← Danh sách bài đọc
Bài 133
Malaria Combat in Italy
Cuộc chiến chống lại bệnh sốt rét tại Ý
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Mal-aria. Bad air.
Từ ‘Mal-aria’ (Bệnh sốt rét) có thể được hiểu là ‘Không khí xấu’.
Even the world is Italian, and this horrible disease marked the life of those in the peninsula for thousands of years.
Giả sử thế giới là nước Ý, và căn bệnh khủng khiếp này đã gây ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều người sống trên bán đảo này trong hàng nghìn năm.
Giuseppe Garibaldi’s wife died of the disease, as did the country’s first prime minister, Cavour, in 1861.
Vợ của Giuseppe Garibaldi và Cavour, thủ tướng đầu tiên của Ý, mất vì căn bệnh này vào năm 1861.
Yet by 1962, Italy was officially declared malaria-free, and it has remained so ever since.
Đến năm 1962, Ý chính thức tuyên bố không còn bệnh sốt rét, và tình trạng này đã được duy trì kể từ đó.
Frank Snowden’s study of this success story is a remarkable piece of historical work.
Nghiên cứu của Frank Snowden về câu chuyện thành công của nước Ý là một tác phẩm lịch sử đáng chú ý.
Original, crystal-clear, analytical and passionate, Snowden (who has previously written about cholera) takes us to areas historians have rarely visited before.
Với một tác phẩm độc đáo, rõ ràng, giàu yếu tố phân tích và đam mê, Snowden (người trước đây đã viết về bệnh tả) đưa chúng ta đến những địa hạt mà các nhà sử học hiếm khi đặt chân đến trước đây.
Everybody now knows that malaria is carried by mosquitoes.
Ngày nay, mọi người đều hiểu rõ bệnh sốt rét do muỗi truyền qua.
Malaria has always been the subject of research for medical practitioners from time immemorial.
Sốt rét đã luôn là chủ đề nghiên cứu của các bác sĩ từ xa xưa.
However, many ancient texts, especially medical literature, mention of various aspects of malaria and even of its possible link with mosquitoes and insects.
Tuy nhiên, nhiều văn bản cổ, đặc biệt là tài liệu y học, đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của bệnh sốt rét, thậm chí cả mối liên hệ có thể có của bệnh sốt rét với muỗi và côn trùng.
Early man, confronting the manifestations of malaria, attributed the fevers to supernatural influences: evil spirits, angered deities, or the black magic of sorcerers.
Thời kì đầu khi đối mặt với các biểu hiện của bệnh sốt rét, con người cho rằng những cơn sốt là do các thế lực siêu nhiên: linh hồn ma quỷ, các vị thần giận dữ, hoặc ma thuật hắc ám của các thầy phù thủy.
But in the 19th century, most experts believed that the disease was not produced by unclean air (“miasma” or “poisoning of the air”).
Nhưng đến thế kỷ 19, hầu hết các chuyên gia tin rằng sốt rét không phải do không khí ô nhiễm (“chướng khí” hay “khí độc”).
Two Americans, Josiah Clark Nott and Lewis Daniel Beauperthy, echoed Crawford’s ideas.
Hai người Mỹ, Josiah Clark Nott và Lewis Daniel Beauperthy, đã không đồng tình với quan điểm của Crawford.
Nott in his essay “Yellow Fever Contrasted with Bilious Fever,” published in 1850, dismissed the miasma theory as worthless, arguing that microscopic insects somehow transmitted by mosquitoes caused both malaria and yellow fever.
Trong bài tiểu luận “Sốt vàng da khác với Sốt rét,” được công bố vào năm 1850, Nott đã bác bỏ giả thuyết chướng khí, cho rằng giả thuyết này vô giá trị; Nott lập luận bằng cách nào đó muỗi đã truyền các loài côn trùng siêu nhỏ và chúng gây ra bệnh sốt rét và bệnh sốt vàng da.
Others made a link between swamps, water and malaria, but did not make the further leap towards insects.
