← Danh sách bài đọc
Bài 146
Twin Study: Two of a kind
Nghiên cứu về các cặp song sinh: Khá là giống nhau
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Twin Study: Two of a kind
Nghiên cứu về các cặp song sinh: Khá là giống nhau
THE scientific study of twins goes back to the late 19th century, when Francis Galton, an early geneticist, realised that they came in two varieties: identical twins born from one egg and non-identical twins that had come from two.
Nghiên cứu khoa học về các cặp sinh đôi đã được thực hiện từ cuối thế kỷ 19, khi mà Francis Galton, một nhà nghiên cứu di truyền học đời đầu đã nhận ra rằng họ thường có hai dạng: các cặp song sinh giống nhau được sinh ra từ một trứng và các cặp song sinh không giống hệt nhau đến từ hai trứng khác nhau.
That insight turned out to be key, although it was not until 1924 that it was used to formulate what is known as the twin rule of pathology, and twin studies really got going.
Quan niệm này hóa ra lại có tính mấu chốt, mặc dù mãi đến năm 1924 nó mới được sử dụng để hình thành cái gọi là quy luật sinh đôi bệnh lý, và từ đây các nghiên cứu về song sinh đã thực sự đã được tiến hành.
The twin rule of pathology states that any heritable disease will be more concordant (that is, more likely to be jointly present or absent) in identical twins than in non-identical twins – and, in turn, will be more concordant in non-identical twins than in non-siblings.
Quy luật sinh đôi của bệnh lý nói lên rằng các bệnh có khả năng di truyền sẽ có có tính đồng nhất hơn (nghĩa là có nhiều khả năng có mặt chung hoặc vắng mặt) ở các cặp sinh đôi giống nhau so với các cặp sinh đôi không giống nhau, và, hóa ra, cũng sẽ có tính nhất quán hơn ở các cặp sinh đôi khác nhau nhau so với các cặp không phải anh/chị em.
Early work, for example, showed that the statistical correlation of skin-mole counts between identical twins was 0.4, while non-identical twins had a correlation of only 0.2. (A score of 1.0 implies a perfect correlation, while a score of zero implies no correlation.)
Ví dụ, nghiên cứu ban đầu cho thấy mối tương quan mang tính thống kê của các nốt ruồi trên da giữa những đứa trẻ song sinh giống nhau là 0.4, trong khi đó ở cặp song sinh không giống nhau lại là 0.2. (1.0 điểm đồng nghĩa mối tương quan hoàn hảo, trong khi điểm 0 nghĩa là giữa chúng không có bất kì sự tương quan nào.)
This result suggests that moles are heritable, but it also implies that there is an environmental component to the development of moles, otherwise, the correlation in identical twins would be close to 1.0.
Đây là kết quả cho thấy nốt ruồi là có thể di truyền, nhưng nó cũng có nghĩa là yếu tố môi trường tác động đến sự hình thành của các nốt ruồi, mặt khác, mối tương quan trong các cặp song sinh giống nhau cũng gần với số điểm 1.0.
Twin research has shown that whether or not someone takes up smoking is determined mainly by environmental factors, but once he does so, how much he smokes is largely down to his genes.
Nghiên cứu về song sinh cho thấy rằng việc ai đó hút thuốc hay không được quyết định chủ yếu bởi các yếu tố môi trường, nhưng một khi người đó làm vậy, việc hút được bao nhiêu lại phụ thuộc vào gen của anh ấy.
And while a person’s religion is clearly a cultural attribute, there is a strong genetic component to religious fundamentalism.
Và trong khi tôn giáo của một người rõ ràng là một thuộc tính văn hóa, có một yếu tố di truyền mang tính quyết định đến tư tưởng "chính thống hóa" về văn hóa
Twin studies are also unraveling the heritability of various aspects of human personality.
Nghiên cứu về song sinh cũng làm sáng tỏ tính di truyền trong nhiều phương diện tính cách con người.
Traits from neuroticism and anxiety to thrill – and novelty-seeking all have large genetic components.
