← Danh sách bài đọc
Bài 119

The reconstruction of community in Talbot Park, Auckland

Việc tái thiết lập cộng đồng ở khu Talbot, Auckland.

An architecture of disguise is almost complete at Talbot Park in the heart of Auckland’s Glen Innes.
Một công trình kiến trúc ngụy trang gần như đã hoàn thiện tại khu Talbot ở trung tâm của Glen Innes, Auckland.
The place was once described as a state housing ghetto, rife with crime, vandalism and other social problems.
Nơi đây từng được mô tả là khu ổ chuột của bang, đầy rẫy tội phạm, phá hoại và những vấn đề xã hội khác.
But today after a $48 million urban renewal makeover, the site is home to 700 residents — 200 more than before — and has people regularly inquiring whether they can buy or rent there.
Nhưng hiện nay, sau một cuộc cải tạo đô thị trị giá 48 triệu đô la, địa điểm này là nơi sinh sống của 700 cư dân - nhiều hơn 200 người so với trước đây - và thường xuyên có người dò hỏi xem họ có thể mua hoặc thuê ở đó không.
“It doesn’t look like social housing,” Housing New Zealand housing services manager Dene Busby says of the tidy brick and weatherboard apartments and townhouses which would look just as much at home in “there is no reason why public housing should look cheap in my view,” says Design Group architect Neil of the eight three-bedroom terrace houses his firm designed.
“Nơi này không giống như nhà ở xã hội”, giám đốc dịch vụ nhà ở của Housing New Zealand, Dene Busby, nói về những căn hộ được bao bởi gạch, ván lát và những ngôi nhà liền kề nhìn rất giống như ở nhà trong “không có lý do gì mà nhà ở công cộng lại có vẻ rẻ tiền, theo quan điểm của tôi,” kiến trúc sư Neil của Design Group cho biết về tám ngôi nhà có sân thượng và ba phòng ngủ mà công ty ông thiết kế.
Talbot Park is a triangle of government-owned land bounded by Apirana Ave, Pilkington Rd and Point England Rd.
Khu Talbot là một khu đất hình tam giác thuộc sở hữu của chính phủ được bao quanh bởi đại lộ Apirana, đường Pilkington và đường Point England.
In the early 1960s it was developed for state housing built around a linear park that ran through the middle.
Vào đầu những năm 1960, nơi đây được phát triển làm nhà ở công cộng được xây dựng xung quanh một công viên tuyến tính (có chiều dài lớn hơn nhiều so với chiều rộng, thường chạy dài theo một con kênh, sông, bờ biển, ...) chạy qua ở giữa.
Initially, there was a strong sense of a family-friendly community.
Ban đầu, có một ý thức mạnh mẽ về một cộng đồng thân thiện với gia đình.
Former residents recall how the Talbot Park reserve played a big part in their childhoods — a place where the kids in the block came together to play softball, cricket, tiggy, leapfrog and bullrush.
Những người dân trước đây kể lại rằng khu bảo tồn Talbot đã đóng vai trò quan trọng như thế nào trong thời thơ ấu của họ - một nơi mà những đứa trẻ trong tòa nhà cùng nhau chơi bóng mềm, bóng chày, trốn tìm, nhảy cóc và đuổi bắt.
Sometimes they’d play “Maoris against Pakehas” but without any animosity.
Đôi khi họ chơi "Maoris đấu với Pakehas" nhưng không hề có sự thù địch nào.
“It was all just good fun”, says Georgie Thompson in Ben Schrader’s We Call it Home: A History of State Housing in New Zealand.
“Trò chơi đó chỉ để cho vui thôi”, Georgie Thompson đã chia sẻ trong cuốn "Chúng tôi Gọi đó là Nhà: Lịch sử của Nhà ở Công cộng ở New Zealand của Ben Schrader".
“We had respect for our neighbours and addressed them by title Mr. and Mrs. so-and-so,” she recalls.
“Chúng tôi tôn trọng hàng xóm của mình bằng cách gọi họ bằng danh xưng Ông và Bà gì đó,” cô ấy kể lại.
Quite what went wrong with Talbot Park is not clear.
Hoàn toàn không rõ điều gì đã xảy ra với khu Talbot.
We call it Home Records that the community began to change in the late 1970s as more Pacific Islanders and Europeans moved in.
