← Danh sách bài đọc
Bài 114
Roller Coaster
Tàu lượn siêu tốc
Nguồn: https://ieltssongngu.com
600 years ago, roller coaster pioneers never would have imagined the advancements that have been made to create the roller coasters of today.
600 năm trước, những người tiên phong về tàu lượn siêu tốc không bao giờ tưởng tượng ra những cải tiến mà tạo nên tàu lượn siêu tốc ngày nay.
The tallest and fastest roller coaster in the world is the Kingda Ka, a coaster in New Jersey that launches its passengers from zero to 128 miles per hour in 3.5 seconds (most sports cars take over four seconds to get to just 60 miles per hour).
Tàu lượn siêu tốc cao và nhanh nhất thế giới là Kingda Ka, nằm ở New Jersey, có vận tốc chở khách lên đến 128 dặm một giờ chỉ trong vòng 3.5 giây kể từ lúc bắt đầu khởi hành (hầu hết các loại xe hơi thể thao mất bốn giây mới đạt đến vận tốc 60 dặm một giờ).
It then heaves its riders skyward at a 90-degree angle (straight up) until it reaches a height of 456 feet, over one and a half football fields, above the ground, before dropping another 418 feet (Coaster Grotto “Kingda Ka”).
Rồi nó đột ngột nhấc người chơi tung lên trời với một góc 90 độ (thẳng đứng), cho đến khi nó lên đến độ cao 456 feet so với mặt đất, vượt qua diện tích một sân rưỡi bóng đá, sau đó lại rơi xuống từ độ cao 418 feet (Tàu lượn Grotto “Kingda Ka”- Grotto mang nghĩa là hang động).
With that said, roller coasters are about more than just speed and height, they are about the creativity of the designers that build them, each coaster having its own unique way of producing intense thrills at a lesser risk than the average car ride.
Tuy nhiên, tàu lượn siêu tốc không chỉ bao gồm tốc độ và độ cao, chúng còn là sự sáng tạo của những nhà thiết kế đã xây dựng chúng, mỗi chiếc tàu lượn đều có một cách thức riêng biệt để tạo ra không khí giật gân cực độ, với rủi ro thấp hơn việc lái xe hơi nói chung.
Roller coasters have evolved drastically over the years, from their primitive beginnings as Russian ice slides, to the metal monsters of today.
Tàu lượn siêu tốc đã cải tiến mạnh mẽ qua nhiều năm, từ loại hình thô sơ ban đầu là xe trượt băng Nga, cho đến quái vật kim loại ngày nay.
Their combination of creativity and structural elements make them one of the purest forms of architecture.
Sự kết hợp giữa sáng tạo và các đơn vị kết cấu riêng lẻ khiến chúng trở thành một trong những hình mẫu kiến trúc đặc trưng nhất.
At first glance, a roller coaster is something like a passenger train.
Khi liếc qua, tàu lượn siêu tốc là một thứ giống như tàu hỏa chở khách vậy.
It consists of a series of connected cars that move on tracks.
Nó bao gồm một chuỗi những toa tàu được kết nối với nhau mà di chuyển trên đường ray.
But unlike a passenger train, a roller coaster has no engine or power source of its own.
Nhưng không giống như tàu hỏa chở khách, tàu lượn siêu tốc không có động cơ hay nguồn cấp năng lượng.
For most of the ride, the train is moved by gravity and momentum.
Trong hầu hết các chuyến đi, tàu lượn siêu tốc di chuyển nhờ trọng lực và quán tính.
To build up this momentum, you need to get the train to the top of the first hill or give it a powerful launch.
Để có được quán tính, bạn cần đưa đoàn tàu lên đỉnh của đoạn dốc đầu tiên, hoặc truyền cho đoàn tàu một lực khởi động thật mạnh.
The traditional lifting mechanism is a long length of chain running up the hill under the track.
cơ cấu nâng tải theo truyền thống là một xích nâng chạy dọc lên đoạn dốc, nằm dưới đường ray tàu hỏa.
The chain is fastened in a loop, which is wound around a gear at the top of the hill and another one at the bottom of the hill.
sợi xích được bám chặt trong một cái vòng quấn quanh bánh răng ở trên đỉnh con dốc, và một cái nữa ở đáy của dốc
The gear at the bottom of the hill is turned by a simple motor.
Bánh răng dưới đáy quay được nhờ một động cơ đơn giản.
