← Danh sách bài đọc
Bài 151
Personality and appearance
Tính cách và diện mạo
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Personality and appearance
Tính cách và diện mạo
When Charles Darwin applied to be the “energetic young man” that Robert Fitzroy, the Beagle’s captain, sought as his gentleman companion, he was almost let down by a woeful shortcoming that was as plain as the nose on his face.
Khi Charles Darwin ứng tuyển để trở thành "chàng trai trẻ giàu năng lượng" mà Robert Fitzroy, thuyền trưởng tàu Beagle, đang tìm kiếm cho vị trí một quý ông đồng hành cùng ông, chàng trai ấy suýt đã phải thất vọng bởi một thiếu sót đáng tiếc là cái mũi không ưa nhìn trên mặt mình.
Fitzroy believed in physiognomy—the idea that you can tell a person’s character from their appearance.
Fitzroy tin vào thuật xem tướng mặt—quan niệm rằng bạn có thể nói lên tính cách của một người từ diện mạo của họ.
As Darwin’s daughter Henrietta later recalled, Fitzroy had “made up his mind that no man with such a nose could have energy”.
Khi Henrietta, con gái của Darwin sau này nhớ lại, Fitzroy đã "quả quyết rằng không người đàn ông nào với chiếc mũi như vậy có thể có đủ nhiệt huyết."
This was hardly the case.
Điều này hầu như không đúng.
Fortunately, the rest of Darwin’s visage compensated for his sluggardly proboscis: “His brow saved him.”
May mắn thay, những phần còn lại trên khuôn mặt của Darwin đã bù đắp cho cái mũi dài trông có vẻ lười biếng của ông: “Chính hàng lông mày đã cứu ông ấy”.
The idea that a person’s character can be glimpsed in their face dates back to the ancient Greeks.
Quan niệm rằng tính cách của một người có thể được nhìn thoáng qua trên khuôn mặt họ đã có từ thời Hy Lạp cổ đại.
It was most famously popularised in the late 18th century by the Swiss poet Johann Lavater, whose ideas became a talking point in intellectual circles.
Nó được phổ biến rộng rãi nhất vào cuối thế kỷ 18 bởi nhà thơ người Thụy Sĩ Johann Lavater, người mà các tư tưởng của ông đã trở thành một chủ đề bàn tán trong giới trí thức.
In Darwin’s day, they were more or less taken as given.
Vào thời của Darwin, chúng gần như được xem là đúng.
It was only after the subject became associated with phrenology, which fell into disrepute in the late 19th century, that physiognomy was written off as pseudoscience.
Chỉ sau khi chủ đề này bị gắn với nghiên cứu não tướng học (phương pháp đo hộp sọ để nghiên cứu tâm trí), thứ gắn với nhiều tai tiếng hồi cuối thế kỷ 19, thì thuật xem tướng mặt mới được ghi nhận như một thứ ngụy khoa học.
First impressions are highly influential, despite the well-worn admonition not to judge a book by its cover.
Ấn tượng đầu tiên có ảnh hưởng cực kỳ lớn, bất chấp một lời khuyên cũ rích mà chúng ta thường nghe đi nghe lại rằng đừng đánh giá một cuốn sách qua bìa ngoài của nó.
Within a tenth of a second of seeing an unfamiliar face we have already made a judgement about its owner’s character—caring, trustworthy, aggressive, extrovert, competent and so on.
Trong vòng một phần mười giây khi nhìn thấy một khuôn mặt xa lạ chúng ta đã đưa ra phán xét về tính cách chủ nhân nó rồi — quan tâm, đáng tin cậy, hung hãn, hướng ngoại, có năng lực, v.v.
Once that snap judgement has formed, it is surprisingly hard to budge.
Một khi nhận định chớp nhoáng đó đã hình thành, thật đáng ngạc nhiên là nó khó có thể lay chuyển được.
People also act on these snap judgements.
Mọi người cũng hành động dựa trên những nhận định chớp nhoáng này.