Các đặc tính từ chứng loạn thần và chứng lo âu đến hồi hộp - và cả tính thích tìm kiếm sự mới lạ đều có các yếu tố di truyền.
Parenting matters, but it does not determine personality in the way that some had thought.
Quá trình nuôi dạy có thể cũng tác động, nhưng nó lại không mang tính quyết định đến tính cách như mọi người thường nghĩ.
More importantly, perhaps, twin studies are helping the understanding of diseases such as cancer, asthma, osteoporosis, arthritis and immune disorders.
Quan trọng hơn thế nữa, có lẽ, nghiên cứu về song sinh đang giúp hiểu rõ hơn các bệnh như ung thư, loãng xương, viêm khớp và rối loạn miễn dịch.
And twins can be used, within ethical, for medical experiments.
Và các cặp song sinh có thể được sử dụng trong các cuộc thí nghiệm y tế, miễn là vẫn trong khuôn khổ đạo đức.
A study that administered vitamin C to one twin and a placebo to the other found that it had no effect on the common cold.
Một nghiên cứu phát vitamin C cho một người trong cặp song sinh và một loại giả dược cho người còn lại và phát hiện ra rằng rằng nó không có tác dụng gì đến bệnh cảm lạnh thông thường.
The lesson from all of today’s twin studies is that most human traits are at least partially influenced by genes.
Bài học rút ra từ các nghiên cứu về sinh đôi ngày nay rằng là hầu hết các đặc điểm của con người đều ít nhất bị ảnh hưởng một phần bởi các gen.
However, for the most part, the age-old dichotomy between nature and nurture is not very useful.
Tuy nhiên, trong đại đa số trường hợp, cách mà chúng ta phân định rạch ròi hai nguồn gốc bẩm sinh và nuôi dưỡng lại không có tác dụng lắm.
Many genetic programs are open to input from the environment, and genes are frequently switched on or off by environmental signals.
Nhiều chương trình di truyền học được mở với đầu vào là môi trường, và gen thường được bật hoặc tắt bởi các yếu tố môi trường.
It is also possible that genes themselves influence their environment.
Cũng có khả năng tự thân các gen ảnh hưởng ngược lại đến môi trường của chúng.
Some humans have an innate preference for participation in sports.
Một số người bẩm sinh đã có hứng thú với việc tham gia các môn thể thao.
Others are drawn to novelty.
Một số người khác thì lại bị thu hút bởi sự mới lạ.
Might people also be drawn to certain kinds of friends and types of experience?
Liệu con người có bị thu hút bởi môt số loại bạn bè và trải nghiệm nhất định?
In this way, a person’s genes might shape the environment they act in as much as the environment shapes the actions of the genes.
Theo chiều hướng này, gen của mỗi người có thể sẽ định hình môi trường mà họ hoạt động như cách môi trường định hướng các hoạt động của gen.
In the past, such research has been controversial.
Trong quá khứ, những nghiên cứu như thế này đã gây ra tranh cãi.
Josef Mengele, a Nazi doctor working at the Auschwitz extermination camp during the second world war, was fascinated by twins.
Josel Mengele, một bác sĩ của Đức Quốc xã làm việc cho trại hủy diệt Auschwitz suốt thế chiến thứ hai, đã bị mê hoặc bởi các cặp song sinh.
He sought them out among arrivals at the camp and preserved them from the gas-chambers for a series of brutal experiments.
Ông này tìm kiếm những cặp song sinh trong những người đến doanh trại và không để họ phải chết trong các phòng hơi ngạt nhằm phục vụ cho hàng loạt các thí nghiệm tàn bạo.
After the war, Cyril Burt, a British psychologist who worked on the heredity of intelligence, tainted twin research with results that appear, in retrospect, to have been rather too good.
Sau chiến tranh, Cyril Burt, một nhà tâm lý học người Anh nghiên cứu về sự di truyền của trí thông minh, đã phá các nghiên cứu sinh đôi với các kết quả, mà khi nhìn lại, nó hoàn hảo một cách không hợp lý.
