← Danh sách bài đọc
Bài 136
The Power of Nothing
Sức mạnh của không có gì
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Want to devise a new form of alternative medicine?
Bạn muốn tạo ra một dạng thuốc thay thế mới?
No problem.
Không thành vấn đề.
Here is the recipe.
Đây là công thức.
Be warm, sympathetic, reassuring and enthusiastic.
Ấm áp, thông cảm, làm yên lòng và đầy nhiệt tình.
Your treatment should involve physical contact, and each session with your patients should last at least half an hour.
Quá trình điều trị của bạn nên liên quan đến tác động vật lý và mỗi phiên điều trị với bệnh nhân của bạn nên kéo dài ít nhất nửa giờ.
Encourage your patients to take an active part in their treatment and understand how their disorders relate to the rest of their lives.
Khuyến khích bệnh nhân của bạn tham gia tích cực vào quá trình điều trị của họ và hiểu các rối loạn của họ liên quan như thế nào đến phần đời còn lại của họ.
Tell them that their own bodies possess the true power to heal.
Nói với họ rằng cơ thể của họ sở hữu sức mạnh thực sự để chữa trị.
Make them pay you out of their own pockets.
Khiến họ trả cho bạn từ chính túi tiền của họ.
Describe your treatment in familiar words, but embroidered with a hint of mysticism: energy fields, energy flows, energy blocks, meridians, forces, auras, rhythms and the like.
Mô tả cách điều trị của bạn bằng những từ quen thuộc, nhưng được thêu dệt bằng một chút huyền bí: trường năng lượng, dòng năng lượng, khối năng lượng, kinh mạch, sức mạnh, hào quang, nhịp điệu và những thứ tương tự.
Refer to the knowledge of an earlier age: wisdom carelessly swept aside by the rise and rise of blind, mechanistic science.
Tham khảo kiến thức của một thời đại trước đó: sự khôn ngoan bị gạt sang một bên một cách bất cẩn trước sự phát triển mù quáng, của khoa học máy móc.
Oh, come off it, you are saying.
Ồ, quên đi, bạn đang nói.
Something invented off the top of your head could not possibly work, could it?
Điều gì đó được nảy ra từ đầu của bạn thì không có khả năng hoạt động, phải không?
Well yes, it could – and often well enough to earn you a living.
Vâng, nó có thể - và thường đủ để bạn kiếm sống.
A good living if you are sufficiently convincing, or better still, really believe in your therapy.
Một cuộc sống tốt nếu bạn đủ thuyết phục, hoặc tốt hơn nữa, thực sự tin tưởng vào liệu pháp của bạn.
Many illnesses get better on their own, so if you are lucky and administer your treatment at just the right time you will get the credit.
Nhiều bệnh tự tiến triển tốt lên, vì vậy nếu bạn may mắn và tiến hành điều trị đúng lúc, bạn sẽ nhận được thành quả.
But that’s only part of it.
Nhưng đó chỉ là một phần của nó.
Some of the improvement really would be down to you.
Một số cải thiện thực sự sẽ phụ thuộc vào bạn.
Your healing power would be the outcome of a paradoxical force that conventional medicine recognizes but remains oddly ambivalent about: the placebo effect.
Khả năng chữa bệnh của bạn sẽ là kết quả của một lượng nghịch lý mà y học thông thường công nhận nhưng vẫn mâu thuẫn một cách kỳ lạ về: hiệu ứng giả dược.
Placebos are treatments that have no direct effect on the body, yet still, work because the patient has faith in their power to heal.
Giả dược là phương pháp điều trị không có tác dụng trực tiếp lên cơ thể, tuy nhiên nó vẫn hiệu quả vì bệnh nhân có niềm tin vào khả năng chữa bệnh của họ.
Most often the term refers to a dummy pill, but it applies just as much to any device or procedure, from a sticking plaster to a crystal to an operation.
Thông thường, thuật ngữ này đề cập đến một viên thuốc giả, nhưng nó cũng áp dụng nhiều cho bất kỳ thiết bị hoặc quy trình nào, từ băng keo cá nhân đến tinh thể cho đến một cuộc phẫu thuật.
The existence of the placebo effect implies that even quackery may confer real benefits, which is why any mention of placebo is a touchy subject for many practitioners of complementary and alternative medicine, who are likely to regard it as tantamount to a charge of charlatanism.
Sự tồn tại của hiệu ứng giả dược ngụ ý rằng ngay cả thủ đoạn lang băm cũng có thể mang lại những lợi ích thực sự, đó là lý do tại sao bất kỳ sự đề cập nào về giả dược đều là một chủ đề nhạy cảm đối với nhiều người hành nghề y học bổ sung và thay thế, những người có khả năng xem nó như tội danh lang băm.
In fact, the placebo effect is a powerful part of all medical care, orthodox or otherwise, though its role is often neglected or misunderstood.
Trên thực tế, hiệu ứng giả dược là một phần quan trọng của tất cả các dịch vụ chăm sóc y tế, chính thống hay cách khác, mặc dù vai trò của nó thường bị bỏ qua hoặc hiểu sai.
