← Danh sách bài đọc
Bài 129

Designed to Last

Thiết kế để trường tồn

Jonathan Chapman, a senior lecturer at the University of Brighton, UK, is one of a new breed of "sustainable designers'.
Jonathan Chapman, giảng viên cấp cao tại Đại học Brighton, Vương quốc Anh, là một trong những “nhà thiết kế bền vững” kiểu mới.
Like many of us, they are concerned about the huge waste associated with Western consumer culture and the damage this does to the environment.
Giống như phần lớn chúng ta, họ lo ngại về sự lãng phí khổng lồ liên quan đến văn hóa tiêu dùng phương Tây và tác hại của điều này đối với môi trường.
Some, like Chapman, aim to create objects we will want to keep rather than discard.
Một số nhà thiết kế, như Chapman, mong muốn tạo ra các đồ vật mà chúng ta muốn giữ lại hơn là vứt bỏ.
Others are working to create more efficient or durable consumer goods or goods designed with recycling in mind.
Những người khác thì nỗ lực tạo ra hàng hóa tiêu dùng hiệu quả hoặc lâu bền hơn hay hàng hóa được thiết kế nhằm mục đích tái chế.
The waste entailed in our fleeting relationships with consumer durables is colossal.
Những mối quan hệ chớp nhoáng của chúng ta với những hàng tiêu dùng lâu bền gây ra một sự lãng phí khổng lồ.
Domestic power tools, such as electric drills, are a typical example of such waste.
Các dụng cụ điện cầm tay gia dụng, chẳng hạn như máy khoan điện, là một ví dụ điển hình của sự lãng phí đó.
However much DIY the purchaser plans to do, the truth is that these things are thrown away having been used, on average, for just ten minutes.
Dù người mua cố gắng tự làm đồ dùng nhiều thế nào, thì thực tế những thứ này sẽ bị vứt đi sau khi được sử dụng, trung bình, chỉ trong mười phút.
Most will serve conscience time, gathering dust on a shelf in the garage; people are reluctant to admit that they have wasted their money.
Hầu hết chúng chỉ có tác dụng an ủi lương tâm, gom bụi trên kệ trong nhà để xe; rồi người dùng miễn cưỡng thừa nhận rằng họ đã lãng phí tiền.
However, the end is inevitable for thousands of years in landfill waste sites.
Tuy nhiên, kết cục không tránh khỏi của chúng là hàng nghìn năm tại các bãi rác thải chôn lấp.
In its design, manufacture, packaging, transportation, and disposal, a power tool consumes many times its own weight in resources, all for a shorter active lifespan than that of the average small insect.
Quá trình thiết kế, sản xuất, đóng gói, vận chuyển và huỷ bỏ một dụng cụ điện cầm tay tiêu thụ tài nguyên gấp nhiều lần trọng lượng nguyên vật liệu của chính nó, bởi vòng đời hoạt động của sản phẩm ngắn hơn cả tuổi thọ trung bình của một con côn trùng nhỏ.
To understand why we have become so wasteful, we should look to the underlying motivation of consumers.
Để hiểu tại sao chúng ta lại trở nên lãng phí như vậy, chúng ta nên nhìn vào động cơ tiềm ẩn của người tiêu dùng.
'People own things to give expression to who they are and to show what group of people they feel they belong to' Chapman says.
"Người ta sở hữu những đồ vật nhằm thể hiện con người và giai cấp của mình" Chapman nói.
In a world of mass production, however, that symbolism has lost much of its potency.
Tuy nhiên, trong một thế giới sản xuất hàng loạt, chủ nghĩa biểu tượng đó đã không còn sức mạnh.
For most of human history, people had an intimate relationship with objects they used or treasured.
Trong phần lớn lịch sử loài người, con người có mối quan hệ mật thiết với những đồ vật mà họ sử dụng hoặc có được.
Often they made the objects themselves, or family members passed them on.
Thường thì họ tự tay làm đồ vật, hoặc được người thân trong gia đình truyền lại.
For more specialist objects, people relied on expert manufacturers living close by, whom they probably knew personally.