Những người khác tìm ra được mối liên hệ giữa đầm lầy, nước và sốt rét, nhưng chưa có bước tiến xa hơn đối với côn trùng.
The consequences of these theories were that little was done to combat the disease before the end of the century.
Kết quả của những giả thuyết này là rất ít nghiên cứu được thực hiện nhằm chống lại bệnh sốt rét trước cuối thế kỷ này.
Things became so bad that 11m Italians (from a total population of 25m) were “permanently at risk”.
Mọi thứ trở nên tồi tệ đến nỗi 11 triệu người người Ý (trong tổng 25 triệu) có “nguy cơ vĩnh viễn" bị sốt rét.
In malarial zones, the life expectancy of land workers was a terrifying 22.5 years.
Ở các vùng sốt rét, tuổi thọ của những người làm nông chỉ có 22,5 tuổi.
Those who escaped death were weakened or suffered from splenomegaly – a “painful enlargement of the spleen” and “a lifeless stare”.
Những người không tử vong do sốt rét cũng bị suy giảm sức khỏe hoặc bị chứng phì đại lách - “lá lách to ra, gây đau đớn” và “cái nhìn vô hồn”.
The economic impact of the disease was immense.
Tác động kinh tế của căn bệnh sốt rét vô cùng lớn.
Epidemics were blamed on southern Italians, given the widespread belief that malaria was hereditary.
Nguyên nhân của đại dịch được cho là do những người sống ở miền nam nước Ý; người ta tin rằng bệnh sốt rét có tính di truyền.
In the 1880s, such theories began to collapse as the dreaded mosquito was identified as the real culprit.
Vào những năm 1880, những giả thuyết như vậy bắt đầu bị lung lay khi loài muỗi đáng sợ được xác định là thủ phạm thực sự.
Italian scientists, drawing on the pioneering work of French doctor Alphonse Laveran, were able to predict the cycles of fever but it was in Rome that further key discoveries were made.
Dựa trên công trình tiên phong của bác sĩ người Pháp Alphonse Laveran, các nhà khoa học Ý có thể dự đoán các chu kỳ của cơn sốt, nhưng chính ở Rome, các khám phá quan trọng hơn đã được tìm ra.
Giovanni Battista Grassi, a naturalist, found that a particular type of mosquito was the carrier of malaria.
Nhà tự nhiên học Giovanni Battista Grassi đã phát hiện ra một loài muỗi cụ thể là vật mang bệnh sốt rét.
By experimenting on healthy volunteers (mosquitoes were released into rooms where they drank the blood of the human guinea pigs), Grassi was able to make the direct link between the insects (all females of a certain kind) and the disease.
Bằng cách thực nghiệm trên các người tình nguyện khỏe mạnh (muỗi được thả vào phòng và hút máu của các chuột lang), Grassi có thể xác định được mối liên hệ trực tiếp giữa côn trùng (tất cả các con cái thuộc một loại nhất định) và bệnh sốt rét.
Soon, doctors and scientists made another startling discovery: the mosquitoes themselves were also infected and not mere carriers.
Ngay sau đó, các bác sĩ và nhà khoa học đã khám phá ra một điều kinh ngạc khác: chính bản thân những con muỗi cũng bị nhiễm bệnh chứ không chỉ đơn thuần là vật mang mầm bệnh.
Every year, during the mosquito season, malarial blood was moved around the population by the insects.
Hàng năm, vào mùa muỗi, máu có chứa kí sinh trùng sốt rét được luân chuyển trong quần thể muỗi.
Definitive proof of these new theories was obtained after an extraordinary series of experiments in Italy, where healthy people were introduced into malarial zones but kept free of mosquito bites – and remained well.
Bằng chứng xác nhận những giả thuyết mới này đã được đưa ra sau một loạt thí nghiệm đặc biệt ở Ý, nơi những người khỏe mạnh được đưa vào vùng sốt rét nhưng không bị muỗi đốt - và vẫn khỏe mạnh.
The new Italian state had the necessary information to tackle the disease.
Chính quyền Ý mới đã có thông tin cần thiết để chống lại bệnh sốt rét.
