← Danh sách bài đọc
Bài 163

Movie of Metropolis

Bộ phim Metropolis

…being the science-fiction film that is steadily becoming a fact.
… là bộ phim khoa học viễn tưởng dần trở thành hiện thực
When German director Fritz Lang visited the United States in 1924, his first glimpse of the country was a night-time view of the New York skyline from the deck of an ocean liner.
Khi đạo diễn người Pháp Fritz Lang đến thăm Hoa Kỳ vào năm 1924, thoáng nhìn đầu tiên của ông về đất nước này là khung cảnh ban đêm của đường chân trời New York từ boong tàu một chiếc tàu thủy.
This, he later recalled, was the direct inspiration for what is still probably the most innovative and influential science-fiction film ever made – Metropolis.
Điều này về sau được ông hồi tưởng lại như nguồn cảm hứng trực tiếp cho bộ phim khoa học viễn tưởng gần như là sáng tạo và có tầm ảnh hưởng nhất từng được thực hiện – Metropolis.
Metropolis is a bleak vision of the early twenty-first century that is at once both chilling and exhilarating.
Metropolis là một cảnh tượng ảm đạm của đầu thế kỉ 20 mà đồng thời vừa lạnh gáy vừa phấn khích.
This spectacular city of the future is a technological marvel of high-rise buildings connected by elevated railways and airships.
Thành phố hùng vĩ của tương lai này là một kỳ quan về công nghệ của những tòa nhà cao tầng được nối bởi hệ thống đường sắt trên cao và các khí cầu.
It’s also a world of extreme inequality and social division.
Đó còn là thế giới của sự bất công và phân chia xã hội cực độ.
The workers live below ground and exist as machines working in an endless routine of mind-numbing 10-hour shifts while the city’s elite lead lives of luxury high above.
Các công nhân sống dưới lòng đất và tồn tại như những cái máy làm công việc hàng ngày liên tục 10 giờ đồng hồ vô vị trong khi tầng lớp thượng lưu của thành phố sống cuộc sống xa hoa phía trên.
Presiding over them all is the Master of Metropolis, John Fredersen, whose sole satisfaction seems to lie in the exercise of power.
Phụ trách mọi thứ là Ông chủ của Metropolis, John Fredersen, người mà niềm thỏa mãn chỉ nằm ở việc thực thi quyền lực.
Lang’s graphic depiction of the future is conceived in almost totally abstract terms.
Mô tả đồ họa của Lang về tương lại được xem là những thuật ngữ gần như hoàn toàn trừu tượng.
The function of the individual machines is never defined.
Nhiệm vụ của mỗi cỗ máy không bao giờ được xác định.
Instead, this mass of dials, levers and gauges symbolically stands for all machines and all industry, with the workers as slave-live extensions of the equipment they have to operate.
Thay vào đó, đống những mặt số, đòn bẩy và các thiết bị đo tượng trưng cho toàn bộ máy móc và cả ngành công nghiệp, với những công nhân như những sự mở rộng của cuộc sống nô lệ bởi những thiết bị họ phải vận hành.
Lang emphasizes this idea in the famous shift-change sequence at the start of the movie when the workers walk in zombie-like geometric ranks, all dressed in the same dark overalls and all exhibiting the same bowed head and dead-eyed stare.
Lang nhấn mạnh ý tưởng này trong phân cảnh đổi ca làm việc từ đầu bộ phim khi những người lao động đi như xác sống theo các cấp bậc hình học, tất cả đều mặc cùng một bộ quần áo tối màu và tất cả đều thể hiện cái nhìn cúi đầu và đôi mắt đờ đẫn.
An extraordinary fantasy sequence sees one machine transformed into a huge open-jawed statue which then literally swallows them up.
Một phân cảnh giả tưởng phi thường chứng kiến một cổ máy biến thành một bức tượng khổng lồ có hàm mở lớn và sau đó nuốt chửng chúng theo đúng nghĩa đen.
On one level the machines and the exploited workers simply provide the wealth and services which allow the elite to live their lives of leisure, but on a more profound level, the purpose of all this demented industry is to serve itself.
Ở một mức độ nào đó, máy móc và những người lao động bị bóc lột chỉ đơn giản là cung cấp sự giàu có và dịch vụ cho phép giới thượng lưu sống cuộc sống nhàn hạ, nhưng ở một mức độ sâu xa hơn, mục đích của tất cả ngành công nghiệp điên loạn này là để phục vụ chính họ.
Power, control and the continuance of the system from one 10-hour shift to the next is all that counts.
Quyền lực, khả năng kiểm soát và tính liên tục của hệ thống từ ca làm việc kéo dài 10 giờ này sang ca tiếp theo là tất cả những gì quan trọng.
The city consumes people and their labour and in the process becomes a perverse parody of a living being.
Thành phố biến thành một sự mô phỏng kỳ lạ của một sinh vật sống khi nó như nuốt chửng con người và sức lao động của họ.
It is enlightening, I think, to relate the film to the modern global economy in which multinational corporations now routinely close their factories in one continent so that they can take advantage of cheap labour in another.
Tôi nghĩ, thật là thú vị khi liên hệ bộ phim với nền kinh tế toàn cầu hiện đại, trong đó các tập đoàn đa quốc gia hiện nay thường xuyên đóng cửa các nhà máy của họ ở một châu lục để họ có thể tận dụng nguồn lao động giá rẻ ở châu lục khác.