At one level, it should come as no surprise that our state of mind can influence our physiology: anger opens the superficial blood vessels of the face; sadness pumps the tear glands.
Ở một mức độ nào đó, không có gì ngạc nhiên khi trạng thái tâm trí của chúng ta có thể ảnh hưởng đến sinh lý của chúng ta: tức giận làm mở các mạch máu trên khuôn mặt; nỗi buồn bơm tuyến nước mắt.
But exactly how placebos work their medical magic is still largely unknown.
Nhưng chính xác giả dược tạo ra phép thuật y học như thế nào vẫn chưa được biết đến nhiều.
Most of the scant research done so far has focused on the control of pain because it’s one of the commonest complaints and lends itself to experimental study.
Hầu hết các nghiên cứu ít ỏi được thực hiện cho đến nay đều tập trung vào việc kiểm soát cơn đau vì đây là một trong những lời phàn nàn phổ biến nhất và thích hợp để nghiên cứu thực nghiệm.
Here, attention has turned to the endorphins, morphine-like neurochemicals known to help control pain.
Ở đây, sự chú ý đã chuyển sang endorphin, chất hóa học thần kinh giống morphin được biết là giúp kiểm soát cơn đau.
“Any of the neurochemicals involved in transmitting pain impulses or modulating them might also be involved in generating the placebo response,” says Don Price, an oral surgeon at the University of Florida who studies the placebo effect in dental pain.
"Don Price, một bác sĩ phẫu thuật hàm tại Đại học Florida, người nghiên cứu về tác dụng của giả dược trong chứng đau răng, cho biết: “Bất kỳ hóa chất thần kinh nào liên quan đến việc truyền xung động cơn đau hoặc điều chỉnh chúng cũng có thể tham gia vào việc tạo ra phản ứng với giả dược."
“But endorphins are still out in front.”
“Nhưng endorphin vẫn dẫn xa trước.”
That case has been strengthened by the recent work of Fabrizio Benedetti of the University of Turin, who showed that the placebo effect can be abolished by a drug, naloxone, which blocks the effects of endorphins.
Trường hợp đó đã được củng cố bởi nghiên cứu gần đây của Fabrizio Benedetti thuộc Đại học Turin, người đã chỉ ra rằng hiệu ứng giả dược có thể bị huỷ bỏ bởi một loại thuốc, naloxone, ngăn chặn sự ảnh hưởng của endorphin.
Benedetti induced pain in human volunteers by inflating a blood-pressure cuff on the forearm.
Benedetti gây ra cơn đau cho những người tình nguyện bằng cách bơm căng băng quấn máy đo huyết áp trên cẳng tay.
He did this several times a day for several days, using morphine each time to control the pain.
Ông ấy làm điều này vài lần một ngày trong vài ngày, sử dụng morphine mỗi lần để kiểm soát cơn đau.
On the final day, without saying anything, he replaced the morphine with a saline solution.
Vào ngày cuối cùng, không nói bất cứ điều gì, ông ấy thay thế morphin bằng một dung dịch muối.
This still relieved the subjects’ pain: a placebo effect. But when he added naloxone to the saline the pain relief disappeared. Here was direct proof that placebo analgesia is mediated, at least in part, by these natural opiates.
Điều này vẫn làm giảm cơn đau của chủ thể: hiệu ứng giả dược. Nhưng khi ông ấy thêm naloxone vào nước muối sinh lý thì cơn đau biến mất. Đây là bằng chứng trực tiếp cho thấy giảm đau bằng giả dược tác dụng gián tiếp, ít nhất là một phần, nhờ các chất dạng thuốc nghiện tự nhiên này.
Still, no one knows how belief triggers endorphin release, or why most people can’t achieve placebo pain relief simply by willing it.
Tuy nhiên, không ai biết niềm tin khơi dậy endorphin giải phóng như thế nào hoặc tại sao hầu hết mọi người không thể giảm đau bằng giả dược chỉ đơn giản bằng cách sẵn lòng làm nó.
Though scientists don’t know exactly how placebos work, they have accumulated a fair bit of knowledge about how to trigger the effect.
Mặc dù các nhà khoa học không biết chính xác cách thức hoạt động của giả dược, nhưng họ đã tích lũy được một chút kiến thức về cách gây ra hiệu ứng.
A London rheumatologist found, for example, that red dummy capsules made more effective painkillers than blue, green or yellow ones.
Ví dụ, một bác sĩ khớp ở London đã phát hiện ra, ví dụ như những viên nang giả màu đỏ tạo ra thuốc giảm đau hiệu quả hơn những viên màu xanh lam, xanh lá cây hoặc vàng.
Research on American students revealed that blue pills make better sedatives than pink, a colour more suitable for stimulants.
Nghiên cứu trên các sinh viên Mỹ cho thấy những viên thuốc màu xanh lam tạo ra những thuốc an thần tốt hơn màu hồng, một màu phù hợp với chất kích thích hơn.
