← Danh sách bài đọc
Bài 140
Decision, Decision !
Quyết Định, Quyết Định!
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Research explores when we can make a vital decision quickly and we need to proceed more deliberately. A widely recognised legend tells us that in Gordium (in what is now Turkey) in the fourth century BC an oxcart was roped to a pole with a complex knot.
Các nghiên cứu đã khám phá ra rằng khi nào chúng ta có thể đưa ra một quyết định quan trọng một cách nhanh chóng và chúng ta cần phải duy trì nó một cách thận trọng hơn. Một câu chuyện từ rất lâu đã được công nhận rộng rãi nói rằng, Gordium (nơi bây giờ là Thổ Nhĩ Kỳ) vào thế kỉ thứ 4 trước công nguyên, một chiếc xe bò được buộc vào một cái thanh bằng một nút thắt phức tạp.
It was said that the first person to untie it would become the king of Asia.
Người đầu tiên cởi bỏ được nút thắt ấy được cho rằng sẽ trở thành vua của Châu Á.
Unfortunately, the knot proved impossible to untie.
Không may mắn là nút thắt ấy được minh chứng là không thể nào tháo ra được.
The story continues that when confronted with this problem, rather than deliberating on how to untie the Gordian knot.
Câu chuyện tiếp tục kể rằng khi đối phó với vấn đề này, thay vì tiếp tục tìm cách để cởi bỏ nút thắt Gordian.
Alexander, the famous ruler of the Greeks in the ancient world, simply took out his sword and cut it in two – then went on to conquer Asia.
Alexander, người đứng đầu nổi tiếng của Hi Lạp trong thế giới cổ xưa, đơn giản chỉ rút kiếm ra và cắt nó làm đôi-sau đó tiếp tục kiểm soát châu Á.
Ever since the notion of a ‘Gordian solution’ has referred to the attractiveness of a simple answer to an otherwise intractable problem. Among researchers in the psychology of decision making, however, such solutions have traditionally held little appeal.
Kể từ đó, ý tưởng cho “giải pháp Gordian” được nhắc đến là sự thu hút của một câu trả lời đơn giản đối với một vấn đề dù là khó khăn hay không thể. Giữa các nhà nghiên cứu về tâm lý học về việc đưa ra quyết định, những giải pháp như thế đã có một ít sự tranh cãi theo truyền thống
In particular, the ‘conflict model’ of decision making proposed by psychologists Irving Janis and Leon Mann in their 1977 book, Decision Making, argued that a complex decision-making process is essential for guarding individuals and groups from the peril of ‘group-think’.
Nói một cách cụ thể, “các mẫu xung đột” của việc đưa ra quyết định được đề nghị bởi các nhà tâm lí học Irving Janis and Leon Mann trong quyển sách vào năm 1077 của họ, Đưa Ra Quyết Định, tranh cãi rằng một quá trình quyết định phức tạp thì cần thiết cho những cá nhân và đội nhóm từ sự nguy hiểm của việc “suy nghĩ theo nhóm”.
Decisions made without thorough canvassing, surveying, weighing, examining and reexamining relevant information and options would be suboptimal and often disastrous.
Những quyết định được đưa ra không có sự cẩn thận, sự khảo sát, xem xét và kiểm tra những thông tin và lựa chọn liên quan sẽ không tốt và thường là thảm họa.
One foreign affair decision made by a well-known US political leader in the 1960s is typically held us as an example of the perils of inadequate thought, whereas his successful handling of a water crisis is cited as an example of the advantages of careful deliberation.
Một quyết định công bằng bởi một nhà lãnh đạo chính trị nổi tiếng của Mỹ vào những năm 1960 điển hình vẽ ra một ví dụ nguy hiểm của những suy nghĩ không đầy đủ,trong khi việc đối phó với cuộc khủng hoảng nước thành công của ông được trích dẫn như một ví dụ cho ưu điểm của việc bắt đầu một cách cẩn thận.
However, examination of these historical events by Peter Suedfield, a psychologist at the University of British Columbia, and Roderick Kramer, a psychologist at the Stanford Graduate School of Business, found little difference in the two decision-making processes; both crises required and received complex consideration by the political administration, but later only the second one was deemed to be the effective. In general, however, organizational and political science offers little evidence that complex decisions fare better than simpler ones.
Tuy nhiên, cuộc kiểm tra những sự kiện lịch sử đó bởi Peter Suedfield, một nhà tâm lí học tại đại học Anh Columbia và Roderick Kramer, một nhà tâm lí học tại trường đại học kinh tế Standford, đã tìm thấy điểm khác biệt trong hai quá trình đưa ra quyết định, cả hai đều được yêu cầu và nhận được những sự xem xét phức tạp bởi những nhà quản lí chính trị, nhưng chỉ có cái thứ hai là có hiệu quả.Nhìn chung, khoa học tổ chức và chính trị cung cấp một ít bằng chứng mà những quyết định phức tạp tốt hơn những cái đơn giản.