Chúng tôi gọi đó là Hồ sơ gia đình mà cộng đồng bắt đầu thay đổi vào cuối những năm 1970 khi có nhiều người dân các đảo ở Thái Bình Dương và Châu Âu chuyển đến.
The new arrivals didn’t readily integrate with the community, a “them and us” mentality developed, and residents interacted with their neighbours less.
Những người mới đến không sẵn sàng hòa nhập với cộng đồng, tâm lý “họ và chúng tôi” phát triển và cư dân giao lưu với hàng xóm của họ ít hơn.
What was clear was the buildings were deteriorating and becoming dilapidated, petty crime was on the rise and the reserve — focus of fond childhood memories — had become a wasteland and was considered unsafe.
Điều rõ ràng là các tòa nhà đang xuống cấp và trở nên đổ nát, tội phạm vặt đang gia tăng và khu bảo tồn - chứa đựng những kỷ niệm đẹp thời thơ ấu - đã trở thành một khu đất hoang và bị coi là không an toàn.
But it wasn’t until 2002 that Housing New Zealand decided the properties needed upgrading.
Nhưng phải đến năm 2002, Housing New Zealand mới quyết định rằng các khu nhà cần được nâng cấp.
The master renewal plan didn’t take advantage of the maximum accommodation density allowable (one unit per 100 sq metres ) but did increase density to one emit per 180 sq m by refurbishing all 108 star flat units, removing the multis and building 111 new home.
Kế hoạch đổi mới tổng thể đã không tận dụng mật độ chỗ ở tối đa cho phép (một căn trên 100 mét vuông) nhưng đã tăng mật độ lên một căn trên 180 mét vuông bằng cách tân trang lại tất cả 108 căn hộ cao cấp, loại bỏ nhiều căn hộ và xây 111 căn nhà mới.
The Talbot strategy can be summed up as mix, match and manage.
Chiến lược Talbot có thể được tóm lược là sự pha trộn, kết hợp và quản lý.
Mix up the housing with variety plans from a mix of architects, match house styles to what's built by the private sector, match tenants to the mix, and manage their occupancy.
Hòa hợp nhà ở với nhiều kế hoạch khác nhau từ sự pha trộn của các kiến trúc sư, kết hợp các phong cách nhà ở với những gì được xây bởi khu vực tư nhân , kết hợp những người thuê nhà với sự hòa hợp và quản lý việc sử dụng của họ.
Inevitably cost comes into the equation.
Những chi phí không thể tránh khỏi được đưa vào xem xét.
” If you’re going to build low cost homes, you’ve got to keep them simple and you can’t afford a fancy bit on them. ” says Michael Thompson of Architectus which designed the innovative threelevel Atrium apartments lining two sides of a covered courtyard.
”Nếu bạn định xây những ngôi nhà với chi phí thấp, bạn phải làm cho chúng thật đơn giản và bạn không thể làm chúng cầu kì.”
At $300,000 per two bedroom unit, the building is more expensive but provides for independent disabled accommodation as well as offering solar hot water heating and rainwater collection for toilet cisterns and outside taps.
Với giá 300.000 đô/một căn hộ có hai phòng ngủ, tòa nhà này đắt hơn nhưng cung cấp chỗ ở độc lập ở cho người khuyết tật cũng như cung cấp hệ thống đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời và thu gom nước mưa cho các bồn cầu và vòi nước ngoài trời.
The renewal project budget at $1.5 million which will provide park pathways, planting, playgrounds, drinking fountains, seating, skateboard rails, a half-size basketball hard court, and a pavilion.
ngân sách cho dự án đổi mới là 1,5 triệu đô, sẽ cung cấp các lối đi trong khu vực, trồng cây, sân chơi, vòi uống nước, chỗ ngồi, đường ray trượt ván, một sân bóng rổ cỡ một nửa, và một mái vòm (nhà phụ cạnh sân thể thao).
But if there was any doubt this is a low socio-economic area, the demographics for the surrounding Tamaki area are sobering.
Nhưng nếu có bất kỳ nghi ngờ nào đây là một khu vực có kinh tế xã hội thấp, thì nhân khẩu học của khu vực xung quanh Tamaki rất nhạy cảm.
