← Danh sách bài đọc
Bài 016

Architecture in Britain

Kiến Trúc Nước Anh

Architecture in Britain
Kiến Trúc Nước Anh
Architecture is about evolution, not revolution.
Kiến trúc chính là nói về sự phát triển, chứ không phải là một Cuộc cách mạng.
It used to be thought that once the Romans pulled out of Britain in the fifth century, their elegant villas, carefully planned towns and engineering marvels like Hadrian's Wall simply fell into decay as British culture was plunged into the Dark Ages.
Người ta từng cho rằng, một khi người La Mã rời khỏi nước Anh vào thế kỷ V, những biệt thự tao nhã, những thị trấn được quy hoạch cẩn thận và những kỳ quan kiến trúc của họ, chẳng hạn như Bức tường thành Hadrian, cũng theo đó mà lụi tàn ngay khi nền văn hóa Anh Quốc chìm vào Thời Kỳ Tăm Tối.
It took the Norman Conquest of 1066 to bring back the light, and the Gothic cathedral-builders of the Middle Ages played an important part in the revival of British culture.
Chỉ đến khi Cuộc chinh phạt Anh của người Norman xảy ra vào năm 1066 thì ánh sáng mới soi rọi trở lại, và những người xây dựng các thánh điện Công giáo theo kiến trúc Gothic đã góp một công lao không nhỏ trong quá trình phục hưng lại nền văn hóa Anh.
However, the truth is not as simple as that.
Tuy nhiên, sự thật lại không đơn giản như thế.
Romano British culture - and that included architecture along with language, religion, political organization and the arts - survived long after the Roman withdrawal.
Nền văn hóa Anh thuộc La Mã - bao gồm cả kiến trúc lẫn ngôn ngữ, tôn giáo, cách tổ chức chính trị và cả nghệ thuật - vẫn tồn tại trong một thời gian dài ngay cả sau khi Sự rút lui của Đế Quốc La Mã.
And although the Anglo Saxons had a sophisticated building style of their own, little survives to bear witness to their achievements as the vast majority of Anglo-Saxon buildings were made of wood.
Và tuy là người Ăng-lô-Xắc-xông đã có cho mình một phong cách xây dựng tinh vi nhưng còn sót lại rất ít các di tích có thể chứng minh cho các thành tựu của họ vì hầu hết các công trình của họ đều được làm từ gỗ.
Even so, the period between the Norman landing at Pevensey in 1066 and the day in 1485 when Richard III lost his horse and his head at Bosworth, ushering in the Tudors and the Early Modern period, marks a rare flowering of British buildings.
Cho dù vậy, quãng thời gian giữa cuộc đổ bộ vào Pevensey của người Norman năm 1066 với sự kiện Richard Đệ Tam mất cả ngựa lẫn đầu của mình năm 1485 tại Bosworth đã mở đường cho thời kỳ Tudors và Tiền Hiện Đại, đánh dấu sự nở rộ hiếm có của các công trình xây dựng ở Anh.
And it is all the more remarkable because the underlying ethos of Medieval architecture was “fitness for purpose”.
Và điều này còn đáng chú ý hơn nữa bởi vì những đặc tính cơ bản của kiến trúc thời Trung Cổ đều thuộc loại “Phù Hợp Với Mục Đích”
The great cathedrals and parish churches that lifted up their towers to heaven were not only acts of devotion in stone, they were also fiercely functional buildings.
Việc các thánh điện lớn và nhà thờ giáo xứ đã nâng những tòa tháp của họ lên thật cao đến tận trời không chỉ là minh chứng cho sự tận tụy sắt đá, mà đó còn là một công trình có tính thực dụng mạnh mẽ.
Castles served their particular purpose and their battlements and turrets were for use rather than ornament.
Những lâu đài được sử dụng để phục vụ những mục đích cụ thể, và các thành lũy răng cưa cũng như tháp pháo đều hữu dụng chứ không phải chỉ trang trí cho đẹp.
The rambling manor houses of the later Middle Ages, however, were primarily homes, their owners achieving respect and maintaining status by their hospitality and good lordship rather than the grandeur of their buildings.
Tuy nhiên, những trang viên rộng rãi một cách thừa thãi thời Hậu Trung Cổ chủ yếu lại thì vẫn chỉ là ngôi nhà mà thôi, và chủ nhân của chúng có được sự tôn trọng và duy trì địa vị của họ bằng lòng hiếu khách cũng như là uy quyền to lớn, hơn là những tòa nhà xa hoa, vĩ đại ấy.