Politicians with competent-looking faces have a greater chance of being elected, and CEOs who look dominant are more likely to run a profitable company.
Các chính trị gia có khuôn mặt thạo việc có cơ hội được bầu cao hơn và các CEO có vẻ ngoài nổi trội có nhiều khả năng điều hành một công ty sinh lãi.
There is also a well-established “attractiveness halo”.
Ngoài ra còn có một loại thiên kiến đã tồn tại khá lâu gọi là “hào quang của sự hấp dẫn".
People seen as good-looking not only get the most valentines but are also judged to be more outgoing, socially competent, powerful, intelligent and healthy.
Những người được coi là ưa nhìn không chỉ nhận được nhiều thiệp valentine nhất mà còn được đánh giá là hướng ngoại hơn, có năng lực xã hội, quyền lực, thông minh và khỏe mạnh.
In 1966, psychologists at the University of Michigan asked 84 undergraduates who had never met before to rate each other on five personality traits, based entirely on appearance, as they sat for 15 minutes in silence.
Năm 1966, các nhà tâm lý học tại Đại học Michigan đã yêu cầu 84 sinh viên chưa từng gặp nhau đánh giá về năm đặc điểm tính cách của nhau, hoàn toàn dựa trên diện mạo, khi họ ngồi im lặng trong 15 phút.
For three traits—extroversion, conscientiousness and openness—the observers’ rapid judgements matched real personality scores significantly more often than chance.
Đối với 3 nét tính cách tiêu biểu—hướng ngoại, tận tâm và sự cởi mở—những phán đoán nhanh chóng của người quan sát ăn khớp đáng kể và thường xuyên hơn với điểm số tính cách thực so với những phán đoán có tính tình cờ.
More recently, researchers have re-examined the link between appearance and personality, notably Anthony Little of the University of Stirling and David Perrett of the University of St Andrews, both in the UK.
Gần đây hơn, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra lại mối liên hệ giữa diện mạo và tính cách, đáng chú ý là 2 nhà khoa học Anthony Little của Đại học Stirling và David Perrett của Đại học St Andrews, cả hai đều ở Anh.
They pointed out that the Michigan studies were not tightly controlled for confounding factors.
Họ chỉ ra rằng các nghiên cứu của phía Michigan không được kiểm soát chặt chẽ đối với các yếu tố gây nhiễu.
But when Little and Perrett re-ran the experiment using mugshots rather than live subjects, they also found a link between facial appearance and personality—though only for extroversion and conscientiousness.
Nhưng khi Little và Perrett tái thực hiện thí nghiệm này bằng cách sử dụng hình cảnh sát (hình chân dung khi bị bắt) thay vì đối tượng trực tiếp, họ cũng tìm thấy mối liên hệ giữa diện mạo khuôn mặt và tính cách—mặc dù chỉ dành cho 2 nét tính cách hướng ngoại và tận tâm.
Little and Perrett claimed that they only found a correlation at the extremes of personality.
Little và Perrett khẳng định rằng họ chỉ tìm thấy mối tương quan ở hai thái cực tính cách.
Justin Carre and Cheryl McCormick of Brock University in Ontario, Canada studied 90 ice-hockey players.
Justin Carre và Cheryl McCormick của Đại học Brock ở Ontario, Canada đã nghiên cứu 90 vận động viên khúc côn cầu trên băng.
They found that a wider face in which the cheekbone-to-cheekbone distance was unusually large relative to the distance between brow and upper lip was linked in a statistically significant way with the number of penalty minutes a player was given for violent acts including slashing, elbowing, checking from behind and fighting.
Họ phát hiện ra rằng một khuôn mặt có chiều rộng lớn hơn mà trên đó khoảng cách giữa 2 xương gò má lớn bất thường so với khoảng cách giữa lông mày và môi trên được có mối liên quan đáng kể về mặt số liệu với số phút phạt đền mà một cầu thủ được nhận vì các hành vi bạo lực bao gồm quật, thúc khuỷu tay, kìm hãm từ phía sau và đánh nhau.
