← Danh sách bài đọc
Bài 149
Plant Scents
Mùi thơm thực vật
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Everyone is familiar with scented flowers, and many people have heard that floral odors help the plant attract pollinators.
Ai ai cũng quen thuộc với những đóa hoa ngát hương, và nhiều người còn nghe nói rằng hương hoa có thể giúp cho thực vật thu hút các loài thụ phấn.
This common notion is mostly correct, but it is surprising how little scientific proof of it exists.
Khái niệm phổ biến này hầu như là đúng, nhưng thật đáng ngạc nhiên khi có rất ít bằng chứng khoa học về sự tồn tại của nó.
Of course, not all flowers are pollinated by biological agents– for example, many grasses are wind-pollinated – but the flowers of the grasses may still emit volatiles.
Tất nhiên, không phải tất cả loài hoa đều được thụ phấn bởi tác nhân sinh học- ví dụ, rất nhiều loại cỏ được thụ phấn nhờ gió, nhưng hoa của cỏ vẫn phát ra các chất bay hơi.
In fact, plants emit organic molecules all the time, although they may not be obvious to the human nose.
Trên thực tế, thực vật phát ra các phân tử hữu cơ mọi lúc, mặc dù chúng có lẽ không rõ ràng đối với mũi của con người.
As for flower scents that we can detect with our noses, bouquets that attract moths and butterflies generally smell “sweet,” and those that attract certain flies seem “rotten” to us.
Đối với các hương hoa chúng ta có thể phát hiện bằng mũi, những mùi hương mà thu hút các con ngài và bướm nhìn chung thường có mùi “ngọt ngào”, và những thứ mà thu hút các loại như ruồi dường như được coi là “thối” với chúng ta.
The release of volatiles from vegetative parts of the plant is familiar, although until recently the physiological functions of these chemicals were less clear and had received much less attention from scientists.
Việc giải phóng các chất bay hơi từ bộ phận thực vật của cây rất thường thấy, mặc dù đến tận gần đây các chức năng sinh lý của các loại hóa chất này ít rõ ràng hơn và nhận ít được chú ý hơn bởi các nhà khoa học.
When the trunk of a pine tree is injured – for example, when a beetle tries to burrow into it – it exudes a very smelly resin.
Khi thân cây thông bị thương - ví dụ, khi một con bọ cố gắng đào sâu vào nó - thân cây tiết ra một loại nhựa rất nặng mùi.
This resin consists mostly of terpenes – hydrocarbons with a backbone of 10, 15 or 20 carbons that may also contain atoms of oxygen.
Nhựa này bao gồm chủ yếu là terpen – là hydrocarbon có cấu trúc từ 10, 15 hoặc 20 cacbon, có thể cũng chứa các nguyên tử oxy.
The heavier C20 terpenes, called diterpenes, are glue-like and can cover and immobilize insects as they plug the hole.
Các terpen C20 nặng hơn, được gọi là diterpen, giống như keo và có thể bao phủ và giữ chặt côn trùng khi chúng bít lỗ.
This defense mechanism is as ancient as it is effective:
Cơ chế tự bảo vệ này khá cổ xưa nhưng rất có hiệu quả:
Many samples of fossilized resin, or amber, contain the remains of insects trapped inside.
Nhiều mẫu nhựa hóa thạch, hoặc hổ phách, chứa xác côn trùng bị mắc kẹt bên trong.
Many other plants emit volatiles when injured, and in some cases the emitted signal helps defend the plant.
Nhiều cây khác phát ra chất bay hơi khi bị thương, và trong một số trường hợp, tín hiệu được phát ra giúp bảo vệ cây.
For example, (Z)-3-hexenyl acetate, which is known as a “green leaf volatile” because it is emitted by many plants upon injury, deters females of the moth Heliothis virescens from laying eggs on injured tobacco plants.
Ví dụ, (Z) -3-hexenyl axetat, được gọi là "chất bay hơi từ lá xanh" vì nó được phát ra bởi nhiều thực vật khi bị thương, ngăn cản các con ngài cái Heliothis virescens đẻ trứng trên cây thuốc lá bị thương.
Interestingly, the profile of emitted tobacco volatiles is different at night than during the day, and it is the nocturnal blend, rich in several (Z)-3-hexen-1-olesters, that is most effective in repelling the night-active H. virescens moths.
