← Danh sách bài đọc
Bài 168
The return of monkey life
Sự trở lại của bầy khỉ
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Hacienda La Pacifica, a remote working cattle ranch in Guanacaste province of northern Costa Rica, has for decades been home to a community of mantled howler monkeys.
Hacienda La Pacifica, một trang trại chăn nuôi gia súc hẻo lánh ở tỉnh Guanacaste ở miền bắc Costa Rica, là nơi sinh sống cho một nhóm khỉ rú hàng thập kỷ qua.
Other native primates- white-faced capuchin monkeys and spider monkeys were once common in this area, too, but vanished after the Pan-American Highway was built nearby in the 1950s and most of the surrounding land was cleared for cattle-raising.
Loài linh trưởng bản địa - khỉ mũ mặt trắng và khỉ nhện cũng đã từng phổ biến ở vùng này, nhưng chúng đã biến mất sau khi Pan - đường cao tốc của Mỹ được xây dựng gần đó vào những năm 1950 và đại đa số đất xung quanh bị giải phóng mặt bằng để chăn nuôi gia súc.
At Hacienda La Pacifica, however, an enlightened ranch owner chose to leave some strips of native trees growing.
Tuy nhiên tại Hacienda La Pacifica, một chủ trang trại sáng suốt đã lựa chọn để lại vài dãy cây trồng bản địa.
He used these as windbreaks to protect both cattle and their food crops from dry-season winds.
Anh ta đã sử dụng những hàng cây này như những tấm gió, bảo vệ cho cả gia súc và mùa màng khỏi gió mùa hanh khô.
In the process, the farmer unwittingly founded a unique laboratory for the study of monkeys.
Và trong quá trình đó, người nông dân này đã vô tình lập nên một phòng thí nghiệm độc đáo để nghiên cứu loài khỉ.
Ken Glander, a primatologist from Duke University in the USA, is studying La Pacifica’s monkeys in an effort to understand the relationship between howlers and regenerating forests at the edges of grazing lands.
Ken Glander, một nhà linh trưởng học từ đại học Duke Hoa Kỹ tại Mỹ, đang nghiên cứu giống khỉ vùng La Pacifica để hiểu hơn về mối quan hệ giữa khỉ rú và việc tái tạo rừng ở rìa các bãi chăn thả.
Studying such disturbed woodlands is increasingly important because throughout much of the New World Tropics, these are the only forests left.
Việc nghiên cứu những mảnh rừng bị tác động ngày càng quan trọng, vì trên khắp các vùng nhiệt đới của Tân thế giới, chỉ còn một vài cánh rừng như vậy còn sót lại.
In the 18th century, tropical dry forests once covered most of Central America, but by the 1980s less than two percent remained undisturbed, and less than one percent was protected.
Vào thế kỷ 18, rừng nhiệt đới khô đã từng bao phủ hầu hết Trung Mỹ, nhưng cho đến năm 1980s, chỉ khoảng ít hơn 2 phần trăm còn sót lại là không bị ảnh hưởng, và ít hơn 1% được bảo vệ.
Howlers persists at La Pacifica, Glander explains, because they are leaf-eaters.
Glander giải thích khỉ rú vẫn tồn tại ở La Pacifica, vì chúng là loài ăn lá cây.
They eat fruit when it is available but, unlike capuchin and spider monkeys, do not depend on large areas of fruiting trees.
Chúng cũng ăn hoa quả nếu có, nhưng, không giống như khỉ mũ hay khỉ nhện, chúng không bị phụ thuộc quá lớn vào các loài cây ăn quả.
Glander is particularly interested in howlers’ ability to thrive on leaves loaded with toxins- poisonous substances designed to protect the plants.
Glander đặc biệt hứng thú với khả năng tăng trưởng của khí rú khi dựa vào lá cây, loại có chứa nhiều độc tố được thiết kế để bảo vệ cây cối.
For leaf-eaters, long-term exposure to a specific plant toxin can increase their ability to neutralize the poisonous substances and absorb the leaf nutrients.
Đối với các loài ăn lá, tiếp xúc lâu dài với một loại cây độc nhất định có thể tăng khả năng dung hòa độc tố và hấp thu chất dinh dưỡng từ lá cây.
Watching generations of howlers at La Pacifica has shown Glander that the monkeys keep their systems primed by sampling a variety of plants and then focusing on a small number of the most nutritious food items.
Việc quan sát hàng thế hệ khỉ rú ở La Pacifica đã cho Glander thấy rằng, loài khỉ tạo hệ thống cho ăn bằng cách thu thập đa dạng các loài thực vật, sau đó chỉ tập trung vào một số thức ăn bổ dưỡng nhất.
