← Danh sách bài đọc
Bài 189

The iceman

Người băng

It was late spring or early summer.
Đó là cuối xuân hoặc đầu hè.
The man hurried through a forest he knew well, wincing from the pain in his injured right hand and pausing occasionally to listen for sounds that he was being pursued.
Người đàn ông vội vã băng qua một khu rừng mà ông ta đã thông thuộc, nhăn mặt vì cơn đau truyền đến từ vết thương ở tay phải và thỉnh thoảng dừng lại để lắng nghe tiếng truy đuổi phía sau.
As he fled up the slope, the yellow pollen of the hornbeam blossoms fell like an invisible rain, salting the water and food he consumed when he stopped to rest.
Khi ông ta chạy lên dốc, phấn hoa màu vàng của những bông hoa bìm bịp rơi xuống như một cơn mưa vô hình, ướp mặn số nước và thức ăn mà ông ta dùng khi dừng lại nghỉ ngơi.
Five thousand years later, the Neolithic hunter we call the Iceman would still bear traces of this ancient dusting inside his body-a microscopic record of the time of year it was when he passed through this forest and into the nearby mountains, where fate would finally catch up with him.
Năm nghìn năm sau, người thợ săn Thời đồ đá mới mà chúng ta gọi là Người băng vẫn mang dấu vết của lớp bụi cổ xưa này bên trong cơ thể ông ta - một bản ghi siêu nhỏ về thời điểm trong năm khi ông ta đi qua khu rừng này và vào những ngọn núi gần đó, nơi định mệnh cuối cùng sẽ xảy ra.
Since hikers discovered his mummified corpse in 1991 in a rocky hollow high in the Otztal Alps on Italy's border with Austria, scientists have used ever more sophisticated tools and intellectual cunning to reconstruct the life and times of the Iceman, the oldest intact member of the human family.
Kể từ khi những người đi bộ đường dài phát hiện ra xác ướp của ông vào năm 1991 trong một hốc đá cao trên dãy núi Otztal Alps ở biên giới giữa nước Ý và nước Áo, các nhà khoa học đã sử dụng những công cụ tinh vi hơn bao giờ hết và trí tuệ vượt bậc để tái tạo lại cuộc đời và thời đại của Người băng, thành viên nguyên vẹn lâu đời nhất của loài người.
We know that he was a small, sinewy, and, for his times, rather elderly man in his mid-40s.
Chúng ta biết rằng ông là một người nhỏ con, gân guốc và ngoài 40 tuổi - được xem là già ở thời đó.
Judging from the precious, copper-bladed ax found with him, we suspect that he was a person of considerable social significance.
Qua đánh giá về chiếc rìu bằng đồng quý giá được tìm thấy cùng với ông ta, chúng tôi nghi ngờ rằng ông là một người có vai trò xã hội quan trọng.
He set off on his journey wearing three layers of garments and sturdy shoes with bearskin soles.
Ông ta bắt đầu cuộc hành trình của mình với trang phục ba lớp và đôi giày chắc chắn có đế bằng da gấu.
He was well equipped with a flint- tipped dagger, a little fire-starting kit, and a birchbark container holding embers wrapped in maple leaves.
Ông ta được trang bị đầy đủ với một con dao găm bằng đá lửa, một bộ dụng cụ bắt lửa nhỏ, và một túi làm từ cây bạch dương đựng than hồng bọc trong lá phong.
Yet he also headed into a harsh wilderness curiously under-armed: The arrows in his deerskin quiver were only half finished, as if he had recently fired all his munitions and was in the process of hastily replenishing them.
Tuy nhiên, ông ta đương đầu với một vùng hoang dã khắc nghiệt với vũ trang thô sơ kì lạ:
The arrows in his deerskin quiver were only half finished, as if he had recently fired all his munitions and was in the process of hastily replenishing them.
Những mũi tên trong bao da hươu của ông ta chỉ mới hoàn thành một nửa, như thể ông ta vừa mới bắn hết và đang gấp rút bổ sung.
And he was traveling with a long, roughly shaped stalk of yew-an unfinished longbow, yet to be notched and strung.
Và ông mang theo một thân cây thủy tùng dài, thô - một cây cung dài chưa hoàn thiện, chưa được khứa và buộc dây.
Why?
Tại sao?
When it comes to the Iceman, there has never been a shortage of questions, or theories to answer them.
Khi nhắc đến Người băng, không bao giờ thiếu những câu hỏi hay giả thuyết.
During the 16 years that scientists have poked, prodded, incised, and x-rayed his body, they have dressed him up in speculations that have not worn nearly as well as his rustic garments.
Trong suốt 16 năm mà các nhà khoa học đã chọc, mổ, rạch và chụp X-quang cơ thể ông, họ không ngừng khoác lên ông những suy đoán mới, hệt như bộ y phục mộc mạc ông mặc chưa từng sờn rách.
At one time or another, he has been mistakenly described as a lost shepherd, a shaman, a victim of ritual sacrifice, and even a vegan.
Đôi khi, ông ta từng bị miêu tả sai lệch thành một người chăn cừu lạc đường, một thầy cúng, một nạn nhân của nghi lễ hiến tế, và thậm chí là một người ăn chay trường.
But all these theories fade in the face of the most startling new fact scientists have learned about the Iceman.
Nhưng tất cả những giả thuyết này đều tan biến khi đối mặt với sự thật đáng kinh ngạc nhất mà các nhà khoa học mới tìm ra về Người băng.