Điều thú vị là, cấu trúc của các chất bay hơi mà cây thuốc lá phát ra vào ban đêm khác biệt so với ban ngày, và đó là hỗn hợp về đêm với hàng loạt (Z) -3-hexen-1-olesters, có hiệu quả nhất trong việc đẩy lùi loài ngài Virescens hoạt động tích cực vào ban đêm.
Herbivore induced volatiles often serve as indirect defenses.
Các chất bay hơi gây ra bởi động vật ăn cỏ thường đóng vai như cơ chế phòng thủ gián tiếp.
These bulwarks exist in a variety of plant species, including corn, beans, and the model plant species Arabidopsis thaliana.
Những lớp chắn phòng thủ này tồn tại trong hàng loạt các loài thực vật, bao gồm ngô, đậu và các loài thực vật mô hình Arabidopsis thaliana.
Plants not only emit volatiles acutely, at the site where caterpillars, mites, aphids or similar insects are eating them but also generally from non-damaged parts of the plant.
Thực vật không chỉ phát ra các chất dễ bay hơi tại vị trí mà sâu bướm, ve, rệp hoặc các loại côn trùng tương tự đang ăn mà còn thường từ các bộ phận không bị hư hại của cây.
These signals attract a variety of predatory insects that prey on the plant-eaters.
Những tín hiệu này thu hút hằng hà sa số các loại côn trùng săn mồi đi săn những loài ăn thực vật.
For example, some parasitic wasps can detect the volatile signature of a damaged plant and will lay their eggs inside the offending caterpillar; eventually, the wasp eggs hatch, and the emerging larvae feed on the caterpillar from the inside hatch, and the emerging larvae feed on the caterpillar from the inside out.
Ví dụ, một số loài ong bắp cày ký sinh có thể phát hiện ra dấu hiệu dễ bay hơi của cây phá hại và sẽ đẻ trứng vào bên trong loài sâu bướm xâm phạm; cuối cùng, trứng ong bắp cày nở, và ấu trùng xuất hiện ăn sâu bướm từ trong trứng nở, và ấu trùng mới ăn sâu bướm từ trong ra ngoài.
The growth of infected caterpillars is retarded considerably, to the benefit of the plant.
Sự phát triển của sâu bướm bị nhiễm bệnh chậm lại đáng kể, tạo nên lợi ích của cây trồng.
Similarly, volatiles released by plants in response to herbivore egg laying can attract parasites of the eggs, thereby preventing them from hatching and avoiding the onslaught of hungry herbivores that would have emerged.
Tương tự như vậy, các chất bay hơi do thực vật phát ra để đáp ứng với việc đẻ trứng của động vật ăn cỏ có thể thu hút các ký sinh trùng trong trứng, nhờ đó ngăn chúng nở và tránh sự tấn công của các động vật ăn cỏ háu đói đã hiện diện.
Plant volatiles can also be used as a kind of currency in some very indirect defensive schemes.
Chất bay hơi của thực vật cũng có thể được sử dụng như một loại tiền tệ trong một số kế sách phòng thủ rất gián tiếp.
In the rainforest understory tree Leonardoxa Africana, ants of the species Petalomyrmex phylax patrol young leaves and attack any herbivorous insects that they encounter.
Trong cây rừng nhiệt đới Leonardoxa Africana, kiến thuộc loài Petalomyrmex phylax đi tuần tra các lá non và tấn công bất kỳ loài côn trùng ăn cỏ nào mà chúng gặp phải.
The young leaves emit high levels of the volatile compound methyl salicylate, a compound that the ants use either as a pheromone or as an antiseptic in their nests.
Những chiếc lá non thải ra hợp chất dễ bay hơi methyl salicylate, với hàm lượng cao, một loại hợp chất mà kiến sử dụng làm pheromone hoặc làm chất khử trùng trong tổ của chúng.
It appears that methyl salicylate is both an attractant and a reward offered by the tree to get the ants to perform this valuable deterrent role.
Có vẻ như methyl salicylate vừa chất hấp dẫn vừa là phần thưởng mà cây đưa ra để kiến thực hiện vai trò răn đe đáng giá này.
