← Danh sách bài đọc
Bài 182

The pesticide-free village

Ngôi làng không có thuốc trừ sâu

The pesticide-free village
Ngôi làng không thuốc trừ sâu
Gerry Marten and Dona Glee Williams report on reliance on the Indian village of Punukula, so nearly destroyed by reliance on pesticides.
Gerry Marten và Dona Glee Williams báo cáo về sự phụ thuộc làng Punukula ở Ấn Độ, gần như bị tàn phá do phụ thuộc vào thuốc trừ sâu.
Around 20 years ago, a handful of families migrated from the Guntur district of Andhra Pradesh, south-east India, into Punukula, a community of around 900 people farming plots of between two and ten acres.
Khoảng 20 năm trước, một số ít gia đình đã di cư từ quận Guntur của Andhra Pradesh ở đông nam Ấn Độ đến Punukula, một cộng đồng khoảng 900 người làm ruộng với diện tích từ 2 đến 10 mẫu Anh.
The outsiders from Guntur brought cotton culture with them, and this attracted resident farmers by promising to bring in more hard cash than the mixed crops they were already growing to eat and sell, such as millet, mung beans, chilli and rice.
Những người bên ngoài đến từ Guntur này đã mang theo văn hóa trồng bông, và điều này đã thu hút nông dân địa phương bằng cách hứa hẹn mang lại nhiều tiền hơn so với những cây trồng hỗn hợp họ đã trồng để ăn và bán, chẳng hạn như kê, đậu xanh, ớt và gạo.
But growing cotton meant using pesticides and fertilisers - until then a mystery to the mostly illiterate farmers of the community.
Nhưng trồng bông đồng nghĩa với việc sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón - cho đến khi ấy vẫn còn là một bí ẩn với hầu hết nông dân mù chữ của cộng đồng này.
Local agro-chemical dealers obligingly filled the need for information and supplies.
các đại lý nông-dược địa phương bắt buộc phải đáp ứng nhu cầu về thông tin và nguồn cung.
These 'middlemen' sold commercial seeds, fertilisers and insecticides on credit, and guaranteed purchase of the crop.
Những “người trung gian” này bán chịu hạt giống thương mại, phân bón và thuốc trừ sâu, và cam kết mua cây trồng.
They offered technical advice provided by the companies that supplied their products.
Họ cho lời khuyên kỹ thuật do các công ty cung cấp sản phẩm của mình chỉ định.
The farmers depend on the dealers.
Những người nông dân lại phụ thuộc vào các đại lý này.
If they wanted to grow cotton - and they did - it seemed they had no choice.
Nếu họ muốn trồng bông - và họ đã trồng - dường như họ không có lựa chọn nào khác.
A quick ‘high’ of booming yields and incomes hooked growers during the early years of cotton in the region.
sản lượng và thu nhập bùng nổ “cao” nhanh chóng đã níu chân người trồng trong những năm đầu trồng bông trong khu vực.
Outlay on insecticides was fairly low because cotton pests hadn't moved in yet.
kinh phí cho thuốc trừ sâu khá thấp vì sâu bệnh hại bông vẫn chưa xâm nhập.
Many farmers were so impressed with the chemicals that they started using them on their other crops as well.
Nhiều nông dân quá ấn tượng với hóa chất đến nỗi họ cũng đã bắt đầu sử dụng chúng cho các cây trồng khác của mình.
The immediate payoffs from chemically-dependent cotton agriculture both ensured and obscured the fact that the black dirt fields had gone into a freefall of environmental degradation, dragged down by a chain of cause and effect.
hậu quả tức thì từ nông nghiệp trồng bông phụ thuộc hóa chất vừa đảm bảo vừa che khuất thực tế rằng các cánh đồng đất đen đã tự rơi vào tình trạng suy thoái môi trường, kéo theo một chuỗi nhân quả.
Soon cotton-eaters, such as bollworms and aphids, plagued the fields.
Rất nhanh sau đó các loài ăn bông chẳng hạn như sâu đục quả và rệp gây hại trên các cánh đồng.
Repeated spraying killed off the most susceptible pests and left the strongest to reproduce and pass on their resistance to generations of ever-hardier offspring.
Việc phun thuốc liên tục đã tiêu diệt những loài sâu bọ dễ tổn thương nhất và để lại các loài mạnh nhất rồi chúng sinh sản và truyền lại sức đề kháng của mình cho các thế hệ sau ngày càng cứng cáp hơn.
As the bugs grew tougher and more abundant, farmers applied a greater variety and quantity of poisons, something mixing 'cocktails' of as many as ten insecticides.
Khi lũ bọ trở nên mạnh hơn và nhiều hơn, những người nông nhân sử dụng nhiều loại thuốc độc và số lượng lớn hơn, một thứ pha trộn theo kiểu “cocktail” của khoảng mười loại thuốc trừ sâu.
At the same time, cotton was gobbling up the nutrients in the soil, leaving the growers no option but to invest in chemical fertilisers.
Đồng thời, cây bông đang hút hết dưỡng chất trong đất, khiến người trồng không có lựa chọn nào khác ngoài đầu tư vào phân bón hóa học.
By the time some farmers tried to break free of their chemical dependence, insecticides had already decimated the birds, wasps, beetles, and other predators that had once provided natural control of crop pests.
Vào lúc một số nông dân cố thoát khỏi sự phụ thuộc hóa chất, thuốc trừ sâu đã giết hại nhiều loài chim, ong bắp cày, bọ cánh cứng, và những loài ăn thịt khác từng giúp kiểm soát sâu bọ phá hại mùa màng một cách tự nhiên.
Without their balancing presence, pests ran riot if insecticide was cut back.
Nếu không có sự hiện diện cân bằng của chúng, sâu bọ trở nên mất kiểm soát nếu thuốc trừ sâu bị cắt giảm.
As outlays for fertilisers and insecticides escalated, the cost of producing cotton mounted.
Khi kinh phí phân bón và thuốc trừ sâu leo thang, chi phí sản xuất bông tăng lên.
Eventually the expense of chemical inputs outgrew the cash value of the crop, and farmers fell further and further into debt and poverty.
Cuối cùng chi phí hóa chất đầu vào cao hơn giá trị tiền mặt của cây trồng, và nông dân ngày càng rơi sâu vào nợ nần và nghèo đói.