In a sense, the buildings of the 16th century were also governed by fitness for purpose-only now, the purpose was very different.
Nói theo nghĩa nào đó, thì những tòa nhà của thế kỷ 16 bị trói buộc trong sự “phù hợp với mục đích” - chỉ là bây giờ, mục đích cũng đã dần thay đổi .
In domestic architecture, in particular, buildings were used to display status and wealth.
Đặc biệt là với kiến trúc gia đình, khi mà những tòa nhà đã được sử dụng như một phương thức để phô trương địa vị và sự giàu có.
This stately and curious workmanship showed itself in various ways.
Tay nghề nghiêm túc và ham học hỏi này đã tự thể hiện bản thân theo nhiều cách khác nhau.
A greater sense of security led to more outward-looking buildings, as opposed to the medieval arrangement where the need for defense created houses that faced inward onto a courtyard or series of courtyard.
Cảm giác được bảo vệ an toàn hơn đã dẫn đến cách thiết kế hướng ra chính diện cho các tòa nhà, khác với thời Trung Cổ, thời mà cần đề cao việc phòng thủ, điều này đã tạo ra những ngôi nhà quay mặt vào một khoảng sân hoặc nhiều khoảng sân liền kề nhau.
This allowed for much more in the way of exterior ornament.
Điều này đã đa dạng hóa cách thức trang trí ngoại thất.
The rooms themselves tended to be bigger and lighter - as an expensive commodity, the use of great expanses of glass was in itself a statement of wealth.
Chính những căn phòng cũng có xu hướng được xây lớn hơn và sáng sủa hơn - vì kính là một mặt hàng đắt tiền, cho nên chỉ mỗi việc sử dụng những tấm kính lớn thôi cũng đã là một cách thể hiện sự giàu có.
There was also a general move towards balanced and symmetrical exteriors with central entrances.
Cũng đã có một xu hướng chung thiên về cách trang trí ngoại thất Đối xứng và cân bằng ở lối cửa chính.
With the exception of Inigo Jones (1573-1652), whose confident handling of classical detail and proportion set him apart from all other architects of the period, most early 17th century buildings tended to take the innocent exuberance of late Tudor work one step further.
Nếu loại trừ riêng Inigo Jones (1573 - 1652), với khả năng xử lý các tỷ lệ cũng như chi tiết trong kiến trúc cổ điển một cách tự tin đã tách biệt ông khỏi những người kỹ sư khác cùng thời đại, hầu hết các tòa nhà đầu thế kỷ 17 có xu hướng đưa nét đẹp lãng mạn thuần túy của phong cách thời kỳ Hậu Tudors lên một tầm cao mới.
But during the 1640s and 50s, the Civil War and its aftermath sent many gentlemen and nobles to the Continent either to escape the fighting or, when the war was lost, to follow Charles II into exile.
Nhưng trong giữa những năm 1640 và 1650, Cuộc Nội Chiến và những Hậu quả mà nó để lại đã khiến cho vô số các quý ông cũng như quý tộc đã chạy đến Lục địa Châu Âu để thoát khỏi cuộc giao tranh, hoặc là theo Charles Đệ Nhị Lưu vong nếu chiến tranh thất bại.
There they came into contact with French, Dutch and Italian architecture and, with Charles’s restoration in 1660, there was a flurry of building activity as royalists reclaimed their property and built themselves houses reflecting the latest European trends.
Ở đó họ được dịp tiếp xúc với nền kiến trúc Pháp, Hà Lan và Ý, và sự phục hồi của Charles vào năm 1660 đã thổi một làn gió mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động xây dựng khi mà những người ủng hộ chế độ quân chủ giành lại tài sản của họ và bắt đầu xây cho mình những ngôi nhà phản ánh xu hướng mới nhất của Châu Âu.
The British Baroque was a reassertion of authority, an expression of absolutist ideology by men who remembered a world turned upside down during the Civil War.
Kiến trúc Ba-rốc là một sự tái khẳng định về quyền lực, là biểu hiện của Hệ tư tưởng chuyên chế của những con người vẫn còn ký ức về việc thế giới của họ đã bị đảo lộn như thế nào trong thời kỳ Nội Chiến.
The style is heavy and rich, sometimes overblown and melodramatic.
Đây là một trường phái vừa đa dạng lại phức tạp, đôi khi cũng phô trương và cường điệu hóa.
The politics which underpin it are questionable, but its products are breathtaking.
Những nhà cầm quyền làm chỗ dựa cho nó cũng còn nhiều nghi vấn, tuy nhiên những kiến trúc đi theo trường phái này lại tuyệt vời đến khó tin.
