← Danh sách bài đọc
Bài 139

Bovids

Bovids

The family of mammals called bovids belongs to the Artiodactyl class, which also includes giraffes.
Họ động vật có vú được gọi là Bovids thuộc lớp Artiodactyl, bao gồm cả hươu cao cổ.
Bovids are a highly diverse group consisting of 137 species, some of which are man’s most important domestic animals.
Bovids là một nhóm rất đa dạng gồm 137 loài, một trong số chúng là vật nuôi quan trọng của con người.
Bovids are well represented in most parts of Eurasia and Southeast Asian islands, but they are by far the most numerous and diverse in the latter.
Bovids được đại diện nhiều ở hầu hết các vùng của Âu-Á và các đảo Đông Nam Á, nhưng cho đến nay chúng là loài có số lượng lớn và đa dạng nhất.
Some species of bovid are solitary, but others live in large groups with complex social structures.
Một số loài thuộc họ Bovid sống đơn độc, tuy nhiên những loài khác sống trong nhóm lớn với cấu trúc xã hội phức tạp.
Although bovids have adapted to a wide range of habitats, from arctic tundra to deep tropical forest, the majority of species favour open grassland, scrub or desert.
Mặc dù các loài động vật thuộc họ Bovids thích nghi với với nhiều môi trường sống đa dạng, từ lãnh nguyên Bắc Cực đến rừng nhiệt đới sâu, nhưng phần lớn các loài này ưa thích vùng thảo nguyên, cây bụi hoặc sa mạc.
This diversity of habitat is also matched by great diversity in size and form: at one extreme is the royal antelope of West Africa, which stands a mere 25 cm at the shoulder; at the other, the massively built bison of North America and Europe, growing to a shoulder height of 2.2m.
Sự đa dạng về môi trường sống này cũng được kết hợp bởi sự đang dạng về kích thước và hình thái: ở một cực là linh dương hoàng gia Tây Phi với chiều đến vai chỉ có 25cm, mặt khác là số lượng đông đảo bò rừng Bắc Mỹ và châu Âu với chiều cao ngang vai đạt tới 2,2m.
Despite differences in size and appearance, bovids are united by the possession of certain common features.
Mặc dù có sự khác biệt về kích thước và ngoại hình, các loài trong họ Bovids đều thống nhất với nhau bởi sở hữu một số đặc điểm chung nhất định.
All species are ruminants, which means that they retain undigested food in their stomachs, and regurgitate it as necessary.
Tất cả các loài đều là động vật nhai lại, tức là chúng giữ lại thức ăn chưa tiêu hóa trong dạ dày và nôn ra khi cần thiết.
Bovids are almost exclusively herbivorous: plant-eating “incisors: front teeth herbivorous”.
Các loài trong họ Bovids hầu như chỉ ăn cỏ: ăn thực vật “răng cửa: răng trước của động vật ăn cỏ”.
Typically their teeth are highly modified for browsing and grazing: grass or foliage is cropped with the upper lip and lower incisors** (the upper incisors are usually absent), and then ground down by the cheek teeth.
Thông thường, răng chúng được biến đổi nhiều để gặm và ăn cỏ: cỏ hoặc tán lá được gặm với môi trên và răng cửa dưới (răng cửa trên thường không có), và sau đó được nghiền nhỏ bằng răng má.
As well as having cloven, or split, hooves, the males of ail bovid species and the females of most carry horns.
Các loài động vật thuộc họ Bovids thường có móng guốc hoặc móng chẻ, trong đó, con đực có lông cứng và hầy hết các con cái đều mang sừng.
Bovid horns have bony cores covered in a sheath of horny material that is constantly renewed from within; they are unbranched and never shed.