Some of his data on identical twins who had been reared apart were probably faked.
Một số dữ liệu được thu thập về một cặp song sinh bị tách ra nuôi dưỡng chắc chắn đã được làm giả.
In any case, the prevailing ideology in the social sciences after the war was Marxist and disliked suggestions that differences in human potential might have underlying genetic causes.
Dù sao đi nữa, hệ tư tưởng thịnh hành trong các lĩnh vực khoa học xã hội sau chiến tranh vẫn là chủ nghĩa Mác và bài trừ những đề xuất rằng sự khác biệt trong tiềm năng con người có thể có nguồn gốc từ các yếu tố di truyền cơ bản.
Twin studies were thus viewed with suspicion.
Các nghiên cứu về sinh đôi vì vậy mà cũng bị nhìn nhận bằng sự nghi hoặc.
The ideological pendulum has swung back; however, as the human genome project and its aftermath have turned genes for abstract concepts to real pieces of DNA.
Tuy nhiên, con lắc ý thức hệ đã dao động theo hướng ngược trở lại, vì dự án bản đồ gen người và kết quả của nó đã khiến cho các gen dành cho các khái niệm trừu tượng trở thành các mảnh DNA thực thụ.
The role of genes in sensitive areas such as intelligence is acknowledged by all but a few die-hards.
Vai trò của gen trong các khu vực vực nhạy cảm như trí thông minh được thừa nhận bởi tất cả trừ một vài kẻ bảo thủ.
The interesting questions now concern how nature and nurture interact to produce particular bits of biology, rather than which of the two is more important.
Những câu hỏi thú vị bây giờ liên quan đến việc các thuộc tính bẩm sinh và quá trình nuôi dưỡng tương tác như thế nào với nhau để hình thành các đặc tính sinh học, thay vì là cái nào quan trọng hơn cái nào.
Twin studies, which are a good way to ask these questions, are back in fashion, and many twins are enthusiastic participants in this research.
Nghiên cứu về sinh đôi, một phương pháp tốt để đặt ra nghi vấn này, đã trở nên thịnh hành trở lại, và nhiều cặp sinh đôi đang nhiệt tình tham gia các nghiên cứu này.
Research at the Twinsburg festival began in a small way, with a single stand in 1979.
Nghiên cứu tại lễ hội Twinsburg bắt đầu với quy mô khá nhỏ lẻ, chỉ có một gian hàng duy nhất vào năm 1979.
Gradually, news spread and more scientists began turning up.
Dần dần, tin tức lan truyền và nhiều nhà khoa học bắt đầu có mặt tại đây.
This year, half a dozen groups of researchers were lodged in a specially pitched research tent.
Năm nay, 6 nhóm khoa học gia đã được phân vào cùng một lều nghiên cứu đặc biệt.
In one corner of this tent, Paul Breslin, who works at the Monell Institute in Philadelphia, watched over several tables where twins sat sipping clear liquids from cups and making notes.
Trong một góc của cái lều này, Paul Breslin, người làm cho Viện Monell tại Philadelphia đã quan sát một số bàn mà các cặp song sinh nhấm nháp chất lỏng trong suốt từ cốc và ghi chú lại.
It was the team’s third year at Twinsburg.
Đây đã là năm thứ ba của nhóm ông tại Twinsburg.
Dr Breslin and his colleagues want to find out how genes influence human perception, particularly the senses of smell and taste and those (warmth, cold, pain, tingle, itch and so on) that result from stimulation of the skin.
Tiến sĩ Breslin và đồng nghiệp của ông muốn tìm ra cách mà các gen đã tác động đến tri giác con người, cụ thể là ở khứu giác, vị khác và các cảm giác khác (độ ấm, lạnh, đau, ù tai, ngứa. v.v) phát sinh khi nhận sự kích thích ở da.
Perception is an example of something that is probably influenced by both genes and experience.
Nhận thức con người là một ví dụ điển hình về sự ảnh hưởng đồng thời của cả gen di truyền và các trải nghiệm sống.
