← Danh sách bài đọc
Bài 116

Human remain in Green Sahara

Những xác người ở hoang mạc Green Sahara

On October 13,2,000, a small team of paleontologists led by Paul Sereno of the University of Chicago clambered out of three battered Land Rovers, filled their water bottles, and scattered on foot across the toffee-colored sands of the Tenere desert in northern Niger.
Vào ngày 13 tháng 10 năm 2000, một nhóm nhỏ các nhà cổ sinh vật học thuộc đại học Chicago do Paul Sereno dẫn đoàn đã bước xuống khỏi 3 chiếc Land Rover cũ kỹ, rót đầy chai nước của họ, lang thang trên chính đôi chân của họ băng qua những dải cát màu kẹo đường của sa mạc Tenere ở phía bắc Niger.
The Tenere , on the southern flank of the Sahara, easily ranks among the most desolate landscapes on Earth.
Sa mạc Tenere nằm ở sườn phía Nam của Sahara, dễ dàng được xếp vào một trong những cảnh quan hoang vắng nhất trên Trái Đất.
The Tuareg , turbaned nomads who for centuries have ruled this barren realm, refer to it as a “desert within a desert”-a California-size ocean of sand and rock, where a single massive dune might stretch a hundred miles, and the combination of 120-degree heat and inexorable winds can wick the water from a human body in less than a day.
Người Tuareg, những kẻ du mục vấn khăn, những người đã cai trị vương quốc cằn cỗi này trong suốt nhiều thế kỷ, gọi nơi này là một “hoang mạc trong hoang mạc” - một đại dương cát và đá có kích cỡ tương đương với bang California, nơi một cồn cát khổng lồ duy nhất có thể trải dài hàng trăm dặm, và sự kết hợp của cái nóng 120 độ và những cơn gió không ngừng nghỉ có thể rút cạn nước trong cơ thể một người trong vòng chưa đầy một ngày.
The harsh conditions, combined with intermittent conflict between the Tuareg and the Niger government, have kept the region largely unexplored.
Điều kiện khắc nghiệt, cùng với sự xung đột của những người Tuareg và chính phủ Niger, đã khiến phần lớn khu vực này vẫn còn chưa được khám phá.
Mike Hettwer, a photographer accompanying the team, headed off by himself toward a trio of small dunes.
Nhiếp ảnh gia Mike Hettwer, khi đang đồng hành cùng nhóm, đã tự mình đi đến một cụm ba cồn cát nhỏ.
He created the first slope and stared in amazement.
Ông ta phủi một dốc cát đầu tiên và đã nhìn chằm chằm trong sự kinh ngạc.
The dunes were spilling over with bones.
Những đụn cát đã tràn xuống cùng với những mẫu xương.
He took a few shots with his digital camera and hurried back to the Land Rovers.
Ông chụp một vài tấm hình bằng chiếc máy ảnh kỹ thuật số của mình và mau chóng chạy về chiếc Land Rovers.
“I found some bones:’ Hettwer said, when the team had regrouped.
Khi cả đoàn đã tụ họp lại, Hettwer nói rằng “Tôi đã tìm thấy một vài mẫu xương”.
“But they’re not dinosaurs. They’re human.”
“Nhưng đó không phải là xương khủng long. Đó là xương của con người.”
In the spring of 2005 Sereno contacted Elena Garcea, an archaeologist at the University of Cassino, in Italy, inviting her to accompany him on a return to the site.
Vào mùa xuân năm 2005, Sereno đã liên lạc với Elena Garcea, một nhà khảo cổ học của đại học Cassino tại Ý và ngỏ ý mời cô đồng hành cùng ông ta trong chuyến đi trở lại khu vực này.
Garcea had spent three decades working digs along the Nile in Sudan and in the mountains of the Libyan Desert, and was well acquainted with the ancient peoples of the Sahara.
Garcea đã dành 3 thập kỷ cho công việc đào dọc sông Nin ở Sudan và trên các vùng núi ở sa mạc Li-băng, do đó cô ta đã quá quen thuộc với những tộc người cổ đại ở Sahara.