Đối với các đồ vật đòi hỏi chuyên môn chế tạo, người ta nhờ vào các nhà sản xuất lành nghề sống gần và thân thuộc với họ.
Chapman points out that all these factors gave objects a history - a narrative - and an emotional connection that today's mass production cannot match.
Chapman chỉ ra rằng tất cả những yếu tố này đã cho các đối tượng một lịch sử - một câu chuyện kể - và một mối liên hệ về cảm xúc mà sản xuất hàng loạt ngày nay không thể sánh được.
Without these personal connections, consumerist culture instead idolizes novelty.
Nếu không có những mối liên hệ cá nhân này, văn hóa chủ nghĩa tiêu dùng thay vào đó sẽ tôn thờ sự mới lạ.
We know we can't buy happiness, but the chance to remake ourselves with glossy, box-fresh products seems irresistible.
Chúng ta biết rằng mình không thể mua được hạnh phúc, nhưng khó có thể cưỡng lại cơ hội tân trang bản thân với những sản phẩm mới tinh, bóng bẩy.
When the novelty fades we simply renew the excitement by buying more new stuff: what John Thackara of Doors of Perception, a network for sharing ideas about the future of design, calls the "schlock of the new".
Khi sự mới lạ phai nhạt dần, chúng ta chỉ đơn giản là khôi phục sự phấn khích bằng cách mua thêm nhiều thứ mới: cái mà nhà văn John Thackara trong hội nghị mang tên “Những cánh cửa nhận thức”, một hội nghị kết nối, chia sẻ ý tưởng về tương lai của thiết kế, gọi là “phế phẩm của sự mới mẻ”.
As a sustainable designer, Chapman's solution is what he calls "emotionally durable design".
Là một nhà thiết kế bền vững, giải pháp của Chapman được ông gọi là “thiết kế lâu bền về mặt cảm xúc”.
Think about your favourite old jeans.
Hãy nghĩ về những chiếc quần jean cũ yêu thích của bạn.
They just don't have the right feel until they have been worn and washed a hundred times, do they?
Chúng chỉ gây chút khó chịu sau khi được mặc và giặt hàng trăm lần, phải không?
It is like they are sharing your life story.
Có vẻ như chúng đang chia sẻ câu chuyện cuộc đời bạn vậy.
You can fake that look, but it isn't the same.
Bạn có thể nguỵ tạo vẻ bề ngoài, nhưng về bản chất thì không giống nhau.
Chapman says the gradual unfolding of a relationship like this transforms our interactions with objects into something richer than simple utility.
Chapman nói rằng việc dần dần mở ra một mối quan hệ như thế này sẽ biến tương tác của chúng ta với các đồ vật thành một thứ gì đó phong phú hơn là tính khả dụng đơn thuần.
Swiss industrial analyst Walter Stahel, visiting professor at the University of Surrey, calls it the "teddy-bear factor".
Nhà phân tích ngành công nghiệp ngườiThụy Sĩ, Walter Stahel, giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Surrey, gọi đó là “yếu tố gấu bông”.
No matter how ragged and worn a favourite teddy becomes, we don't rush out and buy another one.
Cho dù một con gấu bông yêu thích có trở nên rách nát và tả tơi như thế nào, thì chúng ta cũng không vội mua một con khác.
As adults, our teddy bear connects us to our childhoods, and this protects it from obsolescence, Stahel says this is what sustainable design needs to do.
Với người lớn, gấu bông kết nối chúng ta với tuổi thơ, và điều này khiến nó không bị bỏ xó, Stahel nói rằng đây là điều mà thiết kế bền vững cần phải làm được.
It is not simply about making durable items that people want to keep.
Nó không chỉ đơn giản là làm ra những món đồ bền mà người ta muốn giữ.
Sustainable design is a matter of properly costing the whole process of production, energy use, and disposal.
Thiết kế bền vững xoay quanh việc lên chi phí hợp lý cho toàn bộ quá trình sản xuất, sử dụng năng lượng và thải bỏ.
"It is about the design of systems, the design of culture," says Tim Cooper from the Centre for Sustainable Consumption at Sheffield Hallam University in Britain.
