← Danh sách bài đọc
Bài 138
The vikings wayfaring way
Con đường bành trướng của người Viking
Nguồn: https://ieltssongngu.com
In the last century, Vikings have been perceived in numerous different ways – vilified as conquerors and romanticised as adventurers.
Trong suốt thế kỷ trước, người Viking đã luôn bị nhìn nhận dưới những góc nhìn khác nhau- họ thường bị phỉ báng như những kẻ xâm lược và những nhà thám hiểm viễn vông.
How Vikings have been employed in nation-building is a topic of some interest.
Tuy nhiên, cách thức những người Viking đã xây dựng nên đế chế của họ là một chủ đề được một số người quan tâm.
In English, Vikings are also known as Norse or Norsemen.
Trong ngôn ngữ Anh, người Viking còn được gọi là người Norse hay Norsemen.
Their language greatly influenced English, with the nouns, ‘Hell’, ‘husband’, ‘law’, and ‘window’, and the verbs, ‘blunder’, ‘snub’, ‘take’, and ‘want’, all coming from Old Norse.
Ngôn ngữ của họ đã có rất nhiều ảnh hưởng đến ngôn ngữ Anh, chẳng hạn như các danh từ hell (địa ngục), husband (chồng), law (luật pháp), window (cửa sổ); và một số động từ như blunder (mò mẫm), snub (làm nhục), take (cầm nắm) và want (mong muốn), tất cả đều là ngôn ngữ của người Norse cổ.
However, the origins of the word ‘Viking’, itself, are obscure: it may mean ‘a Scandinavian pirate’, or it may refer to ‘an inlet’, or a place called Vik, in modern-day Norway, from where the pirates came.
Tuy nhiên, bản thân nguồn gốc của từ “Viking” lại rất khó hiểu: có thể nó mang nghĩa “một tên cướp biển người Scandinavia, hoặc nó cũng có thể ám chỉ “một con lạch”, hoặc một vùng đất được gọi là Vik, thuộc Na Uy ngày nay, nguồn gốc của những tên cướp biển.
These various names – Vikings, Norse, or Norsemen, and doubts about the very word ‘Viking’ suggest historical confusion.
Chính những tên gọi khác nhau này - người Viking, người Norse hay Norsemen, và những hoài nghi về chính từ “Viking” đã tạo nên những sự nhầm lẫn trong lịch sử.
Loosely speaking, the Viking Age endured from the late eighth to the mid-eleventh centuries.
Nói một cách dễ hiểu, thời đại Viking bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ 8 cho đến giữa thế kỷ thứ 11.
Vikings sailed to England in AD 793 to storm coastal monasteries, and subsequently, large swathes of England fell under Viking rule – indeed several Viking kings sat on the English throne.
Vào năm 793 sau Công Nguyên, những người Viking đã chèo thuyền đến Anh để đánh chiếm các tu viện, và sau đó, vùng lãnh thổ rộng lớn của Anh đã rơi vào sự cai trị của người Viking - sự thật là một số vị vua Viking đã từng ngồi lên ngai vàng của nước Anh.
It is generally agreed that the Battle of Hastings, in 1066, when the Norman French invaded, marks the end of the English Viking Age, but the Irish Viking age ended earlier, while Viking colonies in Iceland and Greenland did not dissolve until around AD 1500.
Mọi người đều cho rằng trận đánh Hastings (Battle of Hastings) năm 1066 chống lại sự xâm lược của người Pháp Norman đã đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ Viking ở Anh, nhưng thực ra thời kỳ Viking ở Ireland đã kết thúc sớm hơn, trong khi ở các nước thuộc địa như Iceland và Greenland, sự cai trị của người Viking vẫn còn kéo dài cho đến khoảng năm 1500 sau Công Nguyên.
How much territory Vikings controlled is also in dispute – Scandinavia and Western Europe certainly, but their reach east and south is uncertain.
Nhiều vùng lãnh thổ do người Viking kiểm soát đang bị tranh chấp, chắc chắn bao gồm Scandinavia và Đông Âu, nhưng phạm vi của họ về phía Đông và phía Nam là những điều chưa thể khẳng định.
They plundered and settled down the Volga and Dnieper rivers, and traded with modern-day Istanbul, but the archaeological record has yet to verify that Vikings raided as far away as Northwest Africa, as some writers claim.
Họ định cư và cướp bóc tại các khu vực sông Volga và Dnieper, và giao thương với Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) ngày nay, nhưng những di khảo vẫn chưa xác định được liệu người Viking đã đánh chiếm đến tận vùng Tây Bắc châu Phi như một số tác giả nhận định có đúng hay không.