This turns the chain loop so that it continually moves up the hill like a long conveyer belt.
Cái này sẽ làm quay vòng xích sao cho nó có thể leo lên đến đỉnh một cách liên tục như một băng chuyền dài.
The coaster cars grip onto the chain with several chain dogs, sturdy hinged hooks.
Những toa tàu bám chặt vào phía trên sợi xích với một hàng thanh móc, có khớp nối để neo đậu chắc chắn.
When the train rolls to the bottom of the hill, the dogs catches onto the chain links.
Khi đoàn tàu lộn vòng xuống đáy của dốc, các thanh móc bấu lên trên sợi xích.
Once the chain dog is hooked, the chain simply pulls the train to the top of the hill.
Một khi thanh móc và sợi xích được kết nối với nhau, chúng sẽ đẩy đoàn tàu leo lên đến đỉnh con dốc dễ dàng.
At the summit, the chain dog is released and the train starts its descent down the hill.
Ở trên đỉnh dốc, sợi xích được thả ra khỏi thanh móc, và đoàn tàu bắt đầu chạy dần xuống dốc.
Roller coasters have a long, fascinating history.
Tàu lượn siêu tốc có một lịch sử dài, đầy thú vị.
The direct ancestors of roller coasters were monumental ice slides – long, steep wooden-slides covered in ice, some as high as 70 feet – that were popular in Russia in the 16th and 17th centuries.
Khởi nguồn thật sự của tàu lượn siêu tốc là những đường trượt băng đồ sộ - dài, dốc đứng, được làm bằng gỗ và bao phủ bởi băng tuyết, có đường trượt cao đến 70 feet- chúng rất phổ biến ở Nga vào thế kỉ 16 và 17.
Riders shot down the slope in sleds made out of wood or blocks of ice, crash-landing in a sand pile.
Người chơi lao xuống dốc trên những chiếc xe kéo trượt tuyết được làm từ gỗ hoặc khối băng, và nhảy xuống một đống cát.
Coaster historians diverge on the exact evolution of these ice slides into actual rolling carts.
Các nhà sử học về tàu lượn đã tách biệt sự cải tiến của những đường trượt này thành xe đẩy có bánh lăn
The most widespread account is that a few entrepreneurial Frenchmen imported the ice slide idea to France.
Thông tin được phổ biến rộng rãi nhất là khi một vài doanh nhân Pháp đã du nhập ý tưởng đường trượt tuyết đến Pháp.
The warmer climate of France tended to melt the ice, so the French started building waxed slides instead, eventually adding wheels to the sleds.
Khí hậu ấm hơn ở Pháp làm băng tan chảy, nên người Pháp bắt đầu làm ván sáp để thay thế, cuối cùng họ cũng thêm bánh xe vào xe trượt kéo.
In 1817, the Russes a Belleville (Russian Mountains of Belleville) became the first roller coaster where the train was attached to the track (in this case, the train axle fit into a carved groove).
Vào năm 1817,the Russes a Belleville (dãy núi Nga ở thành phố Belleville) trở thành tàu lượn siêu tốc đầu tiên được gắn vào đường ray (trong trường hợp này, trục của tàu được xếp khít vào phần rãnh được đục trên đường ray.)
The French continued to expand on this idea, coming up with more complex track layouts, with multiple cars and all sorts of twists and turns.
Người Pháp tiếp tục triển khai ý tưởng, họ đạt tới những nhiều cách xây dựng hình dáng đường ray phức tạp hơn với tàu được chia ra làm nhiều toa, thêm đủ kiểu dáng xoắn, lượn vòng.
In comparison to the world’s first roller coaster, there is perhaps an even greater debate over what was America’s first true coaster.
so với tàu lượn siêu tốc đầu tiên trên thế giới, cuộc tranh luận gay gắt hơn có lẽ là chuyện đâu là tàu lượn siêu tốc đầu tiên ở Mĩ.
Many will say that it is Pennsylvania’s own Maunch Chunk-Summit Hill and Switch Back Railroad.
Nhiều người sẽ nói rằng đó là "đồi Maunch Chunk-Summit và đường ray Switch Back” tại Pennsylvania.
The Maunch Chunk-Summit Hill and Switch Back Railroad was originally America’s second railroad, and considered my many to be the greatest coaster of all time.
“Đồi Maunch Chunk-Summit và đường ray Switch Back” vốn là đường sắt thứ hai tại Mĩ, và được nhiều người coi là tuyến đường trượt hoành tráng nhất mọi thời đại.