In fact, a growing body of work suggests that in many situations simply ‘snap’ decisions with being routinely superior to more complex ones – an idea that gained widespread public appeal with Malcolm Gladwell’s best-selling book Blink (2005). An article by Ap Dijksterhuis of the University of Amsterdam and his colleagues, Making the Right Choice: the Deliberation-without-attention Effect’, runs very much in the spirit of Gladwell’s influential text.
Trên thực tế, một khối lượng công việc đang tăng lên cần phải có những quyết định đơn giản thì tốt hơn là những cái phức tạp – một ý tưởng đã lan ra rộng rãi trong cộng đồng thu hút quyển sách bán chạy của tác giả Malcolm Gladwell Blink (2005).Một tờ tạp chí bởi Ap Dijksterhuis của trường đại học Amsterdam và đồng nghiệp của ông ấy, “Đưa Ra Một Sự Lựa Chọn Chính Xác”: ảnh hưởng của việc có chủ ý mà không có sự quan tâm đặc biệt chiếm một phần lớn trong linh hồn của văn bản có sức ảnh hưởng của Gladwell.
Its core argument is that to be effective, conscious (deliberative) decision making requires cognitive resources.
Những cuộc tranh luận về cách để những quyết định có hiệu quả đó là việc đưa ra quyết định một cách có ý thức yêu cầu một quá trình có tự chủ về mặt não bộ.
Because increasingly complex decisions place increasing strain on those resources, the quality of our decisions declines as their complexity increases.
Bởi vì những quyết định phức tạp đó làm gia tăng áp lực cho những quá trình trên, chất lượng của những quyết định giảm xuống như sự tăng lên của những phức tạp.
In short, complex decisions overrun our cognitive powers.
Nói một cách ngắn gọn, những quyết định phức tạp vượt quá khả năng tự chủ của chúng ta.
On the other hand, unconscious decision making (what the author refer to as ‘deliberation without attention’) requires no cognitive resources, so task complexity does not Effectiveness.
Mặt khác, những quyết định vô thức (cái tác giả nhắc đến là “ có chủ ý nhưng không có sự quan tâm đặc biệt”) không yêu cầu những quá trình tự chủ của não bộ, vì thế các nhiệm vụ phức tạp không có sự hiệu quả.
The seemingly counterintuitive conclusion is that although conscious thought enhances simple decisions, the opposite holds true for more complex decisions. Dijksterhuis reports four Simple but elegant studies supporting this argument.
Một kết luận không được mong đợi rằng mặc dù những suy nghĩ có ý thức làm phát triển những quyết định đơn giản, mặt trái của nó có thể đúng trong nhiều quyết định phức tạp.Dijksterhuis đã báo cáo bốn nghiên cứu đơn giản nhưng lại khôn ngoan để hỗ trợ cho những tranh cãi này
In one, participants assessed the quality of four hypothetical cars by considering either four attributes (a simple task) or 12 attributes (a complex task).
Một cái là, những người tham gia đã đánh giá chất lượng của bốn chiếc xe tưởng tượng bằng cách xem xét cả bốn đặc điểm (nhiệm vụ đơn giản) và 12 đặc điểm (nhiệm vụ phức tạp).
Among participants who considered four attributes, those who were allowed to engage in undistracted deliberative thought did better at discriminating between the best and worst cars.
Giữa những người tham gia xem xét bốn đặc điểm, những người được cho phép tham gia vào những suy nghĩ có chủ ý mà không phải lo lắng làm tốt hơn trong việc nhận ra sự khác biệt giữa những chiếc xe tốt nhất và tệ nhất.
Those who were distracted and thus unable to deliberate had to rely on their unconscious thinking and did less well.
Những người bối rối hay lo lắng và do đó không thể tự chủ phải dựa vào những suy nghĩ vô thức và làm không tốt bằng.
The opposite pattern emerged when people considered 12 criteria.
Kết quả ngược lại đã xuất hiện ở những người xem xét 12 đặc điểm
In this case, conscious deliberation led to inferior discrimination and poor decisions. In other studies, Dijksterhuis surveyed people shopping for clothes (‘simple’ products) and furniture (‘complex’ products).
Trong trường hợp này, những chủ ý có ý thức đã xuất đến sự phân biệt kém hơn và đưa ra những quyết định sai lầm.Trong những nghiên cứu khác, Dijksterhuis đã khảo sát những người mua sắm quần áo (những sản phẩm đơn giản) và đồ nội thất (những sản phẩm phức tạp).
Compared with those who said they had deliberated long and hard, shoppers who bought with little conscious deliberation felt less happy with their simple clothing purchase but happier with the complex furniture purchases.
So sánh giữa những người nói rằng họ đã có ý định từ trước, những người mua sắm với ít dự định hơn cảm thấy không vui vẻ với những quần áo đơn giản mà họ mua nhưng lại vui vẻ hơn với những đồ nội thất phức tạp.
Deliberation without attention actually produced better results as the decisions became more complex. From there, however, the researchers take a big leap.
Những dự định không có sự chú ý thật sự tạo ra một kết quả tốt hơn vì những quyết định trở nên phức tạp hơn.Từ đó, các nhà nghiên cứu đã có một sự thay đổi lớn.