Tim Cooper từ Trung tâm Tiêu dùng Bền vững tại Đại học Sheffield Hallam ở Anh cho biết: “Đó là về thiết kế hệ thống, thiết kế văn hóa”.
He thinks sustainable design has been "surprisingly slow to take off" but says looming environmental crises and resource depletion are pushing it to the top of the agenda.
Ông cho rằng thiết kế bền vững “khởi động chậm một cách đáng ngạc nhiên” nhưng cho biết các cuộc khủng hoảng môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên lăm le ập tới đang đẩy nó lên hàng đầu trong chương trình nghị sự.
Thackara agrees.
Thackara đồng ý.
For him, the roots of impending environmental collapse can be summarized in two words: weight and speed.
Đối với ông, gốc rễ của sự sụp đổ môi trường sắp xảy ra có thể được tóm tắt trong hai từ: sức nặng và tốc độ.
We are making more stuff than the planet can sustain and using vast amounts of energy moving more and more of it around ever faster.
Chúng ta đang tạo ra nhiều thứ hơn mức hành tinh có thể chịu đựng và sử dụng lượng lớn năng lượng để vận chuyển chúng nhanh hơn nữa.
The Information Age was supposed to lighten our economies and reduce our impact on the environment, but the reverse seems to be happening.
Thời đại Thông tin được cho là sẽ giảm tải cho nền kinh tế của chúng ta và giảm tác động của chúng ta lên môi trường, nhưng điều ngược lại dường như đang xảy ra.
We have simply added information technology to the industrial era and hastened the developed world's metabolism, Thackara argues.
Thackara cho rằng chúng ta chỉ đơn giản là bổ sung công nghệ thông tin vào kỷ nguyên công nghiệp và đẩy nhanh quá trình chuyển hoá của một thế giới đã phát triển.
Once you grasp that, the cure is hardly rocket science: minimize waste and energy use, stop moving stuff around so much and use people more.
Một khi bạn hiểu được điều đó, giải pháp không phải là điều gì khó khăn: giảm thiểu lãng phí và mức sử dụng năng lượng, ngừng di chuyển đồ đạc quá nhiều và sử dụng con người nhiều hơn.
EZIO MANZINI, Professor of industrial design at Politecnico di Milano University, Italy, describes the process of moving to a post-throwaway society as "changing the engine of an aircraft in mid-flight'.
EZIO MANZINI, Giáo sư ngành thiết kế công nghiệp tại Đại học Politecnico di Milano, Ý, mô tả quá trình chuyển sang một xã hội hậu vứt bỏ là “thay đổi động cơ của một chiếc máy bay khi đang bay”.
Even so, he believes it can be done, and he is not alone.
Mặc dù vậy, ông tin rằng nó có thể làm được, và không chỉ mình ông tin vào điều này.
Manzini says a crucial step would be to redesign our globalized world into what he calls the "multi-local society".
Manzini nói rằng một bước quan trọng sẽ là thiết kế lại thế giới toàn cầu hóa của chúng ta thành cái mà ông gọi là “xã hội đa địa phương”.
His vision is that every resource, from food to electricity generation, should as far as possible be sourced and distributed locally.
Tầm nhìn của ông là mọi nguồn lực, từ thực phẩm đến sản xuất điện, phải có nguồn gốc và được phân phối tại địa phương càng nhiều càng tốt.
These local hubs would then be connected to national and global networks to allow the most efficient use and flow of materials.
Các trung tâm trung chuyển địa phương này sau đó sẽ được kết nối với các mạng lưới quốc gia và toàn cầu, cho phép sử dụng và lưu chuyển vật liệu hiệu quả nhất.
So what will post-throwaway consumerism look like?
Vậy chủ nghĩa tiêu dùng sau vứt bỏ sẽ như thế nào?
For a start, we will increasingly buy sustainably designed products.
Bước đầu, chúng ta sẽ tăng cường mua các sản phẩm được thiết kế bền vững.
This might be as simple as installing energy-saving light bulbs, more efficient washing machines, or choosing locally produced groceries with less packaging.
