← Danh sách bài đọc
Bài 170
The Discovery of Uranus
Sự phát hiện về sao Thiên Vương
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Someone once put forward an attractive though unlikely theory.
Ai đó đã từng đưa ra một giả thuyết thú vị dù khó có khả năng xảy ra.
Throughout the Earth’s annual revolution around the sun, there is one point of space always hidden from our eyes.
Xuyên suốt quỹ đạo hàng năm của Trái đất quanh mặt trời, có một điểm trong không gian luôn bị che khuất khỏi mắt chúng ta.
This point is the opposite part of the Earth’s orbit, which is always hidden by the sun.
Điểm này là phần đối diện của quỹ đạo Trái đất, nơi luôn bị che khuất bởi mặt trời.
Could there be another planet there, essentially similar to our own, but always invisible?
Có thể có một hành tinh khác ở đó, về cơ bản giống như hành tinh của chúng ta, nhưng lại luôn không thể nhìn thấy được?
If a space probe today sent back evidence that such a world existed it would cause not much more sensation than Sir William Herschel’s discovery of a new planet, Uranus, in 1781.
Nếu ngày nay một tàu thăm dò không gian gửi lại bằng chứng cho thấy một thế giới như vậy tồn tại, nó sẽ không gây ra nhiều ấn tượng hơn việc Ngài William Herschel phát hiện ra một hành tinh mới, sao Thiên Vương, vào năm 1781.
Herschel was an extraordinary man — no other astronomer has ever covered so vast a field of work — and his career deserves study.
Herschel là một người đàn ông phi thường - chưa từng có nhà thiên văn học nào khác đảm nhận nhiều công việc đến vậy - và sự nghiệp của ông đáng để nghiên cứu.
He was born in Hanover in Germany in 1738, left the German army in 1757, and arrived in England the same year with no money but quite exceptional music ability.
Ông sinh ra ở Hanover, Đức vào năm 1738, rời quân đội Đức năm 1757, và đến Anh cùng năm trong khi chẳng có tài sản nào ngoài khả năng đặc biệt về âm nhạc.
He played the violin and oboe and at one time was organist in the Octagon Chapel in the city of Bath.
Ông chơi đàn vĩ cầm và kèn ô-boa và ở giai đoạn nào đó thì ông lại là nghệ sĩ chơi đàn organ trong Nhà nguyện Octagon ở thành phố Bath.
Herschel’s was an active mind, and deep inside he was conscious that music was not his destiny; he therefore, read widely in science and the arts, but not until 1772 did he come across a book on astronomy.
Herschel’s là một bộ óc năng động, và sâu bên trong ông ý thức được rằng âm nhạc không phải là định mệnh của cuộc đời mình; do đó, ông đã đọc rất nhiều về khoa học và nghệ thuật, nhưng mãi cho đến năm 1772, ông mới tình cờ bắt gặp một cuốn sách về thiên văn học.
He was then 34, middle-aged by the standards of the time, but without hesitation he embarked on his new career, financing it by his professional work as a musician.
Khi đó, ông đã 34 tuổi, theo các tiêu chuẩn thời đó, nhưng không một chút do dự, ông bắt tay vào sự nghiệp mới của mình, đầu tư tiền bạc cho nó từ công việc làm một nhạc sĩ chuyên nghiệp.
He spent years mastering the art of telescope construction, and even by present-day standards his instruments are comparable with the best.
Ông đã dành nhiều năm để thành thạo bộ môn chế tạo kính thiên văn, và thậm chí theo các tiêu chuẩn ngày nay, những dụng cụ của ông có thể so sánh với những loại tốt nhất.
Serious observation began 1774.
Sự quan sát nghiêm túc bắt đầu vào năm 1774.
He set himself the astonishing task of ‘reviewing the heavens’, in other words, pointing his telescope to every accessible part of the sky and recording what he saw.
Ông tự đặt cho mình một nhiệm vụ đáng kinh ngạc là 'kiểm tra lại các tầng trời', hay nói cách khác, hướng chiếc kính viễn vọng đến mọi chỗ có thể tiếp cận được của bầu trời và ghi lại những gì ông nhìn thấy.
The first review was made in 1775; the second, and most momentous, in 1780-81.
Lần kiểm tra đầu tiên được thực hiện vào năm 1775; lần thứ hai, cũng là lần quan trọng nhất, được thực hiện vào năm 1780-81.
It was during the latter part of this that he discovered Uranus.