The issue of control and extent is complex because many Vikings did not return to Scandinavia after raiding but assimilated into local populations, often becoming Christian.
Vấn đề về tầm kiểm soát và phạm vi lãnh thổ lại rất phức tạp, bởi vì nhiều người Viking đã không quay trở về Scandinavia sau khi đánh phá mà chung sống với cư dân địa phương, và thường trở thành những tín đồ Cơ Đốc giáo.
To some degree, the Viking Age is defined by religion.
Ở một khía cạnh nào đó, thời đại của người Viking được đánh dấu bởi tôn giáo.
Initially, Vikings were polytheists, believing in many gods, but by the end of the age, they had permanently accepted a new monotheistic religious system – Christianity.
Ban đầu, những người Viking theo chủ nghĩa đa thần, họ có niềm tin vào rất nhiều vị thần; nhưng đến cuối cùng, họ đã chấp nhận một hệ thống tôn giáo độc thần mới - Cơ Đốc giáo.
This transition from so-called pagan plunderers to civilised Christians is significant and is the view promulgated throughout much of recent history.
Sự chuyển đổi từ những tên cướp ngoại đạo thành những tín đồ Cơ Đốc giáo văn minh là một sự chuyển đổi đầy ý nghĩa và đây cũng là quan điểm được truyền bá trong suốt phần lớn lịch sử gần đây.
In the UK, in the 1970s for example, schoolchildren were taught that until the Vikings accepted Christianity they were nasty heathens who rampaged throughout Britain.
Ví dụ vào những năm 1970 ở Anh, học sinh được dạy rằng người Viking là những tên thổ phỉ bẩn thỉu hoành hành khắp nước Anh cho đến khi họ chấp nhận Cơ Đốc giáo.
By contrast, today’s children can visit museums where Vikings are celebrated as merchants, pastoralists, and artists with a unique worldview as well as conquerors.
Ngược lại, trẻ em thời nay có thể đến thăm các viện bảo tàng nơi người Viking được tôn vinh là những thương gia, những kẻ du mục, những nghệ sĩ có thế giới quan độc đáo, cũng như là những kẻ chinh phạt.
What are some other interpretations of Vikings?
Vậy những góc nhìn khác về người Viking là gì?
In the nineteenth century, historians in Denmark, Norway, and Sweden constructed their own Viking ages for nationalistic reasons.
Vào thế kỷ 19, các nhà sử học ở Đan Mạch, Na Uy và Thuỵ Điển đã thiết lập thời đại Viking của riêng họ với những lý do mang tính dân tộc.
At that time, all three countries were in crisis.
Vào thời điểm đó, cả ba quốc gia đều đang rơi vào tình trạng khủng hoảng.
Denmark had been beaten in war and ceded territory to what is now Germany.
Đan Mạch đã bị đánh bại trong cuộc chiến và phải nhường lại vùng lãnh thổ cho Đức ngày nay.
Norway had become independent from Sweden in 1905 but was economically vulnerable, so Norwegians sought to create a separate identity for themselves in the past as well as the present.
Na Uy ly khai khỏi Thuỵ Điển vào năm 1905, nhưng nền kinh tế còn suy yếu, do đó người Na Uy luôn tìm cách để tạo ra một bản sắc dân tộc riêng biệt cho chính mình trong quá khứ và cả hiện tại.
The Norwegian historian, Gustav Storm, was adamant it was his forebears and not the Swedes’ or Danes’ who had colonised Iceland, Greenland, and Vinland, in what is now Canada.
Nhà sử học người Na Uy Gustav Storm đã quả quyết rằng đó mới chính là tổ tiên của ông ta chứ không phải là những người Thuỵ Điển hay Đan Mạch, những người đã xâm chiếm Iceland, Greenland và Vinland - vùng đất chứa Canada ngày nay.
Sweden, meanwhile, had relinquished Norway to the Norwegians and Finland to the Russians; thus, in the late nineteenth century, Sweden was keen to boost its image with rich archaeological finds to show the glory of its Viking past.
Trong khi đó, Thuỵ Điển đã nhường vùng đất Na Uy cho những người Na Uy và giao lại Phần Lan cho người Nga, do đó, vào cuối thế kỉ thứ 19, Thuỵ Điển đã hăng hái nâng cao hình ảnh của mình bằng những phát hiện khảo cổ cho thấy sự vinh quang của người Viking - tổ tiên của họ.