The kernel of truth idea isn’t the only explanation on offer for our readiness to make facial judgements.
Tư tưởng hạt nhân của sự thật không phải là lời giải thích duy nhất sẵn có cho sự chớp nhoáng của chúng ta trong việc đưa ra các phán xét về mặt mũi.
Leslie Zebrowitz, a psychologist at Brandeis University in Waltham, Massachusetts, says that in many cases snap judgements are not accurate.
Leslie Zebrowitz, một nhà tâm lý học tại Đại học Brandeis ở Waltham, Massachusetts, nói rằng trong nhiều trường hợp, các nhận định chớp nhoáng không chính xác.
The snap judgement, she says, is often an “overgeneralisation” of a more fundamental response.
Cô ấy nói, phán xét chớp nhoáng thường là "sự khái quát hoá quá mức" của một phản ứng quan trọng hơm.
A classic example of overgeneralisation can be seen in predators’ response to eye spots, the conspicuous circular markings seen on some moths, butterflies and fish.
Một ví dụ điển hình về sự khái quát hoá quá mức có thể được nhìn thấy ở phản ứng của thú ăn thịt đối với các nốt mắt, các vết hình tròn dễ nhìn thấy trên một số loài sâu bướm, bướm và cá.
These act as a deterrent to predators because they mimic the eyes of other creatures that the potential predators might see as a threat.
Chúng hoạt động như một vật cản các loài săn mối vì chúng giống như ánh mắt của những sinh vật khác mà những kẻ săn mồi tiềm năng này có thể coi là mối đe dọa.
Another researcher who leans towards overgeneralisation is Alexander Todorov.
Một nhà nghiên cứu khác nữa hứng thú với sự khái quát hoá quá mức là Alexander Todorov.
With Princeton colleague Nikolaas Oosterhof, he recently put forward a theory which he says explains our snap judgements of faces in terms of how threatening they appear.
Với đồng nghiệp Nikolaas Oosterhof ở Princeton, anh ấy gần đây đã đưa ra một giả thuyết mà theo anh là có thể lý giải những nhận định chớp nhoáng của chúng ta xét về mặt chúng trông đe doạ như thế nào.
Todorov and Oosterhof asked people for their gut reactions to pictures of emotionally neutral faces, sifted through all the responses, and boiled them down to two underlying factors: how trustworthy the face looks, and how dominant.
Todorov và Oosterhof đã hỏi nhiều người về phản ứng nguyên thuỷ của họ đối với những bức ảnh có khuôn mặt cảm xúc trung tính, rồi sàng lọc tất cả phản ứng lại và quy chúng về 2 nhóm yếu tố cơ bản: khuôn mặt trông đáng tin cậy đến đâu và mức độ nổi trội.
Todorov and Oosterhof conclude that personality judgements based on people’s faces are an overgeneralisation of our evolved ability to infer emotions from facial expressions, and hence a person’s intention to cause us harm and their ability to carry it out.
Todorov và Oosterhof kết luận rằng các phán xét về tính cách dựa trên khuôn mặt của mọi người là sự khái quát hoá quá mức về khả năng đã tiến hóa của chúng ta trong việc phán đóan cảm xúc từ biểu cảm khuôn mặt, và vì thế bao gồm cả phán đoán về ý định làm hại chúng ta của một người và khả năng thực hiện điều đó của họ.
Todorov, however, stresses that overgeneralisation does not rule out the idea that there is sometimes a kernel of truth in these assessments of personality.
Tuy nhiên, Todorov nhấn mạnh rằng khái quát hoá quá mức không hoàn toàn loại bỏ ý kiến rằng đôi khi cũng có một phần đúng trong những đánh giá về tính cách này.
So if there is a kernel of truth, where does it come from?
Vậy nếu tồn tại một phần nhận xét đúng này, thì nó đến từ đâu?
Perrett has a hunch that the link arises when our prejudices about faces turn into self-fulfilling prophecies—an idea that was investigated by other researchers back in 1977.