sừng của các loài động vật thuộc họ Bovids có lõi xương được bọc trong một lớp vỏ bằng chất liệu sừng được làm mới liên tục từ bên trong; chúng không phân nhánh và không bao giờ rụng đi.
They vary in shape and size: the relatively simple horns of a large Indian buffalo may measure around 4 m from tip to tip along the outer curve, while the various gazelles have horns with a variety of elegant curves.
Chúng khác nhau về hình dáng và kích thước: sừng của một con trâu Ấn Độ lớn khá đơn giản và có thể dài khoảng 4m từ đầu này đến đầu nhọn kia theo đường cong bên ngoài, trong khi đó các loài linh dương khác nhau có sừng với nhiều đường cong thanh lịch.
Five groups, or sub-families, may be distinguished: Bovinae, Antelope, Caprinae, Cephalophinae and Antilocapridae.
5 nhóm, hoặc họ phụ, có thể được phân loại là: Bovinae, Antelope, Caprinae, Cephalophinae và Antilocapridae.
The sub-family Bovinae comprises most of the larger bovids, including the African bongo, and nilgae, eland, bison and cattle.
Phân họ Bovinae bao gồm hầu hết các loài thuộc họ Bovids lớn hơn, gồm linh dương châu Phi, linh dương bò lam, linh dương eland, bò rừng bizon và gia súc.
Unlike most other bovids they are all non-territorial.
Không giống với các loài thuộc họ Trâu bò khác, chúng không có lãnh thổ.
The ancestors of the various species of domestic cattle banteng, gaur, yak and water buffalo are generally rare and endangered in the wild, while the auroch (the ancestor of the domestic cattle of Europe) is extinct.
Tổ tiên của các loài gia súc khác nhau bò banteng, bò rừng Ấn Độ, bò Tây Tạng và trâu nước thường hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên, trong khi đó bò rừng auroch (tổ tiên của gia súc ở châu Âu) đã tuyệt chủng.
The term ‘antelope is not a very precise zoological name – it is used to loosely describe a number of bovids that have followed different lines of development.
Thuật ngữ 'antelope' không phải là một tên động vật học quá chính xác - nó được dùng để miêu tả lỏng lẻo một số loài thộc họ Bovids đã phát triển theo các dòng khác nhau.
Antelopes are typically long-legged, fast-running species, often with long horns that may be laid along the back when the animal is in full flight.
Antelopes thường là loài chân dài, chạy nhanh, thường có sừng dài có thể nằm dài theo lưng khi chúng đạt tốc độ tối đa.
There are two main sub-groups of antelope: Hippotraginae, which includes the oryx and the addax, and Antilopinae, which generally contains slighter and more graceful animals such as gazelle and the springbok.
Có 2 phân họ chính của loài linh dương: Hippotraginae, gồm chi oryx và chi addax, và Antilopinae, thường gồm các động vật nhỏ và hiền hơn như là linh dương gazen và linh dương Nam Phi.
Antelopes are mainly grassland species, but many have adapted to flooded grasslands: pukus, waterbucks and lechwes are all good at swimming, usually feeding in deep water, while the sitatunga has long, splayed hooves that enable it to walk freely on swampy ground.
Linh dương là loài chủ yếu sống trên đồng cỏ, tuy nhiều loài linh dương đã thích nghi với đồng cỏ ngập nước: linh dương puku, linh dương nước, linh dương đồng cỏ, tất cả đều bơi lội tốt, thường kiếm ăn ở vùng nước sâu, trong khi đó linh dương sitatunga có móng dài và có rãnh giúp chúng có thể đi lại tự do trên đất đầm lầy.
The sub-family Caprinae includes the sheep and the goat, together with various relatives such as the goral and the tahr.
Phân họ Caprinae gồm cừu, dê cùng với nhiều loài họ hàng như là sơn dương goran, dê núi sừng ngắn.