In addition to augmenting nationalism, nineteenth-century thinkers were influenced by an Englishman, Herbert Spencer, who described peoples and cultures in evolutionary terms similar to those of Charles Darwin.
Ngoài việc tăng cường chủ nghĩa dân tộc, các nhà tư tưởng thế kỷ 19 còn bị ảnh hưởng bởi một người Anh, Herbert Spencer, người đã có những mô tả con người và các nền hoá theo những thuật ngữ tiến hóa tương tự như của Charles Darwin.
Spencer coined the phrase ‘survival of the fittest’, which includes the notion that, over time, there is not only technological but also moral progress.
Spencer đã đặt ra cụm từ “sự sống sót của những người khoẻ mạnh nhất”, bao gồm quan điểm rằng theo thời gian, không chỉ có sự tiến bộ về công nghệ mà còn có sự phát triển về mặt đạo đức.
Therefore, Viking heathens’ adoption of Christianity was considered an advantageous move.
Do đó, sự chấp thuận Cơ Đốc giáo của những người Viking được xem là một bước phát triển thuận lợi.
These days, historians do not compare cultures in the same way, especially since, in this case, the archaeological record seems to show that heathen Vikings and Christian Europeans were equally brutal.
Ngày nay, các nhà sử học không so sánh các tôn giáo theo cùng một phương thức, đặc biệt bởi vì trong những trường hợp này, các hồ sơ khảo cổ dường như cho thấy không chỉ những người Vikings ngoại đạo mà cả những người châu Âu theo Cơ Đốc giáo cũng đều tàn bạo như nhau.
Views of Vikings change according to not only to forces affecting historians at the time of their research but also according to the materials they read.
Những góc nhìn về người Viking thay đổi không chỉ dựa vào những tác động đã ảnh hưởng đến các nhà sử học vào thời điểm họ thực hiện nghiên cứu mà còn dựa trên những tài liệu mà họ đã đọc.
Since much knowledge of Vikings comes from literature composed up to 300 years after the events they chronicle, some Danish historians call these sources ‘mere legends’.
Do có nhiều thông tin về những người Viking đến từ các tác phẩm văn học được sáng tác đến tận 300 năm sau khi những sự kiện được đó ghi chép lại, một số nhà sử học Đan Mạch cho rằng đó chỉ đơn thuần là các “truyền thuyết”.
Vikings did have a written language carved on large stones, but as few of these survive today, the most reliable contemporary sources on Vikings come from writers from other cultures, like the ninth-century Persian geographer, Ibn Khordadbeh.
Những người Viking đã có ngôn ngữ viết được khắc trên một tấm đá lớn, nhưng rất ít trong số này còn tồn tại đến ngày nay, các nguồn thông tin đương thời đáng tin cậy nhất nói về những người Viking là từ các tác gia đến từ các nguồn văn hoá khác, như Ibn Khordadbeh, một nhà địa lý người Ba Tư ở thế kỷ 19.
In the last four decades, there have been wildly varying interpretations of the Viking influence in Russia.
Trong suốt 4 thập kỷ qua, tại Nga đã có rất nhiều cách hiểu về tầm ảnh hưởng của người Viking.
Most non-Russian scholars believe the Vikings created a kingdom in western Russia and modern-day Ukraine led by a man called Rurik.
Đa phần các học giả không phải người Nga cho rằng người Viking đã tạo nên một vương quốc ở miền Tây nước Nga và Ukraine ngày nay, được lãnh đạo bởi một người đàn ông có tên là Rurik.
After AD 862, Rurik’s descendants continued to rule.
Sau năm 862 Công Nguyên, các hậu duệ của Rurik đã tiếp tục cai trị vùng đất này.
There is considerable evidence of this colonisation: in Sweden, carved stones, still standing, describe the conquerors’ journeys; both Russian and Ukrainian have loan words from Old Norse; and, Scandinavian first names, like Igor and Olga, are still popular.
Có một vài bằng chứng thuyết phục về quá trình thuộc địa hoá này: tại Thuỵ Điển, vẫn còn tồn tại những tảng đá lớn được chạm khắc miêu tả lại cuộc hành trình của những kẻ chinh phạt; ngay cả tiếng Nga và Ukraine đều có những từ mượn từ ngôn ngữ của người Norse cổ; và những tên gọi đầu tiên của người Scandinavia, như là Igor hay Olga, vẫn còn đang rất phổ biến.