They write: There is no reason to assume that the deliberation-without-attention effect does not generalize to other types of choices – political, managerial or otherwise.
Họ viết rằng: không có lí do nào để tin rằng việc có chủ ý mà không có sự quan tâm không giống nhau giữa các sự lựa chọn – chính trị, quản lí hay những thứ khác.
In such cases, it should benefit the individual to think consciously about simple matters and to delegate thinking about more complicated matters to the unconscious. This radical inference contradicts standard political and managerial theory but doubtless comforts those in politics and management who always find the simple solution to the complex problem an attractive proposition.
Trong những trường hợp như thế, nó có lợi cho những cá nhân suy nghĩ một cách có ý thức về những vấn đề đơn giản và đưa ra những suy nghĩ về những vấn đề phức tạp đến vô thức.Những suy luận gốc này trái ngược với lí thuyết chính trị và quản lí tiêu chuẩn ngoại trừ những lí thuyết không có nghi ngờ nào trong lĩnh vực chính trị và quản lí, người luôn luôn tìm những giải pháp đơn giản cho những vấn đề phức tạp một lời đề nghị hấp dẫn.
Indeed, one suspects many of our political leaders already embrace this wisdom. Still, it is there, in the realms of society and its governance, that the more problematic implications of deliberation without attention begin to surface.
Thực chất, nhiều nghi ngờ của những nhà lãnh đạo chính trị đã bao gồm sự thông minh này.Tuy nhiên, chúng vẫn ở đó, trong khu vực của xã hội và pháp luật, điều mà ngày càng nhiều tác động khó khăn của việc tự chủ mà không quan tâm bắt đầu phải đối mặt.
Variables that can be neatly circumscribed in decisions about shopping lose clarity in a world of group dynamics, social interaction, history and politics.
Những thay đổi có thể giới hạn trực tiếp trong những quyết định về mua sắm mất đi sự suy nghĩ cẩn thận trong một thế giới thay đổi liên tục, tương tác xã hội, lịch sử và chính trị.
Two pertinent questions arise.
Hai câu hỏi liên quan đã được đặt ra.
First, what counts as a complex decision? And second, what counts as a good outcome? As social psychologist Kurt Lewin (1890 – 1947) noted, a ‘good’ decision that nobody respects is actually bad, his classic studies of decision making showed that participating in deliberative processes makes people more likely to abide by the results.
Đầu tiên, cái gì được coi là một quyết định phức tạp ? Và thứ hai, cái gì được coi là một kết quả tốt? Như những gì nhà tâm lí học xã hội Kurt Lewin (1890 – 1947) đã chú ý, một quyết định hay mà không ai tôn trọng thì thật sự tồi tệ,buổi học cổ điển về việc đưa ra quyết định của ông đã chỉ ra rằng tham gia vào những quá trình bàn luận khiến mọi người trông như chấp nhận kết quả
The issue here is that when political decision-makers make mistakes, it is their politics, or the relationship between their politics and our own, rather than psychology which is at fault. Gladwell’s book and Dijksterhuis’s paper are invaluable in pointing out the limitations of the conventional wisdom that decision quality rises with decision-making complexity.
Vấn đề ở đây là khi các nhà chính trị đưa ra những quyết định sai trái, đó cũng là quan niệm chính trị của họ, hoặc là mối quan hệ giữa quan niêm chính trị của họ và của chính chúng ta, hơn là tâm lí có lỗi.Quyển sách của Gladwell và tờ báo của Dijksterhuis là vô giá trong việc chỉ ra giới hạn của trí khôn truyền thống quyết định sự phát triển chất lượng với những quyết định phức tạp.
But this work still tempts us to believe that decision making is simply a matter of psychology, rather than also a question of politics, ideology and group membership.
Nhưng công việc này vẫn khuyến khích chúng ta tin rằng việc đưa ra quyết định là một vấn đề tâm lí học đơn giản, hơn là một câu hỏi chính trị, chủ nghĩa duy tâm và tính đội nhóm.
Avoiding social considerations in a search for general appeal rather than toward it..
Tránh những quan tâm xã hội để tìm kiếm sự hấp dẫn chung hơn là hướng tới nó.
Từ vựng (8)
- deliberate (dɪˈlɪb.ɚ.ət) — có tính toán, cố ý
- confront with (kənˈfrʌnt) (wɪð) — đối mặt với, đối phó với
- intractable (ɪnˈtræk.tə.bəl) — khó khăn, hầu như không thể
- peril (ˈper.əl) — sự nguy hiểm, hiểm họa
- canvass (ˈkæn.vəs) — sự thảo luận tỉ mỉ
- counterintuitive (ˌkaʊn.t̬ɚ.ɪnˈtuː.ɪ.t̬ɪv) — không như mong đợi
- hypothetical (ˌhaɪ.pəˈθet̬.ɪ.kəl) — tưởng tượng
- discriminate (dɪˈskrɪm.ə.neɪt) — phân biệt