Most are woolly or have long hair.
Hầu hết chúng là loài có lông mịn và dài.
Several species, such as wild goats, chamois and ibex, are agile cliff – and mountain-dwellers.
Một số loài như là dê rừng, sơn dương Chamois, dê núi Ibex là những loài sống trên vách đá.
Tolerance of extreme conditions is most marked in this group: Barbary and bighorn sheep have adapted to arid deserts, while Rocky Mountain sheep survive high up in mountains and musk oxen in arctic tundra.
Khả năng chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt được đánh dấu rõ rệt nhất trong nhóm này là cừu Barbary và cừu sừng lớn, chúng đã thích nghi với sa mạc khô cằn, trong khi đó cừu Rocky Mountain sống sót trên núi cao và bò xạ hương thì ở vùng lãnh nguyên Bắc Cực.
The duiker of Africa belongs to the Cephalophinae sub-family.
Linh dương hoẵng châu Phi thuộc phân họ Cephalophinae.
It is generally small and solitary, often living in thick forest.
Nó có kích thước khá nhỏ và có tập tính sống đơn độc, và chúng thường sống trong rừng rậm.
Although mainly feeding on grass and leaves, some duikers – unlike most other bovids – are believed to eat insects and feed on dead animal carcasses, and even to kill small animals.
Mặc dù ăn cỏ và lá cây, một số loài linh dương hoẵng - khác với hầu hết con vật khác thuộc họ Bovids - được cho là ăn côn trùng và xác động vật chết, thậm chí là giết chết những con vật nhỏ.
The pronghorn is the sole survivor of a New World sub-family of herbivorous ruminants, the Antilocapridae in North America.
Linh dương sừng nhánh là loài duy nhất còn xót lại trong trong một phân họ của động vật nhai lại ăn cỏ ở Thế giới mới, họ linh dương ở Bắc Mỹ.
It is similar in appearance and habits to the Old World antelope.
Loài này tương tự với loài linh dương ở Thế giới cũ (châu Âu, châu Á và châu Phi) về hình dáng và thói quen.
Although greatly reduced in numbers since the arrival of Europeans, and the subsequent enclosure of grasslands, the pronghorn is still found in considerable numbers throughout North America, from Washington State to Mexico.
Mặc dù số lượng bị giảm đáng kể từ khi người châu Âu đến, và sau đó là sự bao vây của các đồng cỏ, loài linh dương sừng nhánh vẫn được tìm thấy với số lượng lớn trên khắp Bắc Mỹ, từ Bang Washington đến Mexico.
When alarmed by the approach of wolves or other predators, hairs on the pronghorn’s rump stand erect, so showing and emphasizing the white patch there.
Khi bị báo động bởi sự tiếp cận của sói hoặc những kẻ săn mồi khác, lông trên mông của linh dương sừng nhánh dựng đứng lên, vì vậy sẽ hiện ra và nổi bật lên mảng trắng ở đó.
At this signal, the whole herd gallops off at speed of over 60 km per hour.
Trước tín hiệu này, cả đàn phóng đi với tốc độ trên 60km/h.

Từ vựng (16)

  • bovid (bovid*) — họ Trâu bò
  • solitary (ˈsɑː.lə.ter.i) — đơn độc, đơn lẻ
  • scrub (skrʌb) — bụi cây rậm rạp
  • possession (pəˈzeʃ.ən) — sự sở hữu
  • ruminant (ˈruː.mə.nənt) — động vật nhai lại
  • herbivorous (hɝːˈbɪv.ɚ.əs) — ăn cỏ
  • hooves (huːvz) — móng guốc (số nhiều)
  • horn (hɔːrn) — sừng
  • loosely (ˈluːs.li) — lỏng lẻo
  • in full flight (ˈɪn, ɪn) (fʊl) (flaɪt) — thoát khỏi nhanh nhất có thể
  • woolly (ˈwʊl.i) — lông mịn, giống len
  • dweller (ˈdwel.ɚ) — cư dân, người cư trú một nơi nào đó
  • carcasses (ˈkɑɹkəsɪz) — xác chết
  • gallop (ˈɡæl.əp) — phóng đi, chạy nhanh, phi nước đại
  • regurgitate (rɪˈɡɝː.dʒə.teɪt) — nôn, trào ngược
  • ail (eɪl) — đau, làm cho đau đớn