← Danh sách bài đọc
Bài 131

Travel Accounts

Những tác phẩm du ký

There are many reasons why individuals have traveled beyond their own societies.
Ngày nay,có nhiều lý do tại sao con người bước ra ngoài xã hội của họ.
Some travelers may have simply desired to satisfy curiosity about the larger world.
Một số người có thể chỉ đơn giản là mong muốn được thỏa mãn sự tò mò về thế giới rộng lớn bên ngoài.
Until recent times, however, trade, business dealings, diplomacy, political administration, military campaigns, exile, flight from persecution, migration, pilgrimage, missionary efforts, and the quest for economic or educational opportunities were more common inducements for foreign travel than was a mere curiosity.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, thương mại, giao thương, ngoại giao, sự điều hành chính trị, những chiến dịch quân sự, chuyến lưu vong, trốn chạy khỏi sự đàn áp, di dân, hành hương, những nỗ lực truyền giáo và sự mưu cầu về cơ hội phát triển kinh tế và giáo dục nhìn chung là những chất xúc tác thường thấy để thúc đẩy con người bước chân ra ngoài hơn là do chính sự tò mò của họ.
While the travelers’ accounts give much valuable information on these foreign lands and provide a window for the understanding of the local cultures and histories, they are also a mirror to the travelers themselves, for these accounts help them to have a better understanding of themselves.
Bên cạnh việc các tác phẩm du ký của những kẻ lữ hành cung cấp rất nhiều thông tin giá trị về những vùng đất xa lạ và mang đến một cái nhìn về sự hiểu biết lịch sử và văn hoá địa phương, các tác phẩm này cũng phản chiếu được hình ảnh của những người lữ hành, giúp họ hiểu rõ hơn về chính bản thân họ.
Records of foreign travel appeared soon after the invention of writing, and fragmentary travel accounts appeared in both Mesopotamia and Egypt in ancient times.
Những ghi chép đầu tiên về việc du hành đến một đất nước khác xuất hiện ngay khi chữ viết được phát minh, và các bản du ký chắp vá cũng đã được tìm thấy ở cả Mesopotamia và Ai Cập trong thời cổ đại.
After the formation of large, imperial states in the classical world, travel accounts emerged as a prominent literary genre in many lands, and they held especially strong appeal for rulers desiring useful knowledge about their realms.
Sau khi các đế quốc lớn trong thế giới cổ đại được hình thành, du ký nổi lên như một thể loại văn học đáng chú ý ở nhiều vùng, và những tác phẩm đó như kêu gọi một cách đặc biệt mạnh mẽ đối với những nhà cai trị khao khát những kiến thức hữu ích về vùng lãnh thổ của họ.
The Greek historian Herodotus reported on his travels in Egypt and Anatolia in researching the history of the Persian wars.
Nhà sử học người Hy Lạp Herodotus đã ghi chép lại hành trình của ông ở Ai Cập và Anatolia trong việc nghiên cứu lịch sử chiến tranh Ba Tư.
The Chinese envoy Zhang Qian described much of central Asia as far west as Bactria (modern-day Afghanistan) on the basis of travels undertaken in the first century BC while searching for allies for the Han dynasty.
Nhà ngoại giao Trung Quốc, Trương Khiên (Zhang Qian), đã mô tả lại phần lớn khu vực Trung Á, về phía tây, như vùng Bactria (ngày nay là Afghanistan) dựa trên các chuyến du hành vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, trong hành trình tìm kiếm đồng minh cho vương triều nhà Hán.
Hellenistic and Roman geographers such as Ptolemy, Strabo, and Pliny the Elder relied on their own travels through much of the Mediterranean world as well as reports of other travelers to compile vast compendia of geographical knowledge.
Các nhà địa lý người Hy Lạp và La Mã như Ptolemy, Strabo và Pliny the Elder đã dựa vào các chuyến đi của họ qua phần lớn thế giới Địa Trung Hải cũng như các ghi chép của những nhà du hành khác để biên soạn những bản tóm lược tổng hợp kiến thức địa lý.