The huge glass-and-iron Crystal Palace, designed by Joseph Paxton to house the Great Exhibition of 1851, shows another strand to 19th century architecture – one which embraced new industrial processes.
Cung Pha Lê là một tòa nhà được làm bằng kính và sắt, được thiết kế bởi Joseph Paxton để làm nơi trưng bày cho Đại Triển lãm năm 1851, đã cho thấy một khía cạnh khác của kiến trúc thế kỷ 19 - một kiểu hình kiến trúc bao quát các quy trình công nghiệp mới.
But it wasn’t long before even this confidence in progress came to be regarded with suspicion.
Nhưng trước đây không lâu, ngay cả sự tin tưởng đối với quá trình này cũng bị nghi ngờ.
Mass production resulted in buildings and furnishings that were too perfect, as the individual craftsman no longer had a major role in their creation.
Quy trình sản xuất hàng loạt đã dẫn đến việc các tòa nhà và đồ nội thất dần trở nên quá hoàn hảo, trong khi những người thợ thủ công dần không còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm nữa.
Railing against the dehumanizing effects of industrialisation, reformers like John Ruskin and William Morris made a concerted effort to return to hand-crafted, pre-industrial manufacturing techniques.
Phản đối những ảnh hưởng làm vắng bóng con người bởi quá trình công nghiệp hóa, những Nhà cải cách như John Ruskin và William Morris đã nỗ lực Phối hợp để đưa các kỹ thuật sản xuất thủ công tiền công nghiệp trở lại.
Morris’s influence grew from the production of furniture and textiles, until by the 1880s a generation of principled young architects was following his call for good, honest construction.
Sự ảnh hưởng của Morris đã mở rộng từ việc sản xuất đồ nội thất và hàng dệt may, cho đến những năm 1880, một thế hệ những kiến trúc sư trẻ có nguyên tắc đã đi theo lời kêu gọi của ông về về việc xây dựng tốt và trung thực.
The most important trends in early 20th century architecture simply passed Britain by.
Những trào lưu kiến trúc được xem là mang tính tầm cỡ vào đầu thế kỷ 20 lại không lưu lại quá nhiều dấu ấn tại nước Anh.
Whilst Gropius was working on cold, hard expanses of glass, and Le Corbusier was experimenting with the use of reinforced concrete frames, we had staid establishment architects like Edwin Lutyens producing Neo-Georgian and Renaissance country houses for an outmoded landed class.
Trong khi Gropius vẫn tiếp tục làm việc với những tấm kính lớn, và Le Corbusier vẫn mải mê thử nghiệm công dụng của khung Bê tông cốt thép, thì chúng ta đã có những kiến trúc sư mở đường một cách thầm lặng, ví như việc Edwin Lutyens tạo ra những ngôi nhà miền quê theo phong cách Tân Georgian và Phục Hưng cho tầng lớp người dân sống ở những vùng biệt lập.
In addition there were slightly batty architect-craftsmen, the heirs of William Morris, still trying to turn the clock back to before the Industrial Revolution by making chairs and spurning new technology.
Ngoài ra, còn có một số những kiến trúc sư - thợ thủ công với lối tư duy khá cổ quái, họ là những đệ tử của William Morris, vẫn đang cố gắng đưa mọi thứ trở về lại thời kỳ tiền Cách Mạng Công Nghiệp bằng cách làm ra những chiếc ghế và bác bỏ những công nghệ hiện đại.
Only a handful of Modern Movement buildings of any real merit were produced here during the 1920s and 1930s, and most of these were the work of foreign architects such as Serge Chermayeff, Berthold Lubetkin and Erno Goldfinger who had settled in this country.
Chỉ một số ít các tòa nhà theo Phong Trào hiện đại có giá trị thực sự đã được khởi công xây dựng ở đây vào những năm 1920 và 1930, và đa phần trong số chúng là tác phẩm của các kiến trúc sư ngoại quốc như Serge Chermayeff, Berthold Lubetkin và Erno Goldfinger, những người đã đến định cư tại đất nước này.
After the Second World War, the situation began to change.
Sau thế chiến thứ 3, tình hình cục diện bắt đầu thay đổi.
The Modern Movement's belief in progress and the future struck a chord with the mood of post - war Britain and, as reconstruction began under Attlee's Labour government in 1 945, there was a desperate need for cheap housing which could be produced quickly.