A complicated approach was adopted, which made use of quinine – a drug obtained from tree bark which had long been used to combat fever but was now seen as a crucial part of the war on malaria.
Một phương pháp phức tạp đã được áp dụng, đó là sử dụng quinine - một loại thuốc được chiết từ vỏ cây từ lâu đã được sử dụng để chống sốt, nhưng hiện được xem là một phần quan trọng trong cuộc chiến chống lại bệnh sốt rét.
Italy introduced a quinine law and a quinine tax in 1904, and the drug was administered to large numbers of rural workers.
Ý đã ban hành luật và thuế quinine vào năm 1904, và loại thuốc này được phân phát cho một số lượng lớn lao động nông thôn.
Despite its often terrible side-effects (the headaches produced were known as the “quinine-buzz”), the drug was successful in limiting the spread of the disease, and in breaking cycles of infection.
Dù quinine thường có những tác dụng phụ khủng khiếp (những cơn đau đầu được tạo ra được biết đến là "quinine-buzz"), loại thuốc này đã thành công trong việc hạn chế sự lây lan của bệnh sốt rét và phá vỡ các chu kỳ lây nhiễm.
In addition, Italy set up rural health centres and invested heavily in education programmes.
Ngoài ra, Ý còn thiết lập các trung tâm y tế ở nông thôn và đầu tư mạnh vào các chương trình giáo dục.
Malaria, as Snowden shows, was not just a medical problem, but a social and regional issue, and could only be defeated through multi-layered strategies.
Snowden đã cho thấy sốt rét không chỉ là một vấn đề y tế, mà còn là một vấn đề xã hội và theo khu vực, và sốt rét chỉ có thể bị đánh bại thông qua các chiến lược đa lớp.
Politics was itself transformed by the anti-malarial campaigns.
Bản thân chính trị đã được biến đổi bởi các chiến dịch chống sốt rét.
It was originally decided to give quinine to all those in certain regions – even healthy people; peasants were often suspicious of the medicine being forced upon them.
Ban đầu nước Ý quyết định cung cấp quinine cho tất cả những người ở một số vùng nhất định – kể cả họ đang khỏe mạnh; nông dân thường nghi ngờ loại thuốc mà họ bị ép uống.
Doctors were sometimes met with hostility and refusal, and many were dubbed “poisoners”.
Các bác sĩ đôi khi phải đối mặt với thái độ thù địch và chống đối, và nhiều người trong số họ còn bị bêu rếu là “những kẻ đầu độc”.
Despite these problems, the strategy was hugely successful.
Bất chấp những vấn đề này, chiến lược đã thành công vang dội.
Deaths from malaria fell by some 80% in the first decade of the 20th century and some areas escaped altogether from the scourge of the disease.
Số ca tử vong do sốt rét đã giảm khoảng 80% trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20 và một số khu vực đã hoàn toàn thoát khỏi thảm họa của bệnh sốt rét.
Shamefully, the Italian malaria expert Alberto Missiroli had a role to play in the disaster: he did not distribute quinine, despite being well aware of the epidemic to come.
Thật đáng hổ thẹn, Alberto Missiroli, chuyên gia về bệnh sốt rét người Ý, có đóng vai trò trong thảm họa này: ông đã không phân phối quinine, dù nhận thức rất rõ dịch bệnh sắp xảy ra.
Snowden claims that Missiroli was already preparing a new strategy – with the support of the US Rockefeller Foundation – using a new pesticide, DDT.
Snowden tuyên bố rằng Missiroli đã chuẩn bị cho một chiến lược mới - với sự hỗ trợ của Quỹ Rockefeller Mỹ - sử dụng một loại thuốc trừ sâu mới, DDT.
Missiroli allowed the epidemic to spread, in order to create the ideal conditions for a massive, and lucrative, human experiment.
Missiroli đã để dịch bệnh lây lan nhằm tạo điều kiện lý tưởng cho một cuộc thí nghiệm sinh lợi trên diện rộng ở người.
Fifty-five thousand cases of malaria were recorded in the province of Littoria alone in 1944.