During the postclassical era (about 500 to 1500 CE), trade and pilgrimage emerged as major incentives for travel to foreign lands.
Trong suốt hậu kỳ cổ đại (khoảng năm 500 đến năm 1500 Công Nguyên), giao thương và việc hành hương nổi lên như là những động lực chính cho những chuyến du hành đến những vùng đất khác.
Muslim merchants sought trading opportunities throughout much of the eastern hemisphere.
Các thương gia Hồi giáo đã tìm kiếm các cơ hội giao thương ở phần lớn bán cầu phía Đông.
They described lands, peoples, and commercial products of the Indian Ocean basin from East Africa to Indonesia, and they supplied the first written accounts of societies in sub-Saharan west Africa.
Họ đã mô tả những vùng đất, con người và những sản phẩm thương mại của lưu vực Ấn Độ Dương từ vùng Đông Phi cho đến Indonesia, và họ cũng cung cấp những ghi chép bằng văn bản đầu tiên về xã hội ở khu vực châu Phi Hạ Sahara.
While merchants set out in search of trade and profit, devout Muslims traveled as pilgrims to Mecca to make their hajj and visit the holy sites of Islam.
Trong khi các thương gia tìm kiếm lợi nhuận về thương mại, những người Hồi giáo ngoan đạo đã thực hiện những chuyến đi như cuộc hành hương Hajj đến Mecca và ghé thăm các thánh địa Hồi giáo.
Since the prophet Muhammad’s original pilgrimage to Mecca, untold millions of Muslims have followed his example, and thousands of hajj accounts have related their experiences.
Từ chuyến hành hương đầu tiên của nhà tiên tri Muhammad đến Mecca, hàng triệu các tín đồ Hồi giáo đã theo chân ông ấy, và trải nghiệm của họ được ghi chép lại qua hàng ngàn bản du ký về những cuộc hành hương.
One of the best known Muslim travelers, Ibn Battuta, began his travels with the hajj but then went on to visit central Asia, India, China, sub-Saharan Africa, and parts of Mediterranean Europe before returning finally to his home in Morocco.
Một trong những người lữ hành Hồi giáo nổi tiếng nhất, Ibn Battuta, đã bắt đầu chuyến hành trình của mình vớicuộc hành hương Hajj, nhưng sau đó ông đã ghé thăm khu vực Trung á, Ấn Độ, Trung Quốc, khu vực châu Phi hạ Sahara, và một phần Địa Trung Hải trước khi trở về quê hương của ông ở Morocco.
East Asian travelers were not quite so prominent as Muslims during the postclassical era, but they too followed many of the highways and sea lanes of the eastern hemisphere.
Những kẻ lữ hành Đông Á thường không nổi bật như những người Hồi giáo trong hậu kỳ cổ điển, nhưng họ cũng đi theo những lối mòn và ven theo đường biển ở bán cầu phía Đông.
Chinese merchants frequently visited Southeast Asia and India, occasionally venturing even to east Africa, and devout East Asian Buddhists undertook distant pilgrimages.
Các thương gia Trung Quốc thường xuyên viếng thăm Đông Nam Á và Ấn Độ, thỉnh thoảng họ cũng mạo hiểm đến vùng Đông Phi, và những tín đồ Phật giáo Đông Á cũng thực hiện những cuộc hành hương xa xôi.
Between the 5th and 9th centuries CE, hundreds and possibly even thousands of Chinese Buddhists traveled to India to study with Buddhist teachers, collect sacred texts, and visit holy sites.
Giữa thế kỉ thứ 5 và thế kỉ thứ 9 Công Nguyên, đã có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn các Phật tử Trung Quốc đã đến Ấn Độ để học đạo với các giảng sư, thu thập các văn bản thiêng liêng, và viếng thăm các thánh địa.
Written accounts recorded the experiences of many pilgrims, such as Faxian, Xuanzang, and Yijing.