But she had never heard of Paul Sereno.
Nhưng cô chưa bao giờ nghe qua về Paul Sereno.
His claim to have found so many skeletons in one place seemed far-fetched, given that no other Neolithic cemetery contained more than a dozen or so.
Tuyên bố của ông ta về việc đã tìm thấy rất nhiều bộ xương ở cùng một địa điểm dường như rất khó tin, do rằng không có một nghĩa trang nào khác ở thời kỳ Đồ đá mới có thể chứa hơn một tá bộ hài cốt hoặc khoảng đó.
Some archaeologists would later be skeptical; one sniped that he was just a “moonlighting paleontologist.”
Một vài nhà khảo cổ học sau đó đã hoài nghi, một trong số đó đã đá xéo rằng ông chỉ là “một kẻ cổ sinh vật học hão huyền”
But Garcea was too intrigued to dismiss him as an interloper.
Nhưng Garcea đã quá bị cuốn hút đến nỗi cô ta gạt đi suy nghĩ ông ta chỉ là một kẻ bao đồng.
She agreed to join him.
Cô đã nhận lời tham gia cùng ông ấy.
Garcea explained that the Kiffian were a fishing-based culture and lived during the earliest wet period, between 8,000 and 10,000 years ago.
Garcea giải thích rằng Kiffan là một nền văn hoá dựa trên việc đánh bắt cá và tồn tại trong suốt giai đoạn đầu của thời kỳ ẩm thấp, từ 8000 cho đến 10000 năm về trước.
She held a Kiffian sherd next to a Tenerian one.
Cô ta đặt một mảnh vụn bình gốm của nền văn hoá Kiffian cạnh bên một mảnh khác được lấy từ nền văn hoá Tenerian.
“What is so amazing is that the people who made these two pots lived more than a thousand years apart.”
“ Điều đáng kinh ngạc là những người đã làm ra những chiếc bình này đã sống cách đây hơn một ngàn năm.”
Over the next three weeks, Sereno and Garcea-along with five American excavators, five Tuareg guides, and five soldiers from Nigeria’s army, sent to protect the camp from bandits—made a detailed map of the site, which they dubbed Gobero, after the Tuareg name for the area.
Trong ba tuần tiếp theo, Sereno và Garcea cùng với 5 nhà khai quật người Mỹ, 5 người dẫn đường Tuareg, và 5 quân nhân Nigeria được cử tới để bảo vệ doanh trại khỏi những tên cướp - đã vẽ nên một bản đồ chi tiết về khu vực này, nơi mà họ gọi là Gobero, sau khi người Tuareg đặt tên cho nó.
They exhumed eight burials and collected scores of artifacts from both cultures.
Họ đã khai quật 8 ngôi mộ và thu thập rất nhiều cổ vật của cả hai nền văn hoá.
In a dry lake bed adjacent to the dunes, they found dozens of fishhooks and harpoons carved from animal bone.
Trong một lòng hồ khô cạnh bên cồn cát, họ tìm thấy hàng tá lưỡi và móc câu được làm từ xương động vật
Apparently the Kiffian fishermen weren’t just going after small fry: Scattered near the dunes were the remains of Nile perch, a beast of a fish that can weigh nearly 300 pounds, as well as crocodile and hippo bones.
Rõ ràng, các ngư dân Kiffian không chỉ bắt những loài cá nhỏ: rải rác khắp nơi gần đụn cát là tàn tích của loài cá rô sông Nin, một loài thuỷ quái có trọng lượng lên đến 300 pound (một đơn vị đo trọng lượng của Anh), cũng như nhiều mẩu xương cá sấu và hà mã.
Sereno flew home with the most important skeletons and artifacts and immediately began planning for the next field season.
Sereno đã bay về nhà cùng với những mẫu xương và cổ vật quan trọng và ngay lập tức anh ta đã lên kế hoạch cho mùa thực địa tiếp theo.
In the meantime, he carefully removed one tooth from each of four skulls and sent them to a lab for radiocarbon dating.