Perrett có linh cảm rằng mối liên hệ nảy sinh khi định kiến của chúng ta về bề ngoài biến thành những lời tiên tri tự ứng nghiệm—một ý tưởng đã được các nhà nghiên cứu khác nghiên cứu vào năm 1977.
Our expectations can lead us to influence people to behave in ways that confirm those expectations: consistently treat someone as untrustworthy and they end up behaving that way.
Những dự đoán của chúng ta có thể khiến chúng ta tác động tới cách mọi người hành xử ăn khớp với những gì chúng ta dự đoán: luôn coi ai đó là không đáng tin cậy và cuối cùng họ sẽ hành xử theo cách đó.
This effect sometimes works the other way round, however, especially for those who look cute.
Tuy nhiên, hiệu ứng này đôi khi hoạt động theo cách ngược lại, đặc biệt là đối với những người trông dễ thương.
The Nobel prize-winning ethologist Konrad Lorenz once suggested that baby-faced features evoke a nurturing response.
Nhà tập tính học đoạt giải Nobel Konrad Lorenz từng cho rằng các đặc điểm trên khuôn mặt trẻ thơ thường gợi lên ở chúng ta cảm giác muốn chăm sóc và nuôi nấng chúng.
Support for this has come from work by Zebrowitz, who has found that baby-faced boys and men stimulate an emotional centre of the brain, the amygdala, in a similar way.
Sự đồng tình với ý tưởng này đến từ công trình nghiên cứu của Zebrowitz, người đã phát hiện ra rằng những cậu bé và nam giới có khuôn mặt trẻ thơ kích thích trung tâm cảm xúc của não, hạch hạnh nhân, theo cách tương tự như vậy.
But there’s a twist.
Nhưng rồi đột nhiên có một điểm ngoặt bất ngờ.
Babyfaced men are, on average, better educated, more assertive and apt to win more military medals than their mature-looking counterparts.
Về mặt bằng chung, những người đàn ông có khuôn mặt trẻ thơ thường được giáo dục tốt hơn, quyết đoán hơn và có xu hướng giành được nhiều huy chương quân sự hơn so với những đồng trang lứa của họ có khuôn mặt già dặn.
They are also more likely to be criminals; think Al Capone.
Họ cũng có nhiều khả năng là tội phạm; chẳng hạn Al Capone.
Similarly, Zebrowitz found baby-faced boys to be quarrelsome and hostile, and more likely to be academic highfliers.
Tương tự, Zebrowitz nhận thấy những cậu bé có khuôn mặt trẻ thơ thường hay gây gổ và chống đôi, và cũng có nhiều khả năng là người có tham vọng về học thuật.
She calls this the “self-defeating prophecy effect”: a man with a baby face strives to confound expectations and ends up overcompensating.
Cô ấy gọi đây là “hiệu ứng lời tiên tri tự thất bài”: một người đàn ông có khuôn mặt trẻ thơ cố gắng đánh vỡ những dự đoán và kết quả là phải trả cái giá lớn hơn nhiều cho những gì đã làm.
There is another theory that recalls the old parental warning not to pull faces because they might freeze that way.
Có một học thuyết khác gợi nhắc lời cảnh báo cũ của cha mẹ là không được vặn vẹo khuôn mặt vì chúng có thể tê liệt theo khuôn đó.
According to this theory, our personality moulds the way our faces look.
Theo học thuyết này, tính cách của chúng ta định hình khuôn mặt của chúng ta.
It is supported by a study two decades ago which found that angry old people tend to look cross even when asked to strike a neutral expression.
Nó được ủng hộ bởi một nghiên cứu cách đây hai thập kỉ mà trong đó người ta phát hiện ra rằng những người già hung dữ có xu hướng nhìn có vẻ giận dữ ngay cả khi được yêu cầu bày ra trạng thái không cảm xúc trên mặt.
A lifetime of scowling, grumpiness and grimaces seemed to have left its mark..