Located in the Lehigh valley, it was originally used to transport coal from the top of Mount Pisgah to the bottom of Mount Jefferson, until Josiah White, a mining entrepreneur, had the idea of turning it into a part-time thrill ride.
Nằm tại thung lũng Lehigh, nó vốn được dùng để vận chuyển than đá từ đỉnh núi Pisgah đến chân núi Jefferson, mãi đến khi Josiah White, một doanh nhân khai thác mỏ, có ý tưởng biến nó trở thành một tuyến đường đi dạo rùng rợn vào một nửa thời gian trong ngày.
Because of its immediate popularity, it soon became strictly a passenger train.
Bởi vì tuyến đường trở nên nổi tiếng ngay sau đó, nên nó đã được hoàn toàn sử dụng để phục vụ tàu trở khách.
A steam engine would haul passengers to the top of the mountain, before letting them coast back down, with speeds rumored to reach 100 miles per hour!
Một động cơ hơi nước được dùng để chở hành khách lên đỉnh núi, rồi cho họ trượt xuống dốc trở lại, với vận tốc được đồn đại lên đến 100 dặm một giờ!
The reason that it was called a switch back railroad, a switch back track was located at the top – where the steam engine would let the riders coast back down.
Lí do nó được gọi là tuyến đường ray “quay trở lại”, là vì có một đoạn đường ray quay ngược lại trên đỉnh núi, nơi có động cơ hơi nước cho hành khách trượt xuống
This type of track featured a dead end where the steam engine would detach its cars, allowing riders to coast down backwards.
đường ray này đặc trưng bởi một điểm cụt, nơi mà động cơ hơi nước sẽ tách khỏi toa tàu, cho phép hành khách trượt xuống trở lại.
The railway went through a couple of minor track changes and name changes over the years, but managed to last from 1829 to 1937, over 100 years.
Tuyến đường đã trải qua một vài lần thay đổi các đoạn đường nhỏ, tên cũng thay đổi qua các năm, nhưng nó đã trụ lại được từ 1829 đến 1937, hơn 100 năm.
The coaster craze in America was just starting to build.
niềm say mê với tàu lượn ở Mĩ chỉ mới bắt đầu được gây dựng.
The creation of the Switch Back Railway, by La Marcus Thompson, gave roller coasters national attention.
Việc La Marcus Thompson xây dựng Switch Back Railway đã giúp tàu lượn siêu tốc có được sự chú ý của cả nước.
Originally built at New York’s Coney Island in 1884, Switch Back Railways began popping up all over the country.
Vốn được xây dựng tại đảo Coney vào năm 1884, Switch Back Railways bắt đầu tạo ra tiếng vang lớn trên khắp đất nước.
The popularity of these rides may puzzle the modern-day thrill seeker, due to the mild rides they gave in comparison to the modern-day roller coaster.
Sự phổ biến của những chuyến đi tại nơi đây có thể làm những người tìm kiếm sự mạo hiểm ở thế giới hiện đại cảm thấy lúng túng, bởi những cuộc dạo chơi nơi đây có thể sánh ngang với tàu lượn siêu tốc thời hiện đại.
Guests would pay a nickel to wait in line up to five hours just to go down a pair of side-by-side tracks with gradual hills that vehicles coasted down at a top speed around six miles per hour.
Hành khách sẽ trả một nickel, xếp hàng đứng đợi trong vòng năm tiếng chỉ để được trượt trên hai tuyến đường đứng sóng đôi có độ dốc từ từ mà xe chuyên chở trên đó đạt vận tốc lớn nhất là sáu dặm một giờ.
Regardless, Switchback Railways were very popular, and sparked many people, including Thompson, to design coasters that were bigger and better.
Dù thế nào đi nữa, Switchback Railways rất nổi tiếng, và làm khuấy động tâm trí nhiều người, bao gồm cả Thompson, để rồi ông đã tăng kích thước và cải tiến chất lượng cho tàu lượn.
The 1910s and 1920s were probably the best decade that the roller coaster has ever seen.
Thập niên 1910 và 1920 hẳn là hai thập niên hào hùng nhất của tàu lượn siêu tốc.
The new wave of technology, such as the “unstop wheels”, an arrangement that kept a coaster’s wheels to its tracks by resisted high gravitational forces, showed coasters a realm of possibilities that has never been seen before.