Niềm tin của Phong Trào Hiện Đại vào sự tiến bộ và viễn cảnh tương lai đã đánh trúng tâm lý của nước Anh sau chiến tranh và trong khi công cuộc tái thiết bắt đầu dưới Chính Phủ Thuộc Đảng Lao Động của Attlee, nhu cầu về nhà ở giá rẻ và có thể được xây dựng trong thời gian ngắn trở nên cấp thiết.
The use of prefabricated elements, metal frames, concrete cladding and the absence of decoration - all of which had been embraced by Modernists abroad and viewed with suspicion by the British - were adopted to varying degrees for housing developments and schools.
Việc sử dụng các phụ tùng Được làm sẵn, khung kim loại, Tấm ốp bê tông và loại bỏ những yếu tố trang trí - tất cả những thành phần trên đã được những kiến trúc sư phái Hiện Đại chấp thuận nhưng lại vấp phải sự nghi ngờ của người Anh - đã được áp dụng với nhiều mức độ khác nhau cho các dự án phát triển nhà ở và trường học.
Local authorities, charged with the task of rebuilding city centres, became important patrons of architecture.
Chính quyền địa phương, được giao nhiệm vụ xây dựng lại những trung tâm thành phố, đã trở thành những nhà bảo trợ quan trọng đối với ngành kiến trúc.
This represented a shift away from the private individuals who had dominated the architectural scene for centuries.
Điều này đại diện cho một sự thoát ly khỏi sự thống trị của các nhà tư bản lên bối cảnh ngành kiến trúc trong hàng thế kỷ qua.
Since the War it has been corporate bodies like these local authorities together with national and multinational companies, and large educational institutions, which have dominated British architecture.
Kể từ sau Chiến tranh, các cơ quan đoàn thể ví như các chính quyền địa phương cũng như các công ty quốc gia và đa quốc gia, cùng với các cơ sở giáo dục lớn đã thống trị nền kiến trúc Anh.
By the late 1980s the Modern Movement, unfairly blamed for the social experiments implicit in high-rise housing, had lost out to irony and spectacle in the shape of postmodernism, with its cheerful borrowings from anywhere and any period.
Vào cuối những năm 1980, Phong Trào Hiện Đại, bị vu oan là nguyên nhân cho những thí nghiệm xã hội được ngầm thực hiện trong những tòa nhà cao tầng, đã bị thất bại bởi hình tượng châm biếm dưới dạng Chủ nghĩa Hậu Hiện đại, với màu sắc vui tươi được vay mượn từ nhiều nơi và từ nhiều thời kỳ khác nhau.
But now, in the new Millennium, even postmodernism is showing signs of age.
Tuy nhiên, trong thiên niên kỷ mới này, ngay cả chủ nghĩa hậu hiện đại cũng đang có dấu hiệu lỗi thời.
What comes next?
Vậy thì, điều gì sẽ tới tiếp theo đây?

Từ vựng (64)

  • Evolution (ˌiː.vəˈluː.ʃən) — Sự tiến hóa
  • Revolution (ˌrev.əˈluː.ʃən) — Cuộc cách mạng
  • Fell into decay (fel) (ˈɪn.tuː) (dɪˈkeɪ) — Dần trở nên lụi tàn, về với cát bụi
  • Plunge into sth (plʌndʒ) (ˈɪn.tuː) (sth*) — Chìm vào
  • Conquest (ˈkɑːŋ.kwest) — Cuộc chinh phạt
  • Cathedral (kəˈθiː.drəl) — Thánh đường, thánh điện
  • Revival (rɪˈvaɪ.vəl) — Sự phục hưng, sự hồi sinh
  • Withdrawal (wɪðˈdrɑː.əl) — Sự rút lui