However, during the Soviet period, there was an emphasis on the Slavic origins of most Russians.
Tuy nhiên, trong thời kỳ Xô Viết, người ta nhấn mạnh về nguồn gốc người Slav của hầu hết người Nga.
(Appearing in the historical record around the sixth century AD, the Slavs are thought to have originated in Eastern Europe.)
(Xuất hiện trong những ghi chép lịch sử vào khoảng thế kỷ thứ 6 Công Nguyên, người Slav được cho là có nguồn gốc từ Đông Âu)
This Slavic identity was promoted to contrast with that of the neighbouring Viking Swedes, who were enemies during the Cold War.
Những đặc điểm của người Slav được phổ biến tương phản với những đặc điểm của người láng giềng của họ, người Viking Thuỵ Điển, những người từng là kẻ thù của họ trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh.
These days, many Russians consider themselves hybrids.
Ngày nay, nhiều người Nga tự xem mình là những đứa con lai.
ndeed recent genetic studies support a Norse-colonisation theory: western Russian DNA is consistent with that of the inhabitants of a region north of Stockholm in Sweden.
Thật vậy, các nghiên cứu về di truyền đã ủng hộ thuyết thuộc địa của những người Norse: ADN những người Nga tại phía Tây trùng khớp với ADN của những cư dân sinh sống tại vùng phía bắc Stockholm, Thuỵ Điển.
The tools available to modern historians are many and varied, and their findings may seem less open to debate.
Những công cụ của các nhà sử học hiện đại rất đa dạng, và những nghiên cứu của họ có vẻ ít được tranh luận hơn.
There are linguistics, numismatics, dendrochronology, archaeozoology, palaeobotany, ice crystallography, climate and DNA analysis to add to the translation of runes and the raising of mighty warships.
Đã có những nghiên cứu về ngôn ngữ học, tiền tệ học, niên đại của các loài thực vật, khảo cổ học động vật, cổ thực vật học, băng tinh thể học, khí hậu và các phân tích về ADN để củng cố cho các bản dịch cổ ngữ và sự trỗi dậy của những chiến hạm hùng mạnh.
Despite these, historians remain children of their times.
Tuy nhiên, những nhà sử học vẫn chỉ là những đứa trẻ của thời đại (chịu tác động bởi những quan điểm, tư tưởng đã được tạo ra từ giai đoạn trước đó).
Từ vựng (21)
- vilifiy (vilifiy*) — nói xấu, lăng mạ, gièm pha, phỉ báng
- obscure (əbˈskjʊr) — khó hiểu, tối nghĩa
- coastal (ˈkoʊ.stəl) — ven biển, thuộc vùng duyên hải
- monastery (ˈmɑː.nə.ster.i) — tu viện
- in dispute (ˈɪn, ɪn) (dɪˈspjuːt) — đang trong tình trạng tranh chấp (đất đai, tài sản)
- plunder (ˈplʌn.dɚ) — cướp bóc
- plunderer (ˈplʌn.dɚ.ɚ) — kẻ cướp
- assimilate into (əˈsɪm.ə.leɪt) (ˈɪn.tuː) — hoà nhập vào
- monotheistic religious (ˌmɑː.noʊ.θiːˈɪs.tɪk) (rɪˈlɪdʒ·əs) — tôn giáo độc thần
- polytheist (ˈpɑː.li.θiː.ɪst) — người theo chủ nghĩa đa thần
- pagan (ˈpeɪ.ɡən) — người ngoại đạo (Cơ Đốc giáo)
- promulgate (ˈprɑː.məl.ɡeɪt) — truyền bá, lan truyền
- heathen (ˈhiː.ðən) — thổ phỉ
- pastoralist (ˈpæs.tɚ.əl.ɪst) — người chăn gia súc, du mục
- to cede sth to so (tuː) (siːd) (sth*) (tuː) (soʊ) — từ bỏ, nhường lại cái gì cho ai đó
- relinquish (rɪˈlɪŋ.kwɪʃ) — nhường, chuyển giao
- augment (ɑːɡˈment) — tăng cường
- nationalism (ˈnæʃ.ən.əl.ɪ.zəm) — chủ nghĩa dân tộc
- thinker (ˈθɪŋ.kɚ) — nhà tư tưởng
- hybrid (ˈhaɪ.brɪd) — con lai
- children of their times (ˈtʃɪl.drən) (əv) (ðer) (taɪmz) — chiu ảnh hưởng bởi tư tưởng, quan điểm của thời đại