Of the 5000 households there, 55 percent are state houses, 28 per cent privately owned (compared to about 65 percent nationally) and 17 percent are private rental.
Trong số 5000 hộ gia đình ở đó, 55% là nhà của nhà nước, 28% thuộc sở hữu cá nhân (so với khoảng 65% trên toàn quốc) và 17% là tư nhân cho thuê.
The area has a high concentration of households with incomes in the $5000 to $15,000 range and very few with an incomes over $70,000.
Khu vực này tập trung nhiều hộ gia đình có thu nhập từ 5000 đô đến 15.000 đô và rất ít hộ gia đình có thu nhập trên 70.000 đô la.
That’s in sharp contrast to the more affluent suburbs like Kohimarama and St John’s that surround the area.
Điều đó trái ngược rõ ràng với những vùng ngoại ô giàu có hơn như Kohimarama và St John’s xung quanh khu vực này.
“The design is for people with different culture background,” says architect James Lunday of Common Ground which designed the 21 large family homes.
“Thiết kế dành cho những người đến từ nền văn hóa khác nhau,” kiến trúc sư James Lunday của Common Ground, người đã thiết kế 21 ngôi nhà lớn cho gia đình cho biết.
“Architecturally we decided to be relatively conservative — nice house in its own garden with a bit of space and good indoor outdoor flow.”
“Về mặt kiến trúc, chúng tôi quyết định tương đối thận trọng - một ngôi nhà đẹp trong khu vườn riêng của mình với một chút không gian và lối đi tốt bên ngoài và trong nhà.”
There’s a slight reflection of the whare and a Pacific fale, but not overplayed “The private sector is way behind in urban design and sustainable futures,” says Bracey.
Có một sự phản ánh nhỏ về những túp lều và lều tranh Thái Bình Dương, nhưng không quá mức “Khu vực tư nhân đang bị tụt hậu trong việc thiết kế đô thị và tương lai bền vững”, Bracey cho biết.
“Redesigning sheets and parks is a big deal and very difficult to do. The private sector won’t do it, because It’s so hard.”
“Thiết kế lại các tấm che và công viên là một việc lớn và rất khó thực hiện. Khu vực tư nhân sẽ không làm điều đó, bởi vì việc này rất khó. ”
There’s no doubt good urban design and good architecture play a significant part in the scheme.
Không thể nghi ngờ là việc thiết kế đô thị và lối kiến trúc tốt đóng một vai trò quan trọng trong kế hoạch này.
But probably more important is a new standard of social control. Housing New Zealand calls it “intensive tenancy management”.
Nhưng có lẽ quan trọng hơn là một tiêu chuẩn mới về việc kiểm soát xã hội. Housing New Zealand gọi đó là “quản lý việc thuê nhà chuyên sâu”.
Others view it as social engineering.
Những người khác xem đó như việc sắp đặt xã hội
“It’s a model that we are looking at going forward,” according to Housing New Zealand’s central Auckland regional manager Graham Bodman.
“Đó là mô hình mà chúng tôi đang hướng tới trong tương lai,” theo Graham Bodman, giám đốc khu vực trung tâm Auckland của Housing New Zealand.
The focus is on frequent inspections, helping tenants to get to know each other and trying to create an environment of respect for neighbours, ” says Bodman.
Trọng tâm là thường xuyên kiểm tra, giúp những người thuê nhà hiểu nhau và cố gắng tạo ra một môi trường tôn trọng hàng xóm, ”Bodman nói.
That includes some strict rules — no loud parties after 10 pm, no dogs, no cats in the apartments, no washing hung over balcony rails and a requirement to mow lawns and keep the property tidy.
Điều đó bao gồm một số quy tắc nghiêm ngặt - không tiệc tùng ồn ào sau 10 giờ tối, không nuôi chó, mèo trong căn hộ, không treo đồ giặt trên lan can ban công và yêu cầu cắt cỏ và giữ tài sản gọn gàng.
Housing New Zealand has also been active in organising morning teas and sheet barbecues for residents to meet their neighbours.
Housing New Zealand cũng đã tích cực tổ chức trà buổi sáng và tiệc nướng vỉ để người dân gặp gỡ hàng xóm của họ.
“IVs all based on the intensification,” says Community Renewal project manager Stuart Bracey.