Đã có nhiều bản du ký ghi lại trải nghiệm của những người hành hương, như Pháp Hiển (Faxian), Huyền Trang (Xuanzang), và Nghĩa Tịnh (Yijing).
Though not so numerous as the Chinese pilgrims, Buddhists from Japan, Korea, and other lands also ventured abroad in the interests of spiritual enlightenment.
Mặc dù không nhiều như những người hành hương Trung Quốc, các Phật tử đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và một số vùng đất khác cũng đã mạo hiểm đi nước ngoài với mục đích giác ngộ tâm linh
Medieval Europeans did not hit the roads in such large numbers as their Muslim and east Asian counterparts during the early part of the postclassical era, although gradually increasing crowds of Christian pilgrims flowed to Jerusalem, Rome, Santiago de Compostela (in northern Spain), and other sites.
Những nhà thám hiểm châu Âu thời trung cổ đã không theo các lối mòn như phần lớn các tín đồ Hồi giáo và những kẻ du hành châu Á trong suốt thời gian đầu của hậu cổ điển, mặc dù ngày càng nhiều đám đông các tín đồ Cơ đốc giáo hành hương về Jerusalem, Rome, Santiago de Compostela (ở khu vực phía bắc Tây Ban Nha), hay các thánh địa khác.
After the 12th century, however, merchants, pilgrims, and missionaries from medieval Europe traveled widely and left numerous travel accounts, of which Marco Polo’s description of his travels and sojourn in China is the best known.
Tuy nhiên, sau thế kỉ 12, các thương gia, khách hành hương và các nhà truyền giáo châu Âu trung cổ đã du hành khắp nơi và để lại vô số các tác phẩm du ký, trong đó những mô tả của Marco Polo về cuộc hành trình và lưu trú của ông tại Trung Quốc được biết đến nhiều nhất.
As they became familiar with the larger world of the eastern hemisphere – and the profitable commercial opportunities that it offered – European peoples worked to find new and more direct routes to Asian and African markets.
Khi người châu Âu đã trở nên quen thuộc với thế giới rộng lớn ở đông bán cầu, cũng như những cơ hội đem lại lợi nhuận từ thương mại, họ đã tìm những con đường mới và thuận lợi hơn để đến với thị trường châu Á và châu Phi.
Their efforts took them not only to all parts of the eastern hemisphere but eventually to the Americas and Oceania as well.
Những nỗ lực này không chỉ đưa họ đến tất cả vùng đất ở bán đầu phía Đông mà còn tận cùng châu Mỹ và châu Đại Dương nữa.
If Muslim and Chinese peoples dominated travel writing in postclassical times, European explorers, conquerors, merchants, and missionaries took center stage during the early modern era (about 1500 to 1800 CE).
Nếu người Hồi giáo và người Trung Quốc thống trị những ghi chép về du hành trong thời kỳ hậu cổ điển, thì những nhà thám hiểm, những kẻ viễn chinh, những thương gia và những nhà truyền giáo đến từ châu Âu đã giành lại vị trí trung tâm đó trong suốt thời kỳ đầu của kỷ nguyên hiện đại (khoảng năm 1500 đến 1800 Công Nguyên).
By no means did Muslim and Chinese travel come to a halt in early modern times.
Điều này không có nghĩa là những chuyến hành trình của người Hồi giáo và người Trung Quốc dừng lại trong giai đoạn này.
But European peoples ventured to the distant corners of the globe, and European printing presses churned out thousands of travel accounts that described foreign lands and peoples for a reading public with an apparently insatiable appetite for news about the larger world.
Thế nhưng, người châu Âu đã thám hiểm các vùng đất xa xôi của trái đất, và những nhà in ấn đã cho ra đời hàng ngàn các tác phẩm du ký mô tả lại các vùng đất và con người ngoại quốc đến với công chúng đọc sách với khao khát thỏa mãn những thông tin về thế giới rộng lớn bên ngoài.
