← Danh sách bài đọc
Bài 120

The History of building Telegraph lines

Lịch sử xây dựng các đường dây điện báo

The History of building Telegraph lines
Lịch sử xây dựng các đường dây điện báo
A The idea of electrical communication seems to have begun as long ago as 1746 when about 200 monks at a monastery in Paris arranged themselves in a line over a mile long, each holding ends of 25 ft iron wires.
Ý tưởng của việc liên lạc bằng điện từ dường như đã nhen nhóm từ rất lâu về trước, vào năm 1794, khi khoảng 200 nhà sư tại một tu viện ở Paris đã xếp một hàng dài hơn một dặm, mỗi người giữ một dây sắt khoảng 25 feet.
The abbot, also a scientist, discharged a primitive electrical battery into the wire, giving all the monks a simultaneous electrical shock.
tu viện trưởng ở đây là một nhà khoa học đã xả điện bằng một pin thô sơ vào đoạn dây sắt, khiến tất cả các nhà sư bị giật đồng loạt.
“This all sounds very silly, but is in fact extremely important because, firstly, they all said ‘ow’ which showed that you were sending a signal right along the line; and, secondly, they all said ‘ow’ at the same time, and that meant that you were sending the signal very quickly, “explains Tom Standage, author of the Victorian Internet and technology editor at the Economist.
Tom Standage, tác giả của quyển sách Internet thời Victoria và là biên tập viên công nghệ tại tờ Economist giải thích: “Tất cả việc này nghe có vẻ rất ngớ ngẩn, nhưng thực tế rất quan trọng bởi vì, đầu tiên, mọi người đều thốt lên “ối” cho thấy rằng bạn đã gửi đi một tín hiệu dọc theo đường dây, và, thứ hai, họ thốt lên “ối” đồng loạt, có nghĩa là bạn đã truyền đi tín hiệu rất nhanh”.
Given a more humane detection system, this could be a way of signaling over long distances.
Với một hệ thống phát hiện nhân đạo hơn, đây có thể là một cách truyền tín hiệu ở khoảng cách xa.
B With wars in Europe and colonies beyond, such a signaling system was urgently needed.
Với các cuộc chiến tranh ở châu Âu và xa hơn là ở các thuộc địa, một hệ thống liên lạc như trên là một điều cấp thiết.
All sorts of electrical possibilities were proposed, some of them quite ridiculous.
Hầu hết các cách truyền tín hiệu điện đã được đề xuất, một số trong số chúng khá là lố bịch.
Two Englishmen, William Cooke and Charles Wheatstone came up with a system in which dials were made to point at different letters, but that involved five wires and would have been expensive to construct.
Hai người đàn ông Anh, William Cooke và Charles Wheatstone đã nghĩ ra một hệ thống mà trong đó các mặt số được làm để chỉ các con số khác nhau, nhưng nó cần đến năm đường dây, và sẽ tốn kém để sản xuất.
C Much simpler was that of an American, Samuel Morse, whose system only required a single wire to send a code of dots and dashes.
Một người Mỹ, Samuel Morse, có cách làm đơn giản hơn nhiều, người chế tạo hệ thống chỉ cần một đường dây duy nhất để gửi một mã gồm dấu chấm và dấu gạch ngang.
At first, it was imagined that only a few highly skilled encoders would be able to use it but it soon became clear that many people could become proficient in Morse code.
Ban đầu, mọi người nghĩ chỉ có ai có tay nghề cao mới có thể sử dụng hệ thống này nhưng nghi hoặc dần trở nên rõ ràng, nhiều người bắt đầu thành thạo bộ mã Morse.
A system of lines strung on telegraph poles began to spread in Europe and America.
Một hệ thống bao gồm các đường dây mắc vào đường dây điện báo đã bắt đầu lan rộng ở châu Âu và nước Mỹ.
D The next problem was to cross the sea.
Vấn đề tiếp theo là vượt biển.
Britain, as an island with an empire, led the way.
Nước Anh, đế chế trên đảo, đã đi tiên phong.
Any such cable to be insulated and the first breakthrough came with the discovery that a rubber-like latex from a tropical tree on the Malay peninsula could do the trick.
Nhiệm vụ đầu tiên là làm ra loại dây cáp có khả năng cách điện và bước đột phá đầu tiên đến đến sự khám phá ra một loại mủ cao su từ cây nhiệt đới trên bán đảo Malay có thể cách điện.
It was called gutta-percha.
Nó được gọi là gutta-percha.
The first attempt at a cross channel cable came in 1850.
Đường dây điện vượt biển là nỗ lực đầu tiên được thực hiện năm 1850.
With thin wire and thick installation, it floated and had to be weighed down with a lead pipe.
Với sợi dây mảnh và lớp vỏ dày, nó nổi trên nước và phải được kéo xuống bằng một ống dẫn.
E It never worked well as the effect of water on its electrical properties was not understood, and it is reputed that a French fisherman hooked out a section and took it home as a strange new form of seaweed.
Nó không bao giờ hoạt động tốt vì ảnh hưởng của nước đến với các tính dẫn điện của nó chưa được hiểu hết, và người ta đồn rằng có một ngư dân người Pháp đã kéo lên một phần của đường dây và đem về nhà như một loài rong biển mới lạ.
The cable was too big for a single boat so two had to start in the middle of the Atlantic, join their cables and sail in opposite directions.