Làn sóng công nghệ mới, chẳng hạn như “bánh xe không phanh”, một sự cải biên lắp ráp để giữ cho bánh xe tàu lượn không bị trật khỏi đường ray bởi kiềm giữ lực hấp dẫn lớn, giúp tàu lượn có thêm một bước tiến mới chưa bao giờ có trước đó.
In 1919, North America alone had about 1,500 roller coasters, a number that was rising rampantly.
Vào năm 1919, chỉ riêng phía bắc nước Mĩ đã có 1500 tàu lượn siêu tốc, số lượng này đã từng tăng lên không thể kiểm soát được.
Then, the Great Depression gave a crushing blow to amusement parks all over America.
Thế rồi, cuộc Đại khủng hoảng đã giáng đòn tiêu diệt vào các công viên giải trí trên toàn nước Mĩ.
As bad as it was, amusement parks had an optimistic look on the future in the late 1930s.
Gặp phải chuyện tồi tệ như vậy, các công viên giải trí đã có một cái nhìn lạc quan vào tương lai ở cuối những năm 1930.
But, in 1942 roller coasters could already feel the effects of World War Two, as they were forced into a shadow of neglect.
Nhưng, vào năm 1942, tàu lượn siêu tốc đã có thể cảm nhận rõ được sự ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ hai, đồng nghĩa với việc chúng buộc phải rơi vào quên lãng.
Most, nearly all of America’s roller coasters were shut down.
Tất cả, hay gần như toàn bộ tàu lượn siêu tốc ở Mĩ đã phải ngừng hoạt động.
To this very day, the number of roller coaster in America is just a very tiny fraction of the amount of roller coasters in the 1920s.
Thậm chí cho đến tận những ngày gần đây, số lượng tàu lượn siêu tốc ở Mĩ quá đỗi nhỏ bé so với những năm 1920.
Từ vựng (41)
- heave (hiːv) — nhấc
- pioneer (ˌpaɪəˈnɪr) — người tiên phong
- car (kɑːr) — toa tàu
- launch (lɑːntʃ) — khởi hành
- intense (ɪnˈtens) — cực kì(về cảm giác)
- track (træk) — đường ray
- primitive (ˈprɪm.ə.t̬ɪv) — thô sơ
- ride (raɪd) — chuyến đi
- mechanism (ˈmek.ə.nɪ.zəm) — cơ cấu
- motor (ˈmoʊ.t̬ɚ) — động cơ
- carve (ˈkɑɹv) — khắc, đục
- chain (tʃeɪn) — sợi xích
- come up with (kʌm) (ʌp) (wɪð) — nghĩ, nảy ra ý tưởng, kế hoạch
- conveyer belt (kənˈveɪɝ) (belt) — băng chuyền
- steep (stiːp) — dốc đứng
- sled (sled) — xe kéo trượt tuyết
- crash-land (kræʃ) (lænd) — nhảy xuống
- steam engine (stiːm) (ˈen.dʒɪn) — động cơ hơi nước
- diverge (dɪˈvɝːdʒ) — tách biệt
- melt (melt) — tan chảy
- eventually (ɪˈven.tʃu.ə.li) — cuối cùng
- axle (ˈæk.səl) — trục xe
- shut down (ʃʌt) (daʊn) — ngừng hoạt động(nhà máy, doanh nghiệp)
- groove (ɡruːv) — rãnh
- In comparison to (ˈɪn, ɪn) (kəmˈper.ɪ.sən) (tuː) — so với
- debate (dɪˈbeɪt) — cuộc tranh luận
- entrepreneur (ˌɑːn.trə.prəˈnɝː) — doanh nhân
- strictly (ˈstrɪkt.li) — hoàn toàn
- haul (hɑːl) — chở
- rumored (ˈruː.mɚd) — được đồn đại
- detach (dɪˈtætʃ) — tách ra
- manage (ˈmæn.ədʒ) — trụ lại được
- craze (kreɪz) — niềm say mê
- mild (maɪld) — nhẹ nhàng
- arrangement (əˈreɪndʒ.mənt) — sự cải biên
- resist (rɪˈzɪst) — kiềm giữ
- rampantly (ˈræm.pənt.li) — không thể kiểm soát được
- amusement (əˈmjuːz.mənt) — giải trí
- dog (dɑːɡ) — móc
- sturdy (ˈstɝː.di) — chắc chắn
- hinged (hɪndʒd) — có khớp nối