Cả một đời cau có, gắt gỏng và nhăn nhó dường như đã để lại dấu ấn của nó trên mặt họ.
Từ vựng (45)
- energetic (ˌen.ɚˈdʒet̬.ɪk) — giàu năng lượng, nhiệt huyết
- companion (kəmˈpæn.jən) — bạn đồng hành
- recall (ˈriː.kɑːl) — nhớ lại
- visage (ˈvɪz.ɪdʒ) — nét mặt
- compensate (ˈkɑːm.pən.seɪt) — bù đắp
- proboscis (proʊˈbɑː.sɪs) — cái mũi dài
- intellectual circles (ˌɪn.t̬əlˈek.tʃu.əl) (ˈsɝkəɫz) — giới tri thức
- disrepute (ˌdɪs.rɪˈpjuːt) — tiếng xấu
- physiognomy (ˌfɪz.iˈɑː.nə.mi) — thuật xem tướng mặt
- well-worn (wel) (wɔːrn) — lặp đi lặp lại
- admonition (ˌæd.məˈnɪʃ.ən) — lời nhắc nhở
- snap (snæp) — chớp nhoáng
- judgment (ˈdʒʌdʒ.mənt) — phán xét, nhận định
- trait (treɪt) — nét tiêu biểu
- extroversion (ek.strəˈvɝː.ʒən) — sự hướng ngoại
- conscientiousness (ˌkɑːn.ʃiˈen.ʃəs.nəs) — sự tận tâm
- openness (ˈoʊ.pən.nəs) — sự cởi mở
- confounding (kənˈfaʊnd) — lẫn lộn
- mugshot (ˈmʌɡ.ʃɑːt) — hình cảnh sát (hình chân dung chụp khi một người bị bắt)
- correlation (ˌkɔːr.əˈleɪ.ʃən) — sự tương quan
- at the extremes of (æt) (ðiː) (ɛkˈstɹimz) (əv) — tại những thái cực
- slash (slæʃ) — quất
- elbow (ˈel.boʊ) — huých khuỷ tay
- check (tʃek) — kìm hãm
- kernel of truth (ˈkɝː.nəl) (əv) (truːθ) — hạt nhân sự thật (một phần sự thật trong một mớ cái sai)
- overgeneralisation (ˌoʊ.vɚ.dʒen.ə r.əl.əˈzeɪ.ʃən) — sự khái quát hoá quá mức
- predator (ˈpred.ə.t̬ɚ) — kẻ săn mồi
- conspicuous (kənˈspɪk.ju.əs) — dễ nhìn thấy
- gut reaction (ɡʌt) (riˈæk.ʃən) — phản ứng nguyên thuỷ
- boil down to (bɔɪl) (daʊn) (tuː) — chung quy lại
- dominant (ˈdɑː.mə.nənt) — nổi trội
- underlying (ˌʌn.dɚˈlaɪ.ɪŋ) — cơ bản
- trustworthy (ˈtrʌstˌwɝː.ði) — đáng tin cậy
- intention (ɪnˈten.ʃən) — ý định
- rule out (ruːl) (aʊt) — bác bỏ
- self-fulfilling prophecies (self) (fʊlˈfɪl.ɪŋ) (ˈpɹɑfəsiz) — lời tiên tri tự ứng nghiệm
- hunch (hʌntʃ) — linh cảm
- assertive (əˈsɝː.t̬ɪv) — quả quyết
- quarrelsome (ˈkwɔːr.əl.səm) — hay gây gổ
- hostile (ˈhɑː.stəl) — chống đối, không thân thiện
- highflier (ˌhaɪˈflaɪ.ɚ) — người có tham vọng
- pull faces (pʊl) (ˈfeɪsəz, ˈfeɪsɪz) — vặn vèo khuôn mạt
- scowling (ˈskaʊ.lɪŋ) — quắc mắt cau có
- grumpiness (ˈɡrʌm.pi.nəs) — tính cục cằn
- grimace (ˈɡrɪm.əs) — sự cau mặt