The volume of travel literature was so great that several editors, including Giambattista Ramusio, Richard Hakluyt, Theodore de Bry, and Samuel Purchas, assembled numerous travel accounts and made them available in enormous published collections.
Số lượng các tác phẩm du ký nhiều đến nỗi một số nhà biên tập thời đó, bao gồm Giambattista Ramusio, Richard Hakluyt, Theodore de Bry và Samuel Purchas, đã tập hợp các bài du ký lại và xuất bản thành những bộ sưu tập khổng lồ.
During the 19th century, European travelers made their way to the interior regions of Africa and the Americas, generating a fresh round of travel writing as they did so.
Trong suốt thế kỷ 19, những nhà du hành châu Âu đã đến các vùng nội địa châu Phi và châu Mỹ, tạo ra một tuần hoàn mới những tác phẩm du ký như họ đã làm trước đó.
Meanwhile, European colonial administrators devoted numerous writing to the societies of their colonial subjects, particularly in Asian and African colonies they established.
Trong khi đó, các nhà cai trị thuộc địa châu Âu đã cung cấp một số lượng lớn bài viết về xã hội của các khu vực thuộc địa mà họ đang nắm quyền, đặc biệt là ở các nước thuộc địa châu Á và châu Phi.
By midcentury, attention was flowing also in the other direction.
Đến giữa thế kỷ, sự chú ý được hướng theo khía cạnh khác.
Painfully aware of the military and technological prowess of European and Euro-American societies, Asian travelers, in particular, visited Europe and the United States in hopes of discovering principles useful for the reorganization of their own societies.
Nhận thức sâu sắc được về năng lực quân sự và kỹ thuật của xã hội châu Âu và Âu Mỹ, những nhà du hành châu Á đã đặc biệt đến châu Âu và Hoa Kỳ với hy vọng khám phá những nguyên lý hữu ích cho việc tái cấu trúc lại đất nước của mình.
Among the most prominent of these travelers who made extensive use of their overseas observations and experiences in their own writing were the Japanese reformer Fukuzawa Yukichi and the Chinese revolutionary Sun Yat-sen.
Nổi bật nhất trong số những nhà du hành lỗi lạc này là nhà cải cách Nhật Bản Fukuzawa Yukichi và nhà cách mạng Trung Quốc Tôn Trung Sơn (Sun Yat-sen), những người đã tận dụng triệt để những quan sát và kinh nghiệm của họ ở nước ngoài trong những những bài viết của mình.
With the development of inexpensive and reliable means of mass transport, the 20th century witnessed explosions both in the frequency of long-distance travel and in the volume of travel writing.
Với sự phát triển của các phương tiện vận tải đại quy mô giá rẻ và đáng tin cậy, thế kỷ 20 đã chứng kiến sự bùng nổ cả về tần suất của các chuyến du lịch đường dài lẫn số lượng các tác phẩm du ký.
While a great deal of travel took place for reasons of business, administration, diplomacy, pilgrimage, and missionary work, as in ages past, increasingly effective modes of mass transport made it possible for new kinds of travel to flourish.
Mặc dù một số lượng lớn các chuyến du hành với mục đích kinh doanh, hành chính, ngoại giao, hành hương và các công việc truyền giáo, so với giai đoạn trước đó, sự phát triển ngày càng hiệu quả của các phương tiện vận tải đại quy mô đã mở ra khả năng phát triển cho những loại hình du lịch mới.
The most distinctive of them was mass tourism, which emerged as a major form of consumption for individuals living in the world’s wealthy societies.
Trong số đó, loại hình đặc biệt nhất là du lịch đại chúng, vốn nổi lên như một hình thức tiêu tiền của giới thượng lưu.
Tourism enabled consumers to get away from home to see the sights in Rome, take a cruise through the Caribbean, walk the Great Wall of China, visit some wineries in Bordeaux, or go on safari in Kenya.