Like the industry in Metropolis, these corporations’ goals of increased efficiency and profits have little to do with the welfare of the majority of their employees or that of the population at large.
Giống như ngành công nghiệp ở Metropolis, các mục tiêu tăng hiệu quả và lợi nhuận của các tập đoàn này không liên quan nhiều đến phúc lợi của phần lớn nhân viên của họ hoặc của dân số nói chung.
Instead, their aims are to sustain the momentum of their own growth and to increase the monetary rewards to a tiny elite – their executives and shareholders.
Thay vào đó, mục đích của họ là duy trì động lực phát triển của chính họ và tăng phần thưởng bằng tiền cho một tầng lớp nhỏ - các giám đốc điều hành và cổ đông của họ.
Fredersen himself is the essence of the big company boss: Rupert Murdoch would probably feel perfectly at home in his huge skyscraper office with its panoramic view of the city below.
Bản thân Fredersen về cơ bản là ông chủ công ty lớn: Rupert Murdoch có lẽ sẽ cảm thấy hoàn hảo như ở nhà trong văn phòng chọc trời khổng lồ của mình với tầm nhìn ra toàn cảnh thành phố bên dưới.
And it is important that there is never any mention of government in Metropolis – the whole concept is by implication obsolete.
Và điều quan trọng là không bao giờ có bất kỳ đề cập nào đến chính phủ ở Metropolis - toàn bộ khái niệm này theo ngụ ý đã lỗi thời.
The only people who have power are the supreme industrialist, Fredersen, and his magician/scientist cohort Rotwang.
Những người duy nhất có quyền lực là nhà công nghiệp tối cao, Fredersen, và nhà khoa học/pháp sư đồng lõa của ông ta là Rotwang.
So far so good: when the images are allowed to speak for themselves the film is impeccable both in its symbolism and in its cynicism.
Cho đến nay thật tốt: khi những hình ảnh được cho phép tự lên tiếng cho bộ phim thì bộ phim hoàn hảo cả về tính biểu tượng lẫn tính giễu cợt của nó.
The problem with Metropolis is its sentimental story-line, which sees Freder, Fredersen’s son, instantly falling in love with the visionary Maria.
Vấn đề với Metropolis là mạch truyện đa cảm của nó, trong đó Freder, con trai của Fredersen, ngay lập tức phải lòng Maria - người có tầm nhìn xa trông rộng.
Maria leads an underground pseudo-religious movement and preaches that the workers should not rebel but should await the arrival of a ‘Mediator’ between the ‘Head’ (capital) and the ‘Hands’ (labour).
Maria dẫn đầu một phong trào tôn giáo giả ngầm và rao giảng rằng công nhân không nên nổi loạn mà nên chờ đợi sự xuất hiện của ‘Người trung gian’ giữa ‘Đầu’ (vốn) và ‘Tay’ (lao động).
That mediator is the ‘Heart’ – love, as embodied, finally, by Freder’s love of Maria and his father’s love of him.
Người trung gian đó là ‘Trái tim’ - tình yêu, như được thể hiện, cuối cùng, bởi tình yêu của Freder dành cho Maria và tình yêu của cha anh ấy dành cho anh.
Lang wrote the screenplay in collaboration with his then-wife Thea von Harbou.
Lang đã viết kịch bản với sự cộng tác của người vợ lúc đó là Thea von Harbou.
In 1933 he fled from the Nazis (and continued a very successful career in Hollywood).
Năm 1933, ông chạy trốn khỏi Đức Quốc xã (và tiếp tục sự nghiệp rất thành công ở Hollywood).
She stayed in Germany and continued to make films under the Hitler regime.
Cô ở lại Đức và tiếp tục làm phim dưới chế độ Hitler.
There is a constant tension within the film between the too-tidy platitudes of von Harbou’s script and the uncompromisingly caustic vigour of Lang’s imagery.
Có một sự căng thẳng liên tục trong bộ phim giữa các kịch bản quá gọn gàng của von Harbou và sự mãnh liệt cay độc không thể nhượng bộ trong hình ảnh của Lang.
To my mind, both in Metropolis and in the real world, it’s not so much that the ‘Head’ and ‘Hands’ require a ‘Heart’ to mediate between them but that the ‘Hands’ need to develop their own ‘Head’, their own political consciousness, and act accordingly – through the ballot box, through buying power and through a sceptical resistance to the materialistic fantasies of the Fredersens.
Theo suy nghĩ của tôi, cả trong Metropolis và trong thế giới thực, không phải cứ 'Đầu' và 'Tay' yêu cầu một 'Trái tim' làm trung gian giữa chúng nhưng 'Đôi tay' cần phát triển 'Đầu' của riêng mình, ý thức chính trị của riêng chúng, và hành động theo đó - thông qua hòm phiếu, thông qua sức mua và thông qua sự phản kháng hoài nghi đối với những tưởng tượng duy vật chất của Fredersens.
All the same, Metropolis is probably more accurate now as a representation of industrial and social relations than it has been at any time since its original release.
Mặc dù thế, Metropolis hiện tại có lẽ là đại diện cho các mối quan hệ công nghiệp và xã hội chính xác hơn so với bất kỳ thời điểm nào kể từ khi phát hành ban đầu.
And Fredersen is certainly still the most potent movie symbol of the handful of elusive corporate figureheads who increasingly treat the world as a Metropolis-like global village..
Và Fredersen chắc chắn vẫn là biểu tượng điện ảnh có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất trong số ít những người sáng lập công ty khó nắm bắt, những người ngày càng coi thế giới như một ngôi làng toàn cầu giống như Metropolis.