The leaves that grow in regenerating forests, like those at La Pacifica, are actually more howler-friendly than those produced by the centuries-old trees that survive farther south.
Lá cây mà phát triển trong rừng tái sinh, như là ở La Pacifica, thường thân thiện với khỉ rú hơn là những loài cây già hàng thế kỷ sống ở khu vực lùi hơn về phía Nam.
In younger forests, trees put most of their limited energy into growing wood, leaves, and fruit, so they produce much lower levels of toxin than do well-established, old-growth trees.
Ở những khu rừng non, cây cối chủ yếu sử dụng nguồn năng lượng còn hạn chế của chúng để phát triển thân, lá và quả, nên chúng sẽ có ít độc tố hơn là các cây khỏe phát triển lâu năm.
The value of maturing forests to primates is also a subject of study at Santa Rosa National Park, about 35 miles northwest of La Pacifica.
Giá trị của rừng trưởng thành đối với các loài linh trưởng cũng là chủ đề của cuộc nghiên cứu tại công viên quốc gia Santa Rose, cách khoảng 35 dặm về phía Tây Bắc của La Pacifica.
Large areas of Santa Rosa’s forests had at one time been burnt to make space for cattle ranching and coffee farming, thereby devastating local monkey habitat.
Một khoảng lớn ở rừng Santa Rosa từng một lần bị cháy, tạo khoảng trống cho các khu chăn nuôi gia súc và trồng cà phê, và vì thế môi trường sống của loài khỉ nơi đây bị phá hủy.
But in 1971 the government protected the area by designating it a National Park, and species of Indigenous Lees which had been absent for decades began to invade the abandoned pastures.
Tuy nhiên vào năm 1971 chính phủ bảo vệ vùng đất này bằng cách chỉ định nó là Công viên quốc gia, và các loài Lees bản địa, loài mà đã vắng bóng cả hàng thập kỷ, bắt đầu chiếm đóng lại các đồng cỏ bị bỏ hoang.
Capuchins were the first to begin using the reborn forests, followed by howlers.
Khỉ mũ cũng là loài đầu tiên bắt đầu sử dụng khu rừng được phục sinh, sau đó đến loài khỉ rú.
Eventually, even spider monkeys, fruit-eaters that need large areas of continuous forest, returned.
Cuối cùng, thậm chí cả khỉ nhện, loài ăn trái cây mà cần một vùng rừng liên tục rộng lớn, cũng quay trở về.
In the first 28 years following protection of the area, the capuchin population doubled, while the number of howlers increased sevenfold.
Vào 28 năm đầu tiên sau chương trình bảo vệ của khu vực, loài khỉ có mũ đã tăng gấp đôi về mặt số lượng, trong khi loài khỉ rú tăng gấp bảy.
Some of the same traits that allow howlers to survive at La Pacifica also explain their population boom in Santa Rosa, Howler reproduction is faster than that of other native monkey species.
Một số đặc tính tương tự mà cho phép khỉ rú tồn tại ở La Pacifica cũng giải thích hiện tượng số lượng loài này tăng ở Santa Rosa, sự sinh sôi trở lại của khỉ rú nhanh hơn bất kì loài khỉ bản địa nào khác.
They give birth for the first time at about 3.5 years of age, compared with seven years for capuchins, and eight or more for spider monkeys.
Chúng sinh nở lần đầu vào lúc tầm 3.5 tuổi, trong khi loài khỉ mũ đẻ vào năm 7 tuổi, và khỉ nhện 8 tuổi.
Also, while a female spider monkey will have a baby about once every four years, well-fed howlers can produce an infant every two years.
Cũng như vậy, trong khi khỉ nhện cái sẽ có con trong khoảng bốn năm một lần, khỉ rú được ăn uống đầy đủ có thể đẻ con hai năm một lần.
Another factor is diet.
Một yếu tố khác là chế độ ăn.
Howlers are very adaptable feeders, and only need a comparatively small home range.
Khỉ rú là loài rất dễ thích nghi trong chuyện ăn uống, và sẽ chỉ cần một phạm vi sinh sống nhỏ.
Spider monkeys, on the other hand, need to occupy a huge home range.
Trong khi đó, khỉ nhện lại cần sống trong một khu vực lớn.
Also crucial is fact that the leaves howlers eat hold plenty of water, so the monkeys can survive away from open streams and water holes.
Một yếu tố khác cũng quan trọng không kém là loại lá khỉ rú ăn có nhiều nước, cho nên loài này có thể sống xa suối hoặc hố nước.
This ability gives them a real advantage over capuchin and spider monkeys, which have suffered during the long, ongoing drought in the area.