Even before birth, people are exposed to flavours such as chocolate, garlic, mint and vanilla that pass intact into the bloodstream, and thus to the fetus.
Ngay từ trước khi sinh ra, con người đã được tiếp xúc qua các hương vị như socola, tỏi, bạc hà và vanila lan tỏa trọn vẹn qua đường máu, và cuối cùng là đến thai nhi.
Though it is not yet clear whether such pre-natal exposure shapes taste-perception, there is evidence that it shapes preferences for foods encountered later in life.
Mặc dù nó vẫn chưa rõ rằng liệu sự tiếp xúc tiền sản này có định hình nhận thức về vị giác hay không, đã có bằng chứng cho thấy nó hình thành sở thích với một số thức ăn gặp phải sau này trong cuộc sống.
However, there are clearly genetic influences at work, as well – for example in the ability to taste quinine.
Tuy nhiên, các ảnh hưởng di truyền cũng đang có tác động, ví dụ như đối với khả năng nếm nước chanh đắng quinine.
Some people experience this as intensely bitter, even when it is present at very low levels. Others, whose genetic endowment is different, are less bothered by it.
Một số người thử thứ nước này và cảm thấy cực kì đắng, kể cả khi chỉ một lượng nhỏ. Một số người khác với gen di truyền khác lại không cảm thấy khó chịu về thứ nước này.
Twin studies make this extremely clear.
Nghiên cứu về song sinh trên đã chứng minh điều này cực kỳ rõ ràng.
Within a pair of identical twins, either both, or neither, will find quinine hard to swallow.
Trong một cặp song sinh giống nhau, cả hai sẽ cùng có, hoặc cùng không có cảm giác nước quininen khó nuốt.
Non-identical twins will agree less frequently.
Ở các cặp sinh đôi không giống nhau, họ lại ít có sự đồng tình với nhau như thế này hơn.
On the other side of the tent, Dennis Drayna, from the National Institute on Deafness and Other Communication Disorders, in Maryland, was studying hearing.
Ở một góc lều khác, Dennis Drayna, đến từ Viện Quốc gia về Điếc và các chứng Rối loạn giao tiếp khác (Maryland) đang tìm hiểu về thính giác.
He wants to know what happens to sounds after they reach the ear.
Ông này muốn tìm hiểu về việc điều gì đã xảy ra với các âm thanh sau khi chúng truyền tới tai.
It is not clear, he says, whether sound is processed into sensation mostly in the ear or in the brain.
Ông cho biết rằng nó vẫn khá mơ hồ liệu âm thanh được xử lý thành cảm giác chủ yếu trong tai hay trong não.
Từ vựng (18)
- pre-natal (ˈpɹi) (ˈneɪ.t̬əl) — trước thai nhi
- pathology (pəˈθɑː.lə.dʒi) — bệnh lý
- unravel (ʌnˈræv.əl) — làm sáng tỏ
- Two of a kind (tuː) (əv) (ˈeɪ, ə) (kaɪnd) — very similar
- prevailing (prɪˈveɪ.lɪŋ) — đang thịnh hành
- sip (sɪp) — nhấm nháp
- aftermath (ˈæf.tɚ.mæθ) — hậu quả
- osteoporosis (ˌɑː.sti.oʊ.pəˈroʊ.sɪs) — viêm khớp
- novelty (ˈnɑː.vəl.t̬i) — mới lạ
- concordant (kənˈkɔːr.dənt) — phù hợp (về gen)
- asthma (ˈæz.mə) — loãng xương
- pendulum (ˈpen.dʒəl.əm) — quả lắc đồng hồ
- formulate (ˈfɔːr.mjə.leɪt) — làm theo thể thức/phát biểu
- skin-mole (skɪn) (moʊl) — nốt ruồi
- ideology (ˌaɪ.diˈɑː.lə.dʒi) — tư tưởng học
- attribute (ˈæt.rɪ.bjuːt) — thuộc tính
- endowment (ɪnˈdaʊ.mənt) — tiền quyên góp
- dichotomy (daɪˈkɑː.t̬ə.mi) — chia hai