Floral scent has a strong impact on the economic success of many agricultural crops that rely on insect pollinators, including fruit trees such as the bee-pollinated cherry, apple, apricot and peach, as well as vegetables and tropical plants such as papaya.
Hương hoa có tác động mạnh mẽ đến mặt thành công kinh tế của nhiều loại cây nông nghiệp cần côn trùng thụ phấn, bao gồm các loại cây ăn quả như anh đào thụ phấn nhờ ong, táo, mơ và đào, cũng như các loại rau và cây nhiệt đới như đu đủ.
Pollination not only affects crop yield, but also the quality and efficiency of crop production.
Sự thụ phấn không chỉ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng mà còn ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả sản lượng cây trồng.
Many crops require most, if not all, ovules to be fertilized for optimum fruit size and shape.
Nhiều loại cây trồng yêu cầu hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, noãn được thụ tinh để có kích thước và hình dạng quả tối ưu.
A decrease in fragrance emission reduces the ability of flowers to attract pollinators and results in considerable losses for growers, particularly for introduced species that had a specialized pollinator in their place of origin.
Sự suy giảm của hương thơm phát ra làm suy giảm khả năng thu hút các thụ phấn và dẫn đến thiệt hại đáng kể cho người trồng, đặc biệt là đối với các loài du nhập có loài thụ phấn chuyên biệt tại quê hương của chúng.
This problem has been exacerbated by recent disease epidemics that have killed many honeybees, the major insect pollinators in the United States.
Vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn do các đợt dịch bệnh gần đây đã giết chết nhiều ong mật, loài côn trùng thụ phấn chính ở Hoa Kỳ.
One means by which plant breeders circumvent the pollination problem is by breeding self-compatible, or apomictic, varieties that do not require fertilization.
Một cách mà các nhà tạo giống cây trồng có thể tránh sự cố thụ phấn là lai tạo các giống tự tương thích, hoặc sinh sản vô tính, các loài không cần thụ tinh.
Although this solution is adequate, its drawbacks include near genetic uniformity and consequent susceptibility to pathogens.
Mặc dù giải pháp này thỏa đáng, nhưng nhược điểm của nó bao gồm bộ gen gần và dẫn đến tính nhạy cảm với mầm bệnh.
Some growers have attempted to enhance honeybee foraging by spraying scent compounds on orchard trees, but this approach was costly, had to be repeated, had potentially toxic effects on the soil or local biota, and, in the end, proved to be inefficient.
Một số người trồng đã cố gắng tăng cường khả năng kiếm ăn của ong mật bằng cách phun các hợp chất tạo mùi hương lên cây ăn quả, nhưng cách làm này lại tốn kém, phải lặp đi lặp lại, có khả năng gây độc cho đất hoặc hệ sinh vật địa phương, và cuối cùng, được chứng minh là không hiệu quả.
The poor effectiveness of this strategy probably reflects inherent limitations of the artificial, topically applied compounds, which clearly fail to convey the appropriate message to the bees.
Tính hiệu quả kém của chiến lược này có lẽ phản ánh những hạn chế cố hữu của các hợp chất nhân tạo, áp dụng tại chỗ, rõ ràng đã thất bại trong việc truyền tải được thông điệp tương thích đến đàn ong.
For example, general spraying of the volatile mixture cannot tell the insects where exactly the blossoms are.
Ví dụ, việc phun hỗn hợp dễ bay hơi nhìn chung không thể cho côn trùng biết chính xác những bông hoa đang ở đâu.
Clearly, a more refined strategy is needed.
Rõ ràng là cần một chiến lược tinh tế hơn.
The ability to enhance existing floral scent, which could all be accomplished by genetic engineering, would allow us to manipulate the types of insect pollinators and the frequency of their visits.
Khả năng tăng cường hương hoa hiện có, tất cả đều có thể được thực hiện bằng kỹ thuật di truyền, sẽ cho phép chúng ta kiểm soát các loại côn trùng thụ phấn và tần suất xuất hiện của chúng.
Moreover, the metabolic engineering of fragrance could increase crop protection against pathogens and pests.
Hơn nữa, kỹ thuật chuyển hóa hương thơm có thể tăng khả năng bảo vệ cây trồng chống lại mầm bệnh và sâu bệnh.