Từ vựng (17)

  • bleak (bliːk) — ảm đảm
  • at once (æt) (wʌns) — đồng thời
  • mind-numbing (maɪnd) (nʌm) — very boring = rất nhàm chán
  • Preside over (prɪˈzaɪd) (ˈoʊ.vɚ) — phụ trách/chủ trì
  • sequence (ˈsikwəns) — phân cảnh
  • overalls (ˈoʊ.vɚ.ɑːlz) — bộ quần áo công nhân
  • perverse (pɚˈvɝːs) — ngang bướng/lầm lạc
  • the essence of (ðiː) (ˈes.əns) (əv) — Phẩm chất cơ bản/ thiết yếu nhất
  • by implication (baɪ) (ˌɪm.pləˈkeɪ.ʃən) — ngụ uý
  • cynicism (ˈsɪn.ə.sɪ.zəm) — tính giễu cợt
  • sentimental (ˌsen.t̬əˈmen.t̬əl) — đa cảm
  • in collaboration with (ˈɪn, ɪn) (kəˌlæb.əˈreɪ.ʃən) (wɪð) — kết hợp với
  • uncompromisingly (ʌnˈkɑːm.prə.maɪ.zɪŋ.li) — không nhượng bộ
  • caustic (ˈkɑː.stɪk) — cay độc
  • platitudes (ˈpɫætɪˌtudz) — các kịch bản
  • All the same, (ɑːl) (ðə) (seɪm) — Mặc dù thế
  • potent (ˈpoʊ.t̬ənt) — đầy sức thuyết phục