  • Sophisticated (səˈfɪs.tə.keɪ.t̬ɪd) — Phức tạp, tinh vi
  • Bear witness (ber) (ˈwɪt.nəs) — Cung cấp bằng chứng
  • Usher (ˈʌʃ.ɚ) — Mở đường, Chiếu đường
  • Flower (v) (ˈflaʊ.ɚ) (ˈvi) — (Thời kỳ) Nở rộ, đạt tới đỉnh cao
  • Rare (rer) — Hiếm hoi
  • Underlying (ˌʌn.dɚˈlaɪ.ɪŋ) — Cơ bản, nền tảng
  • Ethos (ˈiː.θɑːs) — Đặc tính, nét đặc biệt
  • Medieval (ˌmed.iˈiː.vəl) — Thuộc Trung cổ
  • Parish (ˈper.ɪʃ) — Giáo xứ, xứ đạo
  • (Sth) in stone (sth*) (ˈɪn, ɪn) (stoʊn) — (sth) khó hoặc gần như không thể bị phá hủy
  • Functional (ˈfʌŋk.ʃən.əl) — Áp dụng được vào thực tiễn, thực dụng
  • Battlement (ˈbætəɫmənt, ˈbætəɫmɛnt) — Lũy răng cưa (dùng để quân lính bắn tên từ trên xuống và ẩn nấp)
  • Turret (ˈtʌr.ət) — Tháp canh
  • Ornament (ˈɔːr.nə.mənt) — Đồ trang trí
  • Rambling (ˈræm.blɪŋ) — (kiến trúc) to lớn, trải dài (đến mức thừa thãi)
  • Lordship (ˈlɔːrd.ʃɪp) — Quyền uy, sự cai trị
  • Grandeur (ˈɡræn.dʒɚ) — Sự trang nghiêm, huy hoàng
  • Display (dɪˈspleɪ) — Trưng bày, trưng diện
  • Stately (ˈsteɪt.li) — Có tính trang nghiêm
  • Workmanship (ˈwɝːk.mən.ʃɪp) — Tay nghệ, tài nghệ, trình độ
  • Exterior (ɪkˈstɪr.i.ɚ) — Nằm ngoài, bên ngoài
  • Courtyard (ˈkɔːrt.jɑːrd) — Sân trong
  • Commodity (kəˈmɑː.də.t̬i) — Mặt hàng, hàng hóa
  • Symmetrical (sɪˈmet.rɪ.kəl) — Đối xứng
  • Handle (ˈhæn.dəl) — Xử lý
  • Exuberance (ɪɡˈzuː.bɚ.əns) — Sự hoa mỹ, sự chan chứa.
  • Aftermath (ˈæf.tɚ.mæθ) — Hậu quả
  • Exile (ˈek.saɪl) — Lưu vong
  • Flurry (ˈflɝː.i) — Cơn gió mạnh
  • Royalist (ˈrɔɪ.ə.lɪst) — Người theo đảng quân chủ
  • Reassertion (ˌriː.əˈsɝː.ʃən) — Sự tái khẳng đinh
  • Absolutist (æbsəˈɫutɪst) — Người theo chế độ chuyên chế
  • Ideology (ˌaɪ.diˈɑː.lə.dʒi) — Hệ tư tưởng
  • Overblown (ˌoʊ.vɚˈbloʊn) — Phóng đại, quá mức
  • Melodramatic (ˌmel.ə.drəˈmæt̬.ɪk) — Thống thiết, cường điệu
  • Underpin (ˌʌn.dɚˈpɪn) — Củng cố, chống đỡ
  • Breathtaking (ˈbreθˌteɪ.kɪŋ) — Hấp dẫn, ngoạn mục
  • Strand (strænd) — Thành phần (của một thể)
  • Railing against (ˈreɪ.lɪŋ) (əˈɡenst) — Phán đối lại
  • Dehumanizing (ˌdiːˈhjuː.mə.naɪz) — Vô nhân tính, mất tính người
  • Reformer (rɪˈfɔːr.mɚ) — Nhà cải cách
  • Concerted (kənˈsɝː.t̬ɪd) — Phối hợp
  • Handcrafted (ˈhænd.kræf.tɪd) — Thủ công
  • Reinforced concrete (ˌriː.ɪnˈfɔːrst) (ˈkɑːn.kriːt) — Bê tông cốt thép
  • Staid (steɪd) — Thầm lặng, trầm tính
  • Batty (ˈbæt̬.i) — (Tiếng lóng) điên khùng, cổ quái, ngớ ngẩn
  • Turn the clock back (tɝːn) (ðə) (klɑːk) (bæk) — quay lại thời kỳ đã qua, ngăn chặn sự phát triển
  • Spurn (spɝːn) — Bác bỏ, phủ định
  • Merit (ˈmer.ɪt) — Giá trị, Công lao
  • Strike a chord (straɪk) (ˈeɪ, ə) (kɔːrd) — Đánh đúng vào tâm lý của.. Làm…nhớ về … Gợi lại..
  • Prefabricated (ˌpriːˈfæb.rə.keɪ.t̬ɪd) — Được làm sẵn
  • Concrete cladding (ˈkɑːn.kriːt) (ˈklæd.ɪŋ) — Tấm ốp bê tông
  • Patrons (ˈpeɪtɹənz) — Người bảo trợ
  • Shift away (ʃɪft) (əˈweɪ) — Rời xa khỏi… Thoát ra khỏi…
  • Implicit (ɪmˈplɪs.ɪt) — ngầm (adj)
  • Spectacle (ˈspek.tə.kəl) — Quang cảnh Hình ảnh.