Cáp quá lớn cho một con thuyền đơn nên hai đoạn dây phải được nối từ giữa vùng biển Đại Tây Dương, nối dây cáp xong thì chèo thuyền vào hướng ngược lại.
Amazingly, they succeeded in 1858, and this enabled Queen Victoria to send a telegraph message to President Buchanan.
Kỳ diệu thay, họ đã thành công vào năm 1858, và cho phép Nữ hoàng Victoria có thể truyền đi các thông điệp điện báo đến với Tổng thống Buchanan.
However, the 98-word message took more than 19 hours to send and a misguided attempt to increase the speed by increasing the voltage resulted in the failure of the line a week later.
Tuy nhiên, thông điệp gồm 98 từ đã mất hơn 19 tiếng đồng hồ và một nỗ lực sai lầm là tăng tốc độ gửi bằng cách tăng điện áp dẫn đến hư hại đường dây một tuần sau đó.
F By 1870, a submarine cable was heading towards Australia.
Vào năm 1870, một dây cáp ngầm đã được dẫn đến nước Úc.
It seemed likely that it would come ashore at the northern port of Darwin from where it might connect around the coast to Queensland and New South Wales.
Có vẻ như nó sẽ được nối đến bờ Bắc của cảng Darwin nơi có thể kết nối với vùng biển tới Queensland và New South Wales.
It was an undertaking more ambitious than spanning an ocean.
Đây cũng là một phần của công cuộc đầy tham vọng hơn là trải dài đường dây cáp trên đại dương.
Flocks of sheep had to be driven with the 400 workers to provide food.
Những đàn cừu được chở đi cùng với 400 công nhân để cung cấp thức ăn.
They needed horses and bullock carts and, for the parched interior, camels.
Họ cần những con ngựa, xe bò và đồ khô nội địa thì cần những con lạc đà.
In the north, tropical rains left the teams flooded.
Ở phía bắc, những cơn mưa nhiệt đới khiến nhóm người vật lộn với lũ.
In the centre, it seemed that they would die of thirst.
Ở vùng trung tâm, họ dường như sắp chết khát.
One critical section in the red heart of Australia involved finding a route through the McDonnell mountain range and the finding water on the other side.
Một phần quan trọng của vùng trung tâm sôi động của Úc liên quan đến việc tìm kiếm một lịch trình đi xuyên qua dãy núi MacDonnell và tìm nước bên phía bên kia.
G The water was not only essential for the construction team.
Nước không chỉ quan trọng cho đội ngũ xây dựng.
There had to be telegraph repeater stations every few hundred miles to boost the signal and the staff obviously had to have a supply of water.
Cần phải có trạm lặp điện tử sau vài trăm dặm để tăng tín hiệu và các nhân viên phải có nguồn cung cấp nước sạch.
Just as one mapping team was about to give up and resort to drinking brackish water, some aboriginals took pity on them.
Ngay khi một nhóm lập bản đồ chuẩn bị từ bỏ và định uống nước lợ, thổ dân đã giúp đỡ họ.
Altogether, 40,000 telegraph poles were used in the Australian overland wire.
Mặc dù, 40,000 cột điện báo đã được sử dụng trong hệ thống dây điện ngầm của Úc.
Some were cut from trees.
Một trong số đó không dùng đến cột gỗ.
Where there were no trees, or where termites ate the wood, steel poles were imported.
Nơi không có cây cối, hoặc nơi mối ăn gỗ, các cột thép nhập khẩu được sử dụng.
H On Thursday, August 22, 1872, the overland line was completed and the first messages could be sent across the continent; and within a few months, Australia was at last in direct contact with England via the submarine cable, too.
Vào thứ năm, ngày 22 tháng 8 năm 1872, đường dây trên mặt đất đã được hoàn thành và những thông điệp đầu tiên đã có thể gửi đến khắp lục địa, và chỉ cần vài tháng, Úc cuối cùng cũng đã liên lạc trực tiếp với Anh thông qua dây cáp ngầm xuyên biển.
The line remained in service to bring news of the Japanese attack on Darwin in 1942.
Đường dây này vẫn hoạt động để mang tin tức cuộc tấn công của Nhật vào Darwin vào năm 1942.
It could cost several pounds to send a message and it might take several hours for it to reach its destination on the other side of the globe, but the world would never be the same again.
Có thể tốn vài bảng anh để gửi một thông điệp và nó có thể tốn vài giờ để đến đích ở bên kia bán cầu, nhưng thế giới sẽ không còn hoạt động như trước nữa.
Governments could be in touch with their colonies.
Các chính phủ có thể giữ liên lạc với các thuộc địa của họ.
Traders could send cargoes based on demand and the latest prices.
Các thương nhân có thể gửi hàng hóa đặt trước và giá cả cập nhật mới nhất.
Newspapers could publish news that had just happened and was not many months old.
Báo có thể đăng tin tức mới nhất mới xảy ra mà không còn bị chậm mấy tháng.

Từ vựng (11)

  • monk (ˈməŋk) — thầy tu
  • monastery (ˈmɑː.nə.ster.i) — tu viện
  • abbot (ˈæb.ət) — tu viện trưởng
  • tonic (ˈtɑː.nɪk) — làm sung sức
  • dial (ˈdaɪ.əl) — quay số điện thoại/la bàn
  • insulate (ˈɪn.sə.leɪt) — cách điện
  • latex (ˈleɪ.teks) — mủ cây
  • reputed (rɪˈpjuː.t̬ɪd) — believed
  • misguided (ˌmɪsˈɡaɪ.dɪd) — sai lầm
  • bullock cart (ˈbʊl.ək) (ˈkɑɹt) — xe bò
  • cargo (ˈkɑːr.ɡoʊ) — hàng hóa