Trong khi đó, ông ta cẩn thận loại bỏ một chiếc răng từ mỗi chiếc trong bốn chiếc hộp sọ và gửi chúng đến một phòng thí nghiệm để xác định niên đại carbon phóng xạ.
The results pegged the age of the tightly bundled burials at roughly 9,000 years old, the heart of the Kiffian era.
Những kết quả xác định niên đại của những bộ hài cốt được bó chặt đó vào khoảng 9000 năm tuổi, thuộc giữa kỷ nguyên Kiffian.
The smaller “sleeping” skeletons turned out to be about 6,000 years old, well within the Tenerian period.
Những bộ xương “đang ngủ” nhỏ hơn hoá ra cũng đã khoảng 6000 năm tuổi, vừa khớp trong thời kỳ Tenerian.
At least now the scientists knew who was who.
Ít nhất cho đến bây giờ, các nhà khoa học đã biết ai mới là kẻ sáng suốt.
In the fall of 2006 they returned to Gobero, accompanied by a larger dig crew and six additional scientists.
Mùa thu năm 2006, họ trở lại Gobero cùng với một đội khai quật lớn hơn và 6 nhà khoa học nữa.
Garcea hoped to excavate some 80 burials, and the team began digging.
Garcea hy vọng sẽ khai quật được khoảng 80 bộ hài cốt, và cả đoàn bắt đầu đào xới.
As the skeletons began to emerge from the dunes, each presented a fresh riddle, especially the Tenerian.
Khi các bộ xương bắt đầu hiện ra từ các đụn cát, mỗi một bộ xương lại đem đến một câu hỏi mới, đặc biệt là về người Tenerian.
A male skeleton had been buried with a finger in his mouth.
Một bộ hài cốt của nam giới đã được chôn với ngón tay nằm trong miệng của anh ta.
Even at the site, Arizona State University bio archaeologist Chris Stojanowski could begin to piece together some clues.
Nhà khảo cổ sinh học Chris Stojanowski từ đại học bang Arizona đã có thể thu thập vài manh mối tại khu vực này.
Judging by the bones, the Kiffian appeared to be a peaceful, hard working people.
Qua những đánh giá về bộ xương, người Kiffian dường như là một người hiền hoà và chăm chỉ.
“The lack of head and forearm injuries suggests they weren’t doing much fighting,” he told me.
Ông ta nói với tôi rằng : “Việc không có những chấn thương ở vùng đầu và trán cho thấy họ không tham gia nhiều vào các cuộc chiến”.
“And these guys were strong.”
“Và đây đều là những kẻ khoẻ mạnh”.
He pointed to a long, narrow ridge running along a femur.
Ông chỉ vào một đường gờ chạy dọc khắp xương đùi
“That’s the muscle attachment,” he said.
“Đây là sự kết dính của các bó cơ”- Ông ta nói
“This individual had huge leg muscles, which means he was eating a lot of protein and had a strenuous lifestyle — both consistent with a fishing way of life.”
“Người này có cơ bắp chân khổng lồ, nghĩa là hắn đã ăn rất nhiều protein, và có một lối sống cơ cực - cả hai đều có liên hệ với một cuộc sống đánh bắt cá.”
For contrast, he showed me the femur of a Tenerian male.
Ngược lại, ông ta cho tôi xem xương đùi của một người đàn ông Tenerian.
The ridge was barely perceptible.
Những đường gờ ở đây hầu như không thể nhìn thấy được.
“This guy had a much less strenuous lifestyle,” he said, “which you might expect of a herder.”
“Người này có một cuộc sống ít cơ cực hơn” ông ấy nói, “đây là những gì bạn có thể trông đợi ở một gã chăn nuôi gia súc.”
Stojanowski’s assessment that the Tenerian were herders fits the prevailing view among scholars of life in the Sahara 6,000 years ago, when drier conditions favored herding over hunting.
Những đánh giá của Stojanowski cho rằng người Tenerian là những người chăn nuôi gia súc tương đồng với những quan điểm được các học giả lưu truyền về cuộc sống tại Sahara 6,000 năm trước, khi khí hậu khô hạn tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi hơn là săn bắn.