Even branding can make a difference: if Aspro or Tylenol is what you like to take for a headache, their chemically identical generic equivalents may be less effective.
Ngay cả việc xây dựng thương hiệu cũng có thể tạo ra sự khác biệt: nếu Aspro hoặc Tylenol là thứ bạn chọn dùng để giảm đau đầu, thì các sản phẩm tương đương chung về mặt hóa học của chúng có thể kém hiệu quả hơn.
It matters, too, how the treatment is delivered.
Làm thế nào cuộc điều trị được thực hiện cũng là vấn đề.
Decades ago, when the major tranquilliser chlorpromazine was being introduced, a doctor in Kansas categorised his colleagues according to whether they were keen on it, openly skeptical of its benefits, or took a “let’s try and see” attitude.
Nhiều thập kỷ trước, khi loại thuốc an thần chính chlorpromazine được công bố, một bác sĩ ở Kansas đã phân loại các đồng nghiệp của mình dựa vào việc họ có quan tâm đến nó hay không, công khai nghi ngờ về lợi ích của nó hay có thái độ “hãy thử và xem”.
His conclusion: the more enthusiastic the doctor, the better the drug performed.
Kết luận của ông: bác sĩ càng nhiệt tình, thuốc càng hoạt động tốt.
And this year Ernst surveyed published studies that compared doctors’ bedside manners.
Và năm nay Ernst đã khảo sát các nghiên cứu đã công bố so sánh các cách đối xử với bệnh nhân của bác sĩ.
The studies turned up one consistent finding: “Physicians who adopt a warm, friendly and reassuring manner,” he reported, “are more effective than those whose consultations are formal and do not offer reassurance.”
Ông báo cáo rằng các nghiên cứu đã đưa ra một phát hiện nhất quán: “Những bác sĩ có thái độ niềm nở, thân thiện và làm yên lòng sẽ hiệu quả hơn những bác sĩ có tư vấn chính thức và không mang lại sự trấn an”.
Warm, friendly and reassuring are precisely CAM’s strong suits, of course.
Tất nhiên, ấm áp, thân thiện và làm yên lòng là những khả năng mạnh mẽ của liệu thuốc bổ sung và thay thế.
Many of the ingredients of that opening recipe – the physical contact, the generous swathes of time, the strong hints of supernormal healing power – are just the kind of thing likely to impress patients. It’s hardly surprising, then, that complementary practitioners are generally best at mobilising the placebo effect, says Arthur Kleinman, professor of social anthropology at Harvard University.
Nhiều thành phần của công thức mở đầu đó - tác động vật lý, thời gian trôi qua hào phóng, gợi ý mạnh mẽ về công năng chữa bệnh - chỉ là những thứ có khả năng gây ấn tượng với bệnh nhân. Vì vậy, hầu như không có gì ngạc nhiên khi những người hành nghề y học bổ sung nói chung là Arthur Kleinman, giáo sư nhân chủng học xã hội tại Đại học Harvard, thường giỏi nhất trong việc huy động hiệu ứng giả dược.
Từ vựng (21)
- ambivalent (æmˈbɪv.ə.lənt) — mâu thuẫn, không chắc chắn
- dummy (ˈdʌm.i) — giả
- sticking plaster (ˈstɪkɪŋ) (ˈplæs.tɚ) — băng keo cá nhân
- quackery (ˈkwæk.ɚ.i) — lang băm
- touchy (ˈtʌtʃ.i) — nhạy cảm
- complementary and alternative medicine (ˌkɑːm.pləˈmen.t̬ɚ.i) (ænd) (ɑːlˈtɝː.nə.t̬ɪv) (ˈmed.ɪ.sən) — y học bổ sung và thay thế
- tantamount to (ˈtæn.t̬ə.maʊnt) (tuː) — tương đương với (thường dùng với những cái xấu)
- charlatanism (charlatanism*) — tội danh lang băm
- orthodox (ˈɔːr.θə.dɑːks) — chính thống
- tea gland (tiː) (ɡlænd) — tuyến nước mắt
- superficial (ˌsuː.pɚˈfɪʃ.əl) — trên bề mặt
- scant (skænt) — ít ỏi
- experimental study (ɪkˌsper.əˈmen.t̬əl) (ˈstʌd.i) — nghiên cứu thực nghiệm
- land itself to sth (lænd) (ɪtˈself) (tuː) (sth*) — tốt cho mục đích cụ thể
- neurochemical (neurochemical*) — chất hóa học thần kình
- blood-pressure cuff (blʌd) (ˈpreʃ.ɚ) (kʌf) — băng quấn máy đo huyết áp
- saline solution (səˈɫin) (səˈluː.ʃən) — dung dịch muối
- analgesia (ˌæn.əlˈdʒiː.zi.ə) — giảm đau
- opiate (ˈoʊ.pi.ət) — thuốc phiện
- sedative (ˈsed.ə.t̬ɪv) — thuốc an thần
- rheumatologist (ˌruː.məˈtɑː.lə.dʒɪst) — bác sĩ chuyên gia về bệnh thấp khớp