55 nghìn trường hợp mắc sốt rét đã được ghi nhận chỉ riêng ở tỉnh Littoria vào năm 1944.
It is estimated that more than a bird of those in the affected area contracted the disease.
Người ta ước tính rằng có hơn một con gia cầm của những người trong khu vực bị ảnh hưởng đã mắc bệnh.
Thousands, nobody knows how many, died.
Hàng ngàn người, không rõ con số cụ thể, đã chết.
With the war over, the US government and the Rockefeller Foundation were free to experiment.
Khi chiến tranh kết thúc, chính phủ Mỹ và Quỹ Rockefeller được tự do thử nghiệm.
DDT was sprayed from the air and 3m Italians had their bodies covered with the chemical.
DDT được xả ra từ trên cao và 3 triệu người Ý bị bao phủ bởi chất hóa học.
The effects were dramatic, and nobody really cared about the toxic effects of the chemical.
Tác động cực kì nghiêm trọng, và không ai thực sự quan tâm đến hệ quả độc hại của hóa chất.
By 1962, malaria was more or less gone from the whole peninsula.
Đến năm 1962, bệnh sốt rét ít nhiều đã biến mất khỏi toàn bộ bán đảo (nước Ý).
The last cases were noted in a poor region of Sicily.
Các ca bệnh cuối cùng được ghi nhận ở một khu vực còn nghèo khó của Sicily.
One of the final victims to die of the disease in Italy was the popular cyclist, Fausto Coppi.
Một trong những nạn nhân cuối cùng chết vì sốt rét ở Ý là tay đua xe đạp nổi tiếng, Fausto Coppi.
Từ vựng (27)
- crystal-clear (ˈkrɪs.təl) (klɪr) — rõ ràng
- cholera (ˈkɑː.lɚ.ə) — bệnh tả
- immemorial (ˌɪm.əˈmɔːr.i.əl) — xa xưa
- medical literature (ˈmed.ɪ.kəl) (ˈlɪt̬.ɚ.ə.tʃɚ) — tài liệu y học
- manifestation (ˌmæn.ə.fesˈteɪ.ʃən) — biểu hiện
- angered deities (ˈæŋ.ɡɚ) (ˈdiətiz) — các vị thần giận dữ
- miasma (miˈæz.mə) — chướng khí
- yellow fever (ˈjel.oʊ) (ˈfiː.vɚ) — bệnh sốt vàng da
- bilious fever (malaria) (ˈbɪl.i.əs) (ˈfiː.vɚ) (məˈler.i.ə) — bệnh sốt rét
- transmit (trænsˈmɪt) — truyền, lây nhiễm
- immense (ɪˈmens) — to lớn
- hereditary (həˈred.ə.ter.i) — tính di truyền
- draw on sth (C1) (drɑː) (ɑːn) (sth*) (ˈsi) — dựa trên cái gì
- startling (ˈstɑːr.t̬əlɪŋ) — kinh ngạc, đáng lo lắng
- extraordinary (ɪkˈstrɔːr.dən.er.i) — đặc biệt
- combat (ˈkɑːm.bæt) — chống lại, chiến đấu
- crucial (ˈkruː.ʃəl) — quan trọng
- administer (ədˈmɪn.ə.stɚ) — phân phối, quản lý, thi hành
- side-effect (saɪd) (əˈfekt) — tác dụng phụ
- spread (spred) — lan rộng
- multi-layered strategie (ˈməɫti) (ˈleɪ.ɚd) (strategie*) — chiến lược đa lớp
- dub (dʌb) — phong cho, gán cho (một cái tên, biệt danh)
- altogether (ˌɑːl.təˈɡeð.ɚ) — cả thảy, tất cả
- scourge of sth (skɝːdʒ) (əv) (sth*) — thảm họa của cái gì
- epidemic (ˌep.əˈdem.ɪk) — dịch bệnh
- lucrative (ˈluː.krə.t̬ɪv) — có lợi, sinh lợi/lãi
- contract (C2) (ˈkɑːn.trækt) (ˈsi) — nhiễm bệnh