← Danh sách bài đọc
Bài 184
Orientation of birds
Sự định hướng của các loài chim
Nguồn: https://ieltssongngu.com
For many of US, the way birds are able to orientate is both astounding and difficult to appreciate fully.
Đối với phần lớn người dân Mỹ, cách mà những loài chim có thể định hướng thật đáng kinh ngạc và cũng thật khó khăn để hiểu một cách cặn kẽ về nó.
For instance, the annual migration of tire golden plover of the Pacific takes it from Alaska to Hawaii on a flight of well over 3000 kilometres, and if it were to deviate by only one degree, it would miss the island on which it nests.
Ví dụ, sự di cư thường niên của loài chim choi choi vàng Thái Bình Dương bay từ Alaska đến Hawaii khoảng 3000 kilomet, và nếu nó có đi chệch hướng khoảng 1 độ nó sẽ bỏ lỡ hòn đảo nơi mà nó làm tổ.
The first systematic studies on orientation in birds were made possible by the ‘homing instinct’ exhibited by so many species.
Những nghiên cứu có hệ thống đầu tiên về định hướng ở loài chim đã được hiện thực hóa bởi "tập tính tổ ấm"-được rất nhiều loài chim thể hiện.
Birds are caught at a time when they show an attachment to their territory, especially during the nesting season.
Những con chim thường được bắt gặp khi chúng thể hiện một sự liên kết tới địa bàn của chúng, đặc biệt là vào mùa làm tổ.
They are taken to some spot, released, and the percentage of returns is recorded.
Chúng được đưa đến một nơi, được thả ra, và tỷ lệ phần trăm mà chúng quay lại nơi đó được ghi lại.
The distance can be varied, and the direction, as well as the method of transporting them, and then the influence of climatic and other factors on their ability to find their way home can be studied.
Khoảng cách, hướng di chuyển và phương thức di chuyển chúng rất đa dạng để từ đó chúng ta có thể nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố khí hậu và những nhân tố khác tới khả năng tìm đường về của chúng.
These experiments have shown a wide variation in ability to home, and three types of homing behaviour have been identified.
Những thí nghiệm này đã chỉ ra khả năng tìm đường về nhà đa dạng và phong phú, và 3 tập tính tổ ấm đã được phát hiện.
In the first type, birds methodically explore the area in which they are released until they pick up some familiar feature, and then they quickly find their way back to the nest.
Ở loại tập tính thứ nhất, chúng khám phá nơi mà chúng được thả ra một cách cẩn thận, đến khi chúng tìm ra điểm tương đồng với nơi cũ, chúng sẽ trở về tổ một cách nhanh chóng.
Such birds possess a highly developed visual memory, as experiments with pigeons have shown.
Một số loài chim sở hữu "bộ nhớ" hình ảnh phát triển, điều đó được chứng minh qua thí nghiệm với chim bồ câu.
Domestic pigeons have been trained to peck at a certain point on an aerial photograph, with a system of rewards, and four years later the birds were still able to respond to this training when placed on the aerial photograph.
Loài chim bồ câu nhà được huấn luyện để mổ vào một điểm cố định trên một không ảnh, với một hệ thống quà thưởng cho chúng, và 4 năm sau chúng vẫn có thể phản ứng với bài huấn luyện khi nó được đặt trên không ảnh đó.
Birds’ eyes have a power of resolution two to three times greater than ours, enabling them to pick up very fine details.
Mắt của loài chim có độ phân giải gấp từ 2 đến 3 lần so với loài người chúng ta, giúp cho chúng có khả năng thu thập những thông tin chi tiết.
If a bird uses only this type of homing behaviour, however, it can only succeed if the point of release is not too far away.
Nếu như con chim sử dụng tập tính này, nó chỉ thành công khi địa điểm được thả tương đối gần với tổ của nó .
If the birds are transported 800 kilometres from their nest, it is only by good fortune that they find their way back as a result of long exploratory flights.
Nếu như chúng được di chuyển tới nơi cách xa tổ 800 kilomet, chỉ có một chút may mắn rằng chúng sẽ trở về từ những chuyến bay khám phá dài ngày.
Usually, the area known to a bird is its feeding territory.