But if the Tenerian were herders, Sereno pointed out, where were the herds?
Tuy nhiên Sereno chỉ ra rằng, nếu người Tenerian là những người chăn nuôi gia súc, thì những đàn gia súc đó đã ở đâu?
Among the hundreds of animal bones that had turned up at the site, none belonged to goats or sheep, and only three came from a cow species.
Trong số hàng trăm bộ xương được tìm thấy tại khu vực này, không có cái nào là xương của dê hay cừu cả, chỉ ba trong số đó là xương của một loài bò.
“It’s not unusual for a herding culture not to slaughter their cattle, particularly in a cemetery, '' M Garcea responded, noting that even modern pastoralists, such as Niger’s Wodaabe, are loath to butcher even one animal in their herd.
Garcea đã phản biện lại rằng “Không có gì lạ khi một nền văn hoá chăn nuôi lại không giết mổ gia súc của họ, đặc biệt là còn trong khu vực nghĩa trang”, và cô cũng nhấn mạnh rằng ngay cả đối với những người chăn nuôi gia súc đương thời, chẳng hạn như những thổ dân Wodaabe ở Niger, cũng không giết thịt đàn gia súc của họ, trừ những trường hợp bất đắc dĩ.”
Perhaps, Sereno reasoned, the Tenerian at Gobero were a transitional group that had not fully adopted herding and still relied heavily on hunting and fishing.
Sereno đã lý giải rằng, có lẽ những người Tenerian ở khu vực Gobero đã là một nhóm người chuyển giao, họ chưa hoàn toàn áp dụng cách chăn nuôi gia súc và vẫn còn phụ thuộc nhiều vào săn bắt và đánh cá.
Back in Arizona, Stojanowski continues to analyze the Gobero bones for clues to the Green Saharans’ health and diet.
Trở về Arizona, Stojanowski đã tiếp tục phân tích những mẫu xương được tìm thấy ở Gobero để lần ra những manh mối về thể trạng và chế độ ăn uống của những cư dân đã sống tại Green Sahara.
Other scientists are trying to derive DNA from the teeth, which could reveal the genetic origins of the Kiffian and Tenerian- and possibly link them to descendants living today.
Các nhà khoa học khác đang nỗ lực lấy ADN từ răng - loại ADN có thể hé mở ra nguồn gốc di truyền của người Kiffian và người Tenerian - và có khả năng liên kết với những hậu duệ của họ đang sống ở thời điểm hiện tại.

Từ vựng (12)

  • paleontologists (ˌpeɪɫiənˈtɑɫədʒɪsts) — nhà cổ sinh vật học
  • toffee-colored (ˈtɑː.fi) (ˈkʌl.ɚd) — có màu kẹo đường
  • barren (ˈber.ən) — trơ trụi, cằn cỗi
  • far-fetched (fɑːr) (fetʃ) — khó tin, không thể tin được
  • interloper (ˈɪn.t̬ɚˌloʊ.pɚ) — kẻ bao đồng, người thích xía vào chuyện người khác
  • radiocarbon dating (radiocarbon*) (deɪt) — việc xác định niên đại sử dụng carbon phóng xạ
  • strenuous lifestyle (ˈstren.ju.əs) (ˈlaɪf.staɪl) — lối sống cơ cực, cực khổ, sử dụng nhiều sức lực
  • perceptible (pɚˈsep.tə.bəl) — không thể nhận ra, không thể nhìn thấy được
  • herder (ˈhɝː.dɚ) — người chăn nuôi gia súc
  • loath to do something (loʊθ) (tuː) (də) (ˈsʌm.θɪŋ) — làm việc gì đó miễn cưỡng, bất đắc dĩ
  • butcher (ˈbʊtʃ.ɚ) — mổ thịt, giết thịt
  • piece together something (piːs) (təˈɡeð.ɚ) (ˈsʌm.θɪŋ) — collect sth to understand the situation