“Tất cả những giá trị vốn có (inherent values) đều dựa trên sự củng cố,” Stuart Bracey, người quản lý dự án Đổi mới Cộng đồng cho biết.
“We acknowledge if you are going to put more people living closer together, you have to actually help them to live closer together because it creates tension — especially for people that aren’t used to it.”
“Chúng tôi thừa nhận rằng nếu bạn định đưa nhiều người gần nhau hơn, bạn phải thực sự giúp họ sống gần gũi hơn vì việc đó tạo sưc ép- đặc biệt là đối với những người không quen với điều đó.”

Từ vựng (47)

  • disguise (dɪsˈɡaɪz) — ngụy trang
  • rife with (raɪf) (wɪð) — đầy rẫy
  • vandalism (ˈvæn.dəl.ɪ.zəm) — phá hoại
  • residents (ˈɹɛzɪdənts) — cư dân
  • inquiring (ɪnˈkwaɪr.ɪŋ) — dò hỏi
  • social housing (ˈsoʊ.ʃəl) (ˈhaʊ.zɪŋ) — nhà ở xã hội
  • weatherboard (weatherboard*) — ván lát
  • townhouses (ˈtaʊnˌhaʊsɪz) — những ngôi nhà liền kề
  • terrace (ˈter.əs) — sân thượng
  • linear park (ˈlɪn.i.ɚ) (pɑːrk) — công viên tuyến tính (có chiều dài lớn hơn nhiều so với chiều rộng, thường chạy dài theo một con kênh, sông, bờ biển, ...)
  • reserve (rɪˈzɝːv) — bảo tồn
  • animosity (ˌæn.əˈmɑː.sə.t̬i) — sự thù địch
  • address (ˈæd.res) — gọi
  • so-and-so (soʊ) (ænd) (soʊ) — gì đó
  • integrate (ˈɪn.t̬ə.ɡreɪt) — hòa nhập
  • interact (ˌɪn.t̬ɚˈækt) — giao lưu
  • deteriorating (dɪˈtɪr.i.ə.reɪt) — đang xuống cấp
  • dilapidate (dəˈɫæpəˌdeɪt) — đổ nát
  • petty (ˈpet̬.i) — vặt
  • accommodation (əˌkɑː.məˈdeɪ.ʃən) — chỗ ở
  • refurbish (ˌriːˈfɝː.bɪʃ) — tân trang lại
  • tenant (ˈten.ənt) — người thuê nhà
  • inevitably (ˌɪnˈev.ə.t̬ə.bli) — không thể tránh khỏi
  • toilet cistern (ˈtɔɪ.lət) (ˈsɪs.tɚn) — bồn cầu
  • budget (ˈbʌdʒ.ɪt) — ngân sách
  • pavilion (pəˈvɪl.jən) — nhà phụ cạnh sân thể thao
  • sobering (ˈsoʊ.bɚ.ɪŋ) — nhạy cảm
  • household (ˈhaʊs.hoʊld) — hộ gia đình
  • rental (ˈren.t̬əl) — cho thuê
  • income (ˈɪn.kʌm) — thu nhập
  • affluent (ˈæf.lu.ənt) — giàu có
  • sustainable (səˈsteɪ.nə.bəl) — bền vững
  • significant (sɪɡˈnɪf.ə.kənt) — quan trọng
  • scheme (skiːm) — kế hoạch
  • tenancy (ˈten.ən.si) — việc thuê nhà
  • social engineering (ˈsoʊ.ʃəl) (ˌen.dʒɪˈnɪr.ɪŋ) — sắp đặt xã hội
  • inspection (ɪnˈspek.ʃən) — kiểm tra
  • tenant (ˈten.ənt) — người thuê nhà
  • respect for (rɪˈspekt) (fɔːr) — tôn trọng
  • strict (strɪkt) — nghiêm ngặt
  • loud (laʊd) — ồn ào
  • rails (ˈɹeɪɫz) — lan can
  • mow lawn (moʊ) (lɑːn) — cắt cỏ
  • intensification (ɪnˌten.sə.fəˈkeɪ.ʃən) — sự củng cố
  • acknowledge (əkˈnɑː.lɪdʒ) — thừa nhận
  • tension (ˈten.ʃən) — áp lực
  • IVs (ivs*) — inherent values