Địa điểm một loài chim thường biết là địa bàn kiếm ăn của nó.
Released within this area, the birds soon make their return; release them outside it and far fewer return.
Nếu được thả trong địa phận này chúng sẽ nhanh chóng trở về tổ, còn nếu thả ngoài địa phận này chúng sẽ ít trở về hơn.
However, if a bird is released for a second time in the same place, its visual memory comes into play, and the bird, no longer requiring tedious exploratory flights, will return much more quickly.
Tuy nhiên nếu chúng được thả tới lần thứ 2 tại cùng một địa điểm, chúng sẽ sử dụng "bộ nhớ" hình ảnh để trở về nhanh chóng mà không cần tới những chuyến bay khám phá nhàm chán.
The second type of homing behaviour is shown by birds that are capable of choosing their flight direction and holding to it for the rest of their journey.
Loại tập tính thứ hai được thể hiện bởi loài chim có khả năng lựa chọn hướng bay và duy trì nó trong suốt cuộc hành trình.
How do they decide what direction to take?
Vậy làm cách nào để chúng có thể chọn lựa hướng bay ?.
They appear to choose their normal migration direction even if they are released in a different place from their usual stalling point.
Chúng chọn hướng di cư như thường lệ kể cả khi chúng được thả ra tại một nơi xa lạ so với tổ của chúng.
If, for example, birds which normally fly to the north-east to reach latitude 45 degrees north are released at that latitude, they will immediately start flying north-east anyway.
Ví dụ, những loài chim mà bay về hướng Đông Bắc để tới vĩ độ 45 độ Bắc, nếu được thả ở đó chúng sẽ tự động bay về hướng Đông Bắc.
So if they’re released further to the west, they’ll maintain the correct direction, but fly west of their destination, and so fail to arrive.
Vậy nếu chúng được thả ở một nơi xa hơn về phía Tây, chúng sẽ duy trì lộ trình, nhưng bay về phía tây của điểm đến, vì thế chúng không thể tới đó được.
The third type of homing behaviour shows the highest degree of orientation.
Loại tập tính tổ ấm thứ 3 cho thấy nó là đỉnh cao của sự định hướng.
Released at one point, the birds immediately take stock of it, compare its position with that of the nest, decide on the direction and fly off.
Khi được thả ở một điểm, chúng sẽ xem xét kí lưỡng địa điểm đó, rồi so sánh với vị trí làm tổ của chúng và chọn lựa hướng để bay.
This happens even if the birds are in a country right off their migration routes, where they have never been before.
Điều này xảy ra kể cả khi những loài chim này ở một đất nước không nằm trong lộ trình di cư của chúng, nơi mà chúng chưa từng đến trước đây.
In one example, a laysan albatross returned to its nesting area on Midway Island in the middle of the Pacific, having flown over 5000 kilometres from the west coastal of the USA in just over ten days.
Ví dụ như loài hải âu Laysan, chúng đã bay hơn 5000 km từ bờ biển phía Tây của nước Mĩ trở về nơi làm tổ của chúng ở giữa Thái Bình Dương- đảo Midway trong hơn chục ngày.
This is a perfect example of the third type of homing, for the albatross clearly couldn’t rely on any landmarks over the vast expanse of the Pacific Ocean.
Đây là một ví dụ điển hình cho tập tính tổ ấm thứ ba, vì loài hải âu này rõ ràng không thể phụ thuộc vào bất kì địa điểm nào trong Thái Bình Dương rộng lớn.
The percentage of successful birds varies greatly, being highest in those species with a strong migratory behaviour.
Tỷ lệ phần trăm số con chim sống sót rất đa dạng, cao nhất ở loài chim có tập tính tổ ấm mạnh mẽ.
Thus the lesser black-backed gull is more migratory than the herring gull and more often reaches ‘home’.
Do đó loài mòng biển thân ít đen có tần suất di cư nhiều hơn loài mòng biển cá trích Châu Âu, và chúng thường về đến nhà nhiều hơn.
Great migrants such as the swift have the highest percentage of returns.
Một số loài di cư khác như chim họ Yến có tỷ lệ phần trăm quay lại tổ ấm cao nhất.