Điều này có thể chỉ đơn giản như lắp đặt bóng đèn tiết kiệm năng lượng, máy giặt hiệu suất cao hơn hoặc chọn hàng tạp hoá nội địa với ít bao bì hơn.
We will spend less on material goods and more on services.
Chúng ta sẽ chi tiêu ít hơn cho của cải vật chất và nhiều hơn vào dịch vụ.
Instead of buying a second car, for example, we might buy into a car-sharing network.
Ví dụ, thay vì mua một chiếc ô tô thứ hai, chúng ta có thể tiêu tiền vào một mạng lưới đi chung xe ô tô.
We will also buy less and rent a whole lot more: why own things that you hardly use, especially things that are likely to be updated all the time?
Chúng ta cũng sẽ mua ít hơn và thuê nhiều hơn: tại sao lại sở hữu những thứ mà bạn hầu như không sử dụng, đặc biệt là những thứ có khả năng được cập nhật liên tục?

Từ vựng (19)

  • durable goods (ˈdʊr.ə.bəl) (ɡʊdz) — hàng tiêu dùng lâu bền (loại hàng hóa đặc biệt không bị hao mòn nhanh chóng nên không phải thường xuyên mua mới. hàng lâu bền là một phần của hệ thống bán lẻ cốt lõi vì chúng không cần mua thường xuyên và có tuổi thọ không dưới 5 năm)
  • with something in mind (wɪð) (ˈsʌm.θɪŋ) (ˈɪn, ɪn) (maɪnd) — với mục đích làm cái gì, nhắm vào cái gì
  • be entailed in (biː) (ɪnˈteɪl) (ˈɪn, ɪn) — liên quan tới, bị kéo theo bởi
  • domestic power tool (dəˈmes.tɪk) (ˈpaʊ.ɚ) (tuːl) — dụng cụ điện cầm tay gia dụng
  • diy = do it yourself (ˌdiː.aɪˈwaɪ) (də) (ɪt) (jʊrˈself) — tự làm đồ dùng
  • potency (ˈpoʊ.t̬ənt.si) — sức mạnh
  • treasure (ˈtreʒ.ɚ) — tích luỹ; quý trọng
  • know somebody personally (noʊ) (ˈsʌmˌbɑː.di) (ˈpɝː.sən.əl.i) — biết rõ, quen thân với ai
  • box-fresh product (bɑːks) (freʃ) (ˈprɑː.dʌkt) — đồ mới tinh, hàng đập hộp
  • schlock (us informal) (ʃlɑːk) (ʌs) (ɪnˈfɔːr.məl) — đồ phế phẩm, kém chất lượng
  • obsolescence (ˌɑːb.səˈles.əns) — sự lỗi thời, sự phế bỏ
  • impending (ɪmˈpen.dɪŋ) — sắp sửa diễn ra
  • hasten (ˈheɪ.sən) — đẩy nhanh
  • something be not/hardly rocket science (ˈsʌm.θɪŋ) (biː) (nothardly*) (ˈrɑː.kɪt) (ˈsaɪ.əns) — cái gì đó không khó khăn hay khó hiểu (luôn được dùng với phủ định từ)
  • energy-saving light bulb (ˈen.ɚ.dʒi) (ˈseɪ.vɪŋ) (laɪt) (bʌlb) — bóng đèn tiết kiệm năng lượng
  • car-sharing network (kɑːr) (ʃer) (ˈnet.wɝːk) — hệ thống đi chung xe ô tô
  • a in place for something (ˈeɪ, ə) (ˈɪn, ɪn) (pleɪs) (fɔːr) (ˈsʌm.θɪŋ) — a được chuẩn bị sẵn cho việc gì
  • green credentials (ɡriːn) (krɪˈden·ʃəlz) — chứng chỉ xanh (chứng nhận tổ chức/ cá nhân có những đóng góp trong hoạt động bảo vệ môi trường)
  • A stay one step ahead of B (ˈeɪ, ə) (steɪ) (wʌn) (step) (əˈhed) (əv) (ˈbi) — A đi trước một bước; có lợi thế, chuẩn bị kỹ càng hơn B