Trong suốt phần sau của công việc này, ông đã phát hiện ra sao Thiên Vương.
Afterwards, supported by the royal grant in recognition of his work, he was able to devote himself entirely to astronomy.
Sau đó, được sự hỗ trợ của hoàng gia trong việc ghi nhận đóng góp từ công trình nghiên cứu của ông, ông đã có thể cống hiến hoàn toàn cho thiên văn học.
His final achievements spread from the sun and moon to remote galaxies (of which he discovered hundreds), and papers flooded from his pen until his death in 1822.
Những thành tựu cuối cùng của ông trải dài từ mặt trời và mặt trăng đến các thiên hà xa xôi (ở đó ông đã phát hiện ra hàng trăm thiên hà), và các bài luận liên tục ra đời từ cây bút của ông cho đến khi ông qua đời vào năm 1822.
Among these, there was one sent to the Royal Society in 1781, entitled An Account of a Comet. In his own words:
Trong số này, có một bài luận được gửi đến Hiệp hội Hoàng gia vào năm 1781, mang tên Một báo cáo về sao chổi. Theo như ông viết thì:
On Tuesday the 13th of March, between ten and eleven in the evening, while I was examining the small stars in the neighbourhood of H Geminorum, I perceived one that appeared visibly larger than the rest; being struck with its uncommon magnitude, I compared it to H Geminorum and the small star in the quartile between Auriga and Gemini, and finding it to be much larger than either of them, suspected it to be a comet.
Vào thứ Ba, ngày 13 tháng Ba, từ mười giờ đến mười một giờ tối, trong khi tôi đang xem xét các ngôi sao nhỏ trong khu vực lân cận của chòm sao Song tử H, tôi nhận thấy một ngôi sao có vẻ to hơn những ngôi sao còn lại; gây ấn tượng bởi độ sáng bất thường của nó, tôi so sánh nó với chòm sao Song tử H và ngôi sao nhỏ trong tứ phân vị giữa chòm sao Ngự phu và Song tử, và nhận ra nó lớn hơn rất nhiều so với một trong hai chòm sao trên, nghi ngờ nó là một sao chổi.
Herschel’s care was the hallmark of a great observer; he was not prepared to jump any conclusions.
Sự tận tâm của Herschel là phẩm chất cao quý của một nhà quan sát tài ba; ông đã không dự tính trước để đưa ra bất kỳ kết luận nào.
Also, to be fair, the discovery of a new planet was the last thought in anybody’s mind.
Hơn nữa, thành thật mà nói, việc phát hiện ra một hành tinh mới là điều cuối cùng mà bất cứ ai nghĩ tới.
But further observation by other astronomers besides Herschel revealed two curious facts.
Nhưng sự quan sát kỹ hơn của các nhà thiên văn học khác ngoài Herschel đã tiết lộ hai sự thật lạ lùng.
For the comet, it showed a remarkably sharp disc; furthermore, it was moving so slowly that it was thought to be a great distance from the sun, and comets are only normally visible in the immediate vicinity of the sun.
Đối với sao chổi, nó có hình một chiếc đĩa sắc nét dễ nhìn thấy; hơn nữa, nó di chuyển chậm đến mức được cho là cách mặt trời một khoảng vô cùng lớn, và các sao chổi thường chỉ có thể nhìn thấy trong vùng gần nhất với mặt trời.
As its orbit came to be worked out the truth dawned that it was a new planet far beyond Saturn’s realm, and that the ‘reviewer of the heavens’ had stumbled across an unprecedented prize.
Khi quỹ đạo của nó được tìm ra, sự thật đã trở nên sáng tỏ rằng nó là một hành tinh mới nằm ngoài phạm vi của Sao Thổ, và 'người kiểm tra các tầng trời' này đã vô tình nhận được một giải thưởng chưa từng có trước đây.
Herschel wanted to call it georgium sidus (Star of George) in honour of his royal patron King George III of Great Britain.
Herschel muốn gọi nó là georgium sidus (Ngôi sao của George) để vinh danh người bảo trợ của ông từ hoàng gia là Vua George III của Vương quốc Anh.
The planet was later for a time called Herschel in honour of its discoverer.
Hành tinh này sau 1 thời gian ngắn đã được đổi thành Herschel để vinh danh người phát hiện ra nó.
The name Uranus, which was first proposed by the German astronomer Johann Elert Bode, was in use by the late 19th century.