Ngành du lịch cho phép các du khách rời khỏi đất nước của họ để đến tham quan cảnh đẹp ở Rome, đi du thuyền qua vùng biển Caribbean, đi dạo tại Vạn Lý Trường Thành, tham quan một vài nhà máy sản xuất rượu ở Bordeaux, hay tham gia vào cuộc săn thú tại Kenya.
A peculiar variant of the travel account arose to meet the needs of these tourists: the guidebook, which offered advice on food, lodging, shopping, local customs, and all the sights that visitors should not miss seeing.
Một biến thể đặc biệt của thể loại du ký nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch chính là những quyển sách hướng dẫn du lịch, giới thiệu về ngành ẩm thực, nơi cư trú, địa điểm mua sắm, phong tục tại địa phương, và những cảnh đẹp mà du khách không nên bỏ lỡ.
Tourism has had a massive economic impact throughout the world, but other new forms of travel have also had considerable influence in contemporary times.
Ngành du lịch đã có những tác động lớn đến nền kinh tế thế giới, tuy nhiên những loại hình du lịch mới cũng có những ảnh hưởng đáng kể trong thời hiện đại.
Recent times have seen unprecedented waves of migration, for example, and numerous migrants have sought to record their experiences and articulate their feelings about life in foreign lands.
Chẳng hạn, thời gian gần đây chứng kiến những cuộc di dân chưa từng có, những người di dân tìm cách ghi lại những trải nghiệm mới và bày tỏ cảm xúc của họ về cuộc sống ở các vùng đất nước ngoài.
Recent times have also seen an unprecedented development of ethnic consciousness, and many are the intellectuals and writers in the diaspora who have visited the homes of their ancestors to see how much of their forebears’ values and cultural traditions they themselves have inherited.
Bên cạnh đó, sự phát triển về ý thức dân tộc cũng trở nên chưa từng thấy trong giai đoạn gần đây, nhiều nhà trí thức và nhà văn hải ngoại đã tìm về quê hương tổ tiên của họ để tìm lại các giá trị được thừa hưởng từ những truyền thống văn hoá.
Particularly notable among their accounts are the memoirs of Malcolm X and Maya Angelou describing their visits to Africa.
Đặc biệt nổi bật trong số những tác phẩm đó là hồi ký của Malcolm X và Maya Angelou, miêu tả lại cuộc hành trình đến châu Phi của họ.

Từ vựng (17)

  • curiosity (ˌkjʊr.iˈɑː.sə.t̬i) — sự tò mò
  • diplomacy (dɪˈploʊ.mə.si) — ngành ngoại giao
  • pilgrimage (ˈpɪl.ɡrə.mɪdʒ) — cuộc hành hương
  • missionary (ˈmɪʃ.er.i) — người truyền giáo có tính chất truyền giáo
  • prominent (ˈprɑː.mə.nənt) — lỗi lạc, xuất chúng
  • compile (kəmˈpaɪl) — biên soạn, tổng hợp
  • compendia (compendia*) — bản tóm tắt, bản trích yếu
  • postclassical era (postclassical*) (ˈer.ə) — thời đại Khai Sáng
  • eastern hemisphere (ˈiː.stɚn) (ˈhem.ə.sfɪr) — bán cầu phía Đông
  • devout (dɪˈvaʊt) — sùng đạo/ mộ đạo/ ngoan đạo
  • merchant (ˈmɝː.tʃənt) — thương gia
  • sacred texts (ˈseɪ.krɪd) (ˈtɛksts) — kinh (phật)
  • holy site (ˈhoʊ.li) (saɪt) — thánh địa
  • medieval (ˌmed.iˈiː.vəl) — thuộc thời trung cổ/ cổ xưa, xa xưa
  • winery (ˈwaɪ.nɚ.i) — nhà máy sản xuất rượu vang
  • safari (səˈfɑːr.i) — cuộc đi săn/quan sát thú rừng ở Đông Phi
  • unprecedented (ʌnˈpres.ə.den.t̬ɪd) — chưa từng thấy/ chưa từng có