In one case, seven out of nine alpine swifts were recaptured at their nests after being displaced some 1400 kilometres; one made the journey in three days.
Trong 1 thí nghiệm, 7 trên 9 chim yến bụng trắng được bắt gặp ở tổ của nó sau khi được di dời đến một địa điểm cách đó khoảng 1400 km, và có một con chỉ mất có 3 ngày để hoàn thành cuộc hành trình ấy.
What part does heredity play in all this?
Vậy vai trò của sự di truyền trong tất cả những điều này là gì?
Two research studies suggest that instinctive, i.e. genetically inherited, behaviour patterns play a part in navigation.
Có 2 nghiên cứu cho rằng bản năng, ví dụ những tập tính sinh hoạt đi truyền qua gen đóng vai trò trong sự định hướng.
The first was carried out by Ernst Schuz and it is highly significant.
Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện bởi Ernst Schuz và nó thực sự rất ấn tượng.
Schuz caught first year European storks and released them later, after the departure of the adult storks at a time when they normally make their south-west autumn migration to Africa.
Schuz bắt những con hạc Châu Âu độ 1 năm tuổi và thả chúng ra, sau khi những chú hạc trưởng thành khởi hành vào thời điểm mà chúng thường có cuộc di cư mùa thu về phía Tây Nam về Châu Phi.
The recaptures showed that, in spite of the fact that there were no adults to guide them, the birds unanimously headed south-west.
Những ghi chép chỉ ra rằng mặc dù không có những con hạc trưởng thành chỉ dẫn nhưng chúng đều hướng về phía Tây Nam.
This was a most striking finding, for it showed that the birds had an innate and unlearned attraction for the African wintering area that they have occupied for thousands of years.
Đây là phát hiện ấn tượng nhất, vì nó chỉ ra rằng loài chim đó có bản năng và vô thức ưa thích khu vực trú đông ở Châu Phi nơi mà chúng đã chiếm lấy trong hàng ngàn năm.
The case of starlings is a little different.
Trường hợp của loài Sáo có đôi chút khác biệt.
These birds have a great aptitude for homing, but this behaviour differs in the different age groups.
Chúng có năng khiếu trong tập tính tổ ấm, nhưng tập tính này sẽ khác nhau ở những nhóm tuổi khác nhau.
Birds that were shifted to the south-east of their normal migration route split into two lots.
Những con chim Sáo mà bị đổi hướng di cư sang hướng Đông Nam chia thành 2 nhóm.
The adults, in full possession of their gift for orientation, found their wintering area by modifying their direction by 90 degrees, whereas the juveniles sought their winter quarters to the south-east of their real position.
Những con trưởng thành sở hữu khả năng định hướng thiên phú, nhận ra được nơi trú đông cho mình bằng cách đi vuông góc với lộ trình Đông Nam, còn những con non trẻ thì vẫn đi theo lộ trình Đông Nam đó.
Từ vựng (16)
- golden plover (ˈɡoʊl.dən) (ˈplʌv.ɚ) — chim choi choi vàng
- methodically (məˈθɑː.dɪ.kəl.i) — một cách cẩn thận, kĩ lưỡng
- pigeons (ˈpɪdʒənz) — bồ câu
- peck (pek) — mổ
- aerial photograph (ˈer.i.əl) (ˈfoʊ.t̬oʊ.ɡræf) — không ảnh (bức ảnh chụp từ trên không)
- latitude (ˈlæt̬.ə.tuːd) — vĩ độ
- take stock of something (teɪk) (stɑːk) (əv) (ˈsʌm.θɪŋ) — kiểm tra, đánh giá, cân nhắc kĩ một thứ gì đó
- albatross (ˈæl.bə.trɑːs) — hải âu
- vary (ˈver.i) — khác biệt
- gull (ɡʌl) — mòng biển
- swift (swɪft) — chim yến
- alphine swift (alphine*) (swɪft) — chim yến bụng trắng
- heredity (həˈred.ə.ti) — sự di truyền
- aptitude (ˈæp.tə.tuːd) — khả năng, tiềm năng
- Người dịch: Phạm Đại Gia Bình (ngi*) (dch*) (phm*) (ˈaɪ) (gia*) (bnh*) —
- Người check: (ngi*) (tʃek) —