Genetic manipulation of the scent will also benefit the floriculture industry.
thao tác di truyền đối với mùi hương cũng sẽ có lợi cho ngành công nghiệp trồng hoa.
Ornamentals, including cut flowers, foliage and potted plants, play an important aesthetic role in human life.
Các món trang trí, bao gồm hoa, cành lá và cây chậu đóng một vai trò thẩm mỹ quan trọng trong đời sống con người.
Unfortunately, traditional breeding has often produced cultivars with improved vase life, shipping characteristics, color and shape while sacrificing desirable perfumes.
Thật không may, việc nhân giống truyền thống thường tạo ra những giống cây trồng đã cải thiện thời gian tươi của hoa trong lọ, đặc tính vận chuyển, màu sắc và hình dạng trong khi phải hy sinh hương hoa quyến rũ.
The loss of scent among ornamentals, which have a worldwide value of more than $30 billion, makes them important targets for the genetic manipulation of flower fragrance.
Việc mất đi mùi hương giữa các loài hoa trang trí, có giá trị hơn 30 tỷ đô la trên toàn cầu, khiến chúng trở thành mục tiêu quan trọng cho thao tác di truyền của hương hoa.
Some work has already begun in this area, as several groups have created petunia and carnation plants that express the linalool synthase gene from C. Breweri.
Một vài công việc đã bắt đầu sẵn trong lĩnh vực này, như một số đội ngũ đã tạo ra cây dạ yên thảo và cây hoa cẩm chướng biểu hiện ra gen linalool synthase từ C. Breweri.
These experiments are still preliminary:
Các thí nghiệm này vẫn còn sơ bộ:
For technical reasons, the gene was expressed everywhere in the plant, and although the transgenic plants did create small amounts of linalool, the level was below the threshold of detection for the human nose.
Về lý do kỹ thuật, gen này được biểu hiện mọi chỗ trong thực vật và mặc dù cây biến đổi gen đã tạo ra một lượng nhỏ linalool, nhưng mức độ này vẫn dưới ngưỡng phát hiện đối với mũi người.
Similar experiments in tobacco used genes for other monoterpene synthases, such as the one that produces limonene, but gave similar results.
Các thí nghiệm tương tự trên cây thuốc lá được dùng các gen monoterpene tổng hợp khác, chẳng hạn như gen tạo ra limonene, nhưng vẫn cho ra kết quả tương tự.
The next generation of experiments, already in progress, includes sophisticated schemes that target the expression of scent genes specifically to flowers or other organs – such as special glands that can store antimicrobial or herbivore-repellent compounds.
Các cuộc thí nghiệm tiếp theo, đang trong giai đoạn tiến hành, bao gồm các kế hoạch phức tạp nhắm đến biểu hiện của các gen mùi hương, đặc biệt đối với các loài hoa hoặc các cơ quan khác - chẳng hạn như các tuyến đặc biệt có thể lưu trữ các hợp chất chống vi khuẩn hoặc chống lại động vật ăn thực vật.
Từ vựng (18)
- ordor (ordor*) — mùi thơm
- pollinators (pollinators*) — loài giúp cây thụ phấn
- volatile (ˈvɑː.lə.t̬əl) — chất dễ bay hơi
- bouquet (boʊˈkeɪ) — bó hoa
- moth (mɑːθ) — con ngài
- exude (ɪɡˈzuːd) — tiết ra
- resin (ˈrez.ɪn) — nhựa cây
- amber (ˈæm.bɚ) — hổ phách
- nocturnal (nɑːkˈtɝː.nəl) — thuộc về ban đêm
- bulwark (ˈbʊl.wɚk) — lớp phòng thủ
- wasps (ˈwɑsps) — ong bắp cày
- caterpillar (ˈkæt̬.ɚ.pɪl.ɚ) — sâu bướm
- retard (rɪˈtɑːrd) — làm chậm lại
- exacerbate (ɪɡˈzæs.ɚ.beɪt) — làm cho trầm trọng hơn
- pathogen (ˈpæθ.ə.dʒən) — mầm bệnh
- vase life (veɪs) (laɪf) — thời gian hoa tươi khi được cắm trong lọ
- manipulation (məˌnɪp.jəˈleɪ.ʃən) — thao tác
- preliminary (prɪˈlɪm.ə.ner.i) — sơ bộ, ban sơ