Khả năng này đã cho chúng một lợi thế vô cùng lớn so với khỉ mũ hay khỉ nhện, loài mà đã phải chịu đựng trong suốt mùa hạn hán dài đằng đẵng trong khu vực.
Alejandro Estrada, an ecologist at Estacion de Biologia Los Tuxtlas in Veracruz, Mexico, has been studying the ecology of a group of howler monkeys that thrive in a habitat totally altered by humans: a cacao plantation in Tabasco state, Mexico.
Alejandro Estrada, một nhà sinh thái học ở Estacion de Biologia Los Tuxtlas ở Veracruz, Mexico, đã nghiên cứu hệ sinh thái của một loài khỉ rú mà phát triển trong một môi trường sống hoàn toàn bị thay thế bởi loài người: tại một khu trồng ca cao ở bang Tabasco, Mexico.
Cacao plants need shade to grow, so 40 years ago the owners of Cholula Cacao Farm planted figs, monkeypod and other tall trees to form a protective canopy over their crop.
Cây ca cao cần bóng râm để phát triển, nên 40 năm về trước người chủ của nông trại Cholula Cacao đã trồng vả tây, cây còng và những loại cây cao lớn khác để tạo ra một mái che bảo vệ cho mùa màng của họ.
The howlers moved in about 25 years ago after nearby forests were cut.
Khỉ rú cũng chuyển vào đây khoảng 25 năm về trước sau khi khu rừng gần đó bị chặt.
This strange habitat seems to support about as many monkeys as would a same-sized patch of wild forest.
Môi trường sống kì lạ này có thể hỗ trợ một số lượng khỉ bằng với lượng mà một khu rừng hoang dã cùng kích cỡ có thể.
The howlers eat the leaves and fruit of the shade trees, leaving the valuable cacao pods alone.
Loài khỉ rú ăn lá và trái cây của những cây bóng râm, và chỉ trừ lại những quả ca cao có giá trị.
Estrada believes the monkeys bring underappreciated benefits to such plantations, dispersing the seeds of fruits such as fig and other shade trees, and fertilizing the soil.
Estrada tin rằng loài khỉ đã đem lại những lợi ích mà đang bị đánh giá thấp cho việc trồng trọt, phát tán hạt của trái cây như vả tây và những cây bóng râm, đồng thời giúp đất đai màu mỡ hơn.
Spider monkeys also forage for fruit here, though they need nearby areas of forest to survive in the long term.
Khỉ nhện cũng kiếm ăn trái cây ở đây, mặc dù chúng cần những khu vực gần rừng để sống trong một thời gian dài.
He hopes that farmers will begin to see the advantages of associating with wild monkeys, which could include potential ecotourism projects, ‘Conservation is usually viewed as a conflict between farming practices and the need to preserve nature,’ Estrada says.
Ông ấy hi vọng rằng nông dân sẽ bắt đầu thấy được lợi ích của việc cộng sinh với các loài khỉ hoang dã, điều mà có thể bao gồm các dự án sinh thái tiềm năng, "Bảo tồn thường được nhìn nhận như là một sự xung đột giữa việc trồng trọt và nhu cầu bảo vệ thiên nhiên" Estrada nói.
‘We’re moving away from that vision and beginning to consider ways in which commercial activities may become a tool for the conservation of primates in human-modified landscapes.’
"Chúng ta đang xa rời tầm nhìn đó và bắt đầu nhìn nhận theo cách mà các hoạt động thương mại có thể trở thành công cụ cho việc bảo tồn linh trưởng ở những nơi con người đã tác động."
Từ vựng (14)
- cattle ranch (ˈkæt̬.əl) (ræntʃ) — trại chăn nuôi gia súc
- howler monkeys (ˈhaʊ.lɚ) (ˈməŋkiz) — khỉ hú
- primate (ˈpraɪ.meɪt) — linh trưởng
- vanish (ˈvæn.ɪʃ) — biến mất
- windbreak (ˈwɪnd.breɪk) — tấm chắn gió
- unwittingly (ʌnˈwɪt̬.ɪŋ.li) — không cố ý
- thrive (θraɪv) — sinh sổi nảy nở
- substance (ˈsʌb.stəns) — chất
- adaptable (əˈdæp.tə.bəl) — dễ thích nghi
- occupy (ˈɑː.kjə.paɪ) — ở, chiếm
- canopy (ˈkæn.ə.pi) — mái che
- underappreciated (underappreciated*) — bị đánh giá thấp
- forage (ˈfɔːr.ɪdʒ) — lục lọi, tìm tòi
- potential (poʊˈten.ʃəl) — tiềm năng