Their vicious cycle was only broken by the willingness of a prominent village elder to experiment with something different.
Vòng luẩn quẩn của họ chỉ được phá bỏ nhờ một già làng có tiếng trong vùng sẵn lòng thử nghiệm một điều gì đó khác biệt.
He had been among the first villagers to grow cotton, and he would be the first to try it without chemicals, as set out by a programme in Non-Pesticide Management (NPM).
Ông là những dân làng đầu tiên trồng bông, và ông sẽ là người đầu tiên thử trồng không hóa chất, như được đề ra bởi một chương trình trong Quản lý Không Thuốc trừ sâu (NPM).
This had been devised for Punukala with the help of a Non-Government Organisation called SECURE that had become aware of the hardships caused by the pesticide trap.
Điều này đã được nghĩ ra cho Punukala với sự giúp đỡ của Tổ chức Phi chính phủ có tên là SECURE đã nhận thức về những khó khăn do cái bẫy thuốc trừ sâu gây ra.
It involved turning to neem, a fast-growing, broad-leaved evergreen tree related to mahogany.
Nó liên quan đến việc chuyển sang cây sầu đâu, một loại cây thường xanh lá rộng và phát triển nhanh, có họ hàng với cây xoan đào.
Neem protects itself against insects by producing a multitude of natural pesticides that have evolved specifically to defeat plant-eating insects.
Sầu đâu tự bảo vệ mình khỏi côn trùng bằng cách tạo ra vô số thuốc trừ sâu tự nhiên vốn đặc biệt tiến hóa để chống côn trùng ăn thực vật.
Thus they are generally harmless to humans and other animals, including birds and insects that eat pests.
Vì vậy chúng thường vô hại với con người và các động vật khác, bao gồm chim và côn trùng ăn sâu bọ.
The plant is native to India and Burma, where it has been used for centuries to control pests and to promote health.
Đây là cây bản địa ở Ấn Độ và Miến Điện, nơi nó đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ để kiểm soát sâu bọ và tăng cường sức khỏe.
To protect cotton, neem seeds are simply ground into a powder, soaked overnight in water, and sprayed onto the crop at least every 10 days.
Để bảo vệ cây bông, hạt sầu đâu chỉ cần được nghiền thành bột, ngâm trong nước qua đêm, và phun lên cây trồng ít nhất 10 ngày một lần.
Neem cake applied to the soil kills insect pests and doubles as an organic fertiliser high in nitrogen.
Bánh sầu đâu được bón vào đất diệt côn trùng gây hại và gấp đôi lợi ích như là một phân bón hữu cơ có hàm lượng nitơ cao.
As neem grows locally and is easy to process, it is much less expensive than the chemical insecticides sold for profit by the dealers and their corporate suppliers.
Vì sầu đâu mọc ở địa phương và dễ chế biến, nó ít tốn kém hơn nhiều so với thuốc trừ sâu hóa học được bán vì lợi nhuận của các đại lý và công ty cung cấp.
Quick, short-term gains had once pushed Punukula into chemical-dependent agriculture.
Những lợi nhuận nhanh chóng, ngắn hạn đã từng đẩy Punukula vào nền nông nghiệp phụ thuộc hóa chất.
Now they found that similar immediate rewards were helping to speed change in the other direction: the harvest of the next 20 NPM farmers was as good as the harvest of farmers using insecticides, and they came out ahead because they weren't buying insecticides, instead of investing cash (in short supply) in chemicals, they invested time and labour in NPM practices.
Giờ đây họ thấy rằng những phần thưởng tức thời tương tự đang giúp đẩy nhanh sự thay đổi theo chiều hướng khác: vụ thu hoạch của 20 nông dân NPM tiếp theo cũng tốt như vụ thu hoạch của các nông dân sử dụng thuốc trừ sâu, và họ đã đi trước vì họ không mua thuốc trừ sâu; thay vì đầu tư tiền mặt (khan hiếm) vào hóa chất, họ đã đầu tư thời gian và công sức vào các hoạt động NPM.
By the end of 2000, all the farmers in Punukula village were using NPM rather than chemicals for cotton, and they began to use it on other crops as well.
Cuối năm 2000, tất cả nông dân ở làng Punukula đều sử dụng NPM thay vì hóa chất cho cây bông, và họ cũng bắt đầu sử dụng nó cho các cây trồng khác.
The women were using it.
Phụ nữ cũng đã sử dụng nó.
The status and economic opportunities of women improved - neem change gathered momentum as NPM became even more effective once everyone became a source of income for some of them, as they gathered seeds from the surrounding area to sell for NPM in other villages.
Địa vị và các cơ hội kinh tế của phụ nữ được cải thiện - thay đổi từ cây sầu đâu tạo động lực vì NPM thậm chí trở nên hiệu quả hơn khi mọi người trở thành một nguồn thu nhập cho một số người trong số họ, khi họ thu thập hạt giống từ khu vực xung quanh để bán cho NPM ở các làng khác.
The improved situation meant that families could afford to put more land under cultivation.
Tình hình được cải thiện có nghĩa là các gia đình có thể chi trả để biến nhiều đất thành đất trồng trọt hơn.
In 2004, the panchayat (village government) formally declared Punukula to be a pesticide-free village.
Vào năm 2004, panchayat (chính quyền làng) chính thức tuyên bố Punukula là làng không thuốc trừ sâu.
And they have big plans for the future, such as water purification.
Và họ có những kế hoạch lớn cho tương lai, chẳng hạn như lọc nước.
The village now serves as a model for disseminating NPM to other communities, with around 2000 farmers visiting each year.
Ngôi làng giờ đây là một mô hình để phổ biến NPM đến các cộng đồng khác, với khoảng 2000 nông dân đến thăm mỗi năm.
What began as a few farmers desperate to find a way to farm without poisons has become a movement with the potential to pull an entire region back from ecological disaster.
Những gì bắt đầu khi một số nông dân tuyệt vọng tìm cách làm nông không chất độc đã trở thành một phong trào tiềm năng kéo cả một khu vực ra khỏi thảm họa sinh thái.

