưng nó vẫn ở đó; và sau 55, nó trở nên nghiêm trọng hơn.
In one study, he and his colleagues had both young and old participants do a simulated driving task while carrying on a conversation.
Trong một nghiên cứu, ông và các đồng nghiệp đã cho cả người già và trẻ tham gia thực hiện một nhiệm vụ lái xe mô phỏng trong khi tiếp tục một cuộc trò chuyện.
He found that while young drivers tended to miss background changes, older drivers failed to notice things that were highly relevant.
Ông phát hiện ra rằng trong khi những người lái xe trẻ tuổi có xu hướng bỏ lỡ những thay đổi nền, thì những người lái xe lớn tuổi lại không nhận thấy những điều có liên quan nhiều.
Likewise, older subjects had more trouble paying attention to the more important parts of a scene than young drivers.
Tương tự như vậy, những đối tượng lớn tuổi gặp khó khăn hơn khi chú ý đến những phần quan trọng hơn của khung cảnh so với những người lái xe trẻ tuổi.
It’s not all bad news for over-55s, though.
Tuy nhiên, đó không phải là tất cả tin xấu đối với những người trên 55 tuổi.
Kramer also found that older people can benefit from the practice.
Kramer cũng phát hiện ra rằng những người lớn tuổi có thể hưởng lợi từ việc tập luyện.
Not only did they learn to perform better, but brain scans also showed that underlying that improvement was a change in the way their brains become active.
Họ không chỉ học cách hoạt động tốt hơn mà việc quét não còn cho thấy rằng cơ sở của sự cải thiện đó là sự thay đổi trong cách não của họ trở nên năng động hơn.
Từ vựng (9)
- sticking point (ˈstɪkɪŋ) (pɔɪnt) — mấu chốt, trở ngại quan trọng
- devise (dɪˈvaɪz) — nghĩ ra
- index finger (ˈɪn.deks) (ˈfɪŋ.ɡɚ) — ngón trỏ
- flummoxed (ˈflʌm.əkst) — bối rối
- buy (baɪ) — đồng tình
- precipitous (priːˈsɪp.ə.t̬əs) — nghiêm trọng
- underperform (ˈəndɝpɝˌfɔɹm) — trở nên kém hiệu quả
- bottleneck (ˈbɑː.t̬əl.nek) — trở ngại
- crippling (ˈkrɪp.əl.ɪŋ) — biến dạng, mất ổn định