Tên gọi sao Thiên Vương, lần đầu tiên được đề xuất bởi nhà thiên văn học người Đức Johann Elert Bode, đã được sử dụng vào cuối thế kỷ 19.
Uranus is a giant in construction, but not so much in size; its diameter compares unfavourably with that of Jupiter and Saturn, though on the terrestrial scale it is still colossal.
Sao Thiên Vương là một công trình khổng lồ, nhưng không phải quá lớn về mặt kích thước; đường kính của nó có phần kém hơn so với đường kính của Sao Mộc và Sao Thổ, mặc dù trên quy mô mặt đất, nó vẫn khổng lồ.
Uranus’ atmosphere consists largely of hydrogen and helium, with a trace of methane.
Bầu khí quyển của Sao Thiên Vương bao gồm phần lớn là hydro và hê li, với một ít khí mê tan.
Through a telescope the planet appears as a small bluish-green disc with a faint green periphery.
Qua kính viễn vọng, hành tinh này xuất hiện dưới dạng một đĩa nhỏ màu xanh lục lam với viền ngoài màu xanh lá cây nhạt.
In 1977, while recording the occultation 1 of a star behind the planet, the American astronomer James L. Elliot discovered the presence of five rings encircling the equator of Uranus.
Năm 1977, trong khi ghi lại sự che khuất 1 của một ngôi sao phía sau hành tinh, nhà thiên văn học người Mỹ James L. Elliot đã phát hiện ra sự tồn tại của 5 đường vòng bao quanh xích đạo của Sao Thiên Vương.
Four more rings were discovered in January 1986 during the exploratory flight of Voyager 2 2.
Thêm 4 vòng nữa được phát hiện vào tháng 1 năm 1986 trong chuyến bay thám hiểm của tàu Voyager 2 2.
In addition to its rings, Uranus has 15 satellites (‘moons’), the last 10 discovered by Voyager 2 on the same flight; all revolve about its equator and move with the planet in an east—west direction.
Ngoài các vòng bao quanh, Sao Thiên Vương còn có 15 vệ tinh (các mặt trăng), 10 vệ tinh cuối cùng được phát hiện bởi Voyager 2 trên cùng chuyến bay; tất cả đều quay quanh đường xích đạo của nó và di chuyển cùng với hành tinh này theo hướng đông - tây.
The two largest moons, Titania and Oberon, were discovered by Herschel in 1787.
Hai mặt trăng lớn nhất, Titania và Oberon, được phát hiện bởi Herschel vào năm 1787.
The next two, Umbriel and Ariel, were found in 1851 by the British astronomer William Lassell. Miranda, thought before 1986 to be the innermost moon, was discovered in 1948 by the American astronomer Gerard Peter Kuiper.
Hai mặt trăng tiếp theo, Umbriel và Ariel, được tìm thấy vào năm 1851 bởi nhà thiên văn học người Anh William Lassell. Miranda, trước năm 1986 chúng đã từng được cho là các mặt trăng nằm phía tận trong cùng, được phát hiện vào năm 1948 bởi nhà thiên văn học người Mỹ Gerard Peter Kuiper.
Glossary:
Chú giải:
‘Occultation‘ : in astronomy, when one object passes in front of another and hides the second from view, especially, for example, when the moon comes between an observer and a star or planet .
‘Occultation‘: trong thiên văn học, khi một vật thể ngang qua phía trước vật thể khác và che khuất tầm nhìn cái thứ hai, đặc biệt là, ví dụ, khi mặt trăng di chuyển vào giữa một người quan sát và một ngôi sao hoặc hành tinh.
‘Voyager 2‘ : an unmanned spacecraft sent on a voyage past Saturn, Uranus and Jupiter in 1986; during which it sent back information about these planets to scientists on earth .
‘Voyager 2‘: một tàu vũ trụ không người lái được gửi đi trong một chuyến du hành qua Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Mộc vào năm 1986; trong đó nó đã gửi lại thông tin về các hành tinh này cho các nhà khoa học trên trái đất.
Từ vựng (7)
- chapel (ˈtʃæp.əl) — nhà nguyện, nhà thờ nhỏ
- magnitude (ˈmæɡ.nə.tuːd) — độ sáng
- terrestrial (təˈres.tri.əl) — thuộc mặt đất, trên cạn
- colossal (kəˈlɑː.səl) — khổng lồ
- trace (treɪs) — dấu vết/một ít, một chút
- occultation (occultation*) — sự che khuất
- equator (ɪˈkweɪ.t̬ɚ) — đường xích đạo