Từ vựng (19)

  • on credit (ɑːn) (ˈkred.ɪt) — bán chịu
  • dealers (ˈdiɫɝz) — các đại lý
  • yields (ˈjiɫdz) — sản lượng
  • outlay (ˈaʊt.leɪ) — kinh phí
  • payoff (ˈpeɪ.ɑːf) — hậu quả
  • bollworms (bollworms*) — sâu đục quả
  • aphids (ˈæfɪdz, ˈeɪfədz) — rệp
  • plagued (pleɪɡ) — gây hại
  • susceptible (səˈsep.tə.bəl) — dễ tổn thương
  • gobbling up (ˈɡɑː.bəl) (ʌp) — hút
  • decimated (ˈdes.ə.meɪt) — giết hại
  • escalate (ˈes.kə.leɪt) — leo thang
  • mount (maʊnt) — tăng lên
  • vicious (ˈvɪʃ.əs) — luẩn quẩn
  • prominent (ˈprɑː.mə.nənt) — có tiếng
  • neem (neem*) — cây sầu đâu
  • in short supply (ˈɪn, ɪn) (ʃɔːrt) (səˈplaɪ) — khan hiếm
  • momentum (məˈmen.t̬əm) — động lực
  • disseminating (dɪˈsem.ə.neɪt) — phổ biến