Although we still don't know exactly what happened up there on that alpine ridge, we now know that he was murdered, and died very quickly, in the rocky hollow where his body was found.
Mặc dù chúng ta vẫn chưa biết chính xác chuyện gì đã xảy ra trên sườn núi cao đó, nhưng giờ đây chúng ta biết rằng ông ấy đã bị sát hại, và chết rất nhanh, trong hốc đá nơi thi thể ông được tìm thấy.
"Even five years ago, the story was that he fled up there and walked around in the snow and probably died of exposure," said Klaus Oeggl, an archaeobotanist at the University of Innsbruck.
Klaus Oeggl, một nhà cổ sinh vật học tại Đại học Innsbruck, cho biết: “Thậm chí cách đây 5 năm, câu chuyện vẫn là ông ta đã lẩn trốn lên đó và đi bộ trong tuyết và có thể đã chết vì kiệt sức.
"Now it's all changed.
Bây giờ tất cả đã thay đổi.
It's more like a paleo crime scene.
Nó giống như một hiện trường tội phạm thời đồ đá hơn.
"The object of all this intense scientific attention is a freeze-dried slab of human jerky, which since 1998 has resided in a refrigerated, high-tech chamber in the South Tyrol Museum of Archaeology in Bolzano, Italy.
Đối tượng thu hút sự chú ý của giới khoa học là một cơ thể đông lạnh của con người, từ năm 1998 đã được đặt trong một buồng làm lạnh công nghệ cao ở Bảo tàng Khảo cổ học Nam Tyrol ở Bolzano, Ý.
The temptation to conduct fresh experiments on the body rises with every new twist of technology, each revealing uncannily precise details about his life.
Sự cám dỗ với việc tiến hành các thí nghiệm mới trên cơ thể tăng lên cùng với mỗi bước ngoặt mới của công nghệ, mỗi lần lại tiết lộ những chi tiết chính xác kỳ lạ về cuộc đời của ông ta.
Using a sophisticated analysis of isotopes in one of the Iceman's teeth, for example, scientists led by Wolfgang Muller (now at the Royal Holloway, University of London) have shown that he probably grew up in the Valle Isarco, an extensive north-south valley that includes the modern- day town of Bressanone.
Ví dụ, nhờ sử dụng các nghiên cứu tinh vi trên các đồng vị của một trong những chiếc răng của Người băng, các nhà khoa học do Wolfgang Muller (hiện đang làm việc tại Royal Holloway, Đại học London) đứng đầu đã chỉ ra rằng ông ta có thể lớn lên ở Valle Isarco, một thung lũng rộng lớn theo hướng Bắc-Nam, bao gồm thị trấn Bressanone ngày nay.
Isotope levels in his bones, meanwhile, match those in the soil and water of two alpine valleys farther west, the Vai Senales and the Vai Venosta.
Trong khi đó, mức độ đồng vị trong xương của ông ta phù hợp với mức độ đồng vị trong đất và nước của hai thung lũng thuộc núi Alpes, nằm xa hơn về phía tây, Vai Senales và Vai Venosta.
Muller's team has also analyzed microscopic chips of mica recovered from the Iceman's intestines, which were probably ingested accidentally in food made from stone-ground grain; geologic ages of the mica best match a small area limited to the lower Vai Venosta.
Nhóm của Muller cũng đã phân tích các mảnh mica siêu nhỏ được phục hồi từ ruột của Người băng, có lẽ đã vô tình bị nuốt phải khi ăn thực phẩm làm từ ngũ cốc xay bằng đá; tuổi địa chất của mica phù hợp nhất với một khu vực nhỏ giới hạn ở vùng dưới thung lũng Vai Venosta.
The Iceman probably set off on his final journey from this very area, near where the modern-day Adige and Senales Rivers meet.
Người băng có lẽ đã bắt đầu chuyến hành trình cuối cùng của mình từ chính khu vực này, gần nơi giao nhau của Sông Adige và sông Senales ngày nay.
We also know that he was not in good health when he headed up into the mountains.
Chúng tôi cũng biết rằng ông ấy không có sức khỏe tốt khi lên núi.
The one surviving fingernail recovered from his remains suggests that he suffered three episodes of significant disease during the last six months of life, the last bout only two months prior to his death.
Móng tay duy nhất còn sót lại phục hồi từ hài cốt cho thấy rằng ông ta đã mắc phải ba đợt bệnh nghiêm trọng trong sáu tháng cuối đời, đợt cuối cùng chỉ hai tháng trước khi ông ta qua đời.
Doctors inspecting the contents of his intestines have found eggs of the whipworm parasite, so he may well have suffered from stomach distress.
Các bác sĩ kiểm tra thành phần trong ruột của ông và đã tìm thấy trứng của ký sinh trùng, vì vậy rất có thể ông ta đã bị đau bụng.
But he was not too sick to eat.
Nhưng ông ta không bệnh đến mức không thể ăn được.
In 2002, Franco Rollo and colleagues at the University of Camerino in Italy analyzed tiny amounts of food residue from the mummy's intestines.
Năm 2002, Franco Rollo và các đồng nghiệp tại Đại học Camerino ở Ý đã phân tích một lượng nhỏ cặn thức ăn từ ruột của xác ướp.
A day or two before his death, the Iceman had eaten a piece of wild goat and some plant food.
Một hoặc hai ngày trước khi chết, Người băng đã ăn một miếng thịt dê rừng và một số thức ăn có nguồn gốc thực vật.
Archaeobotanists have used equally clever analyses of pollen and plant fragments to plot the Iceman's last movements.
Các nhà cổ vật học đã sử dụng những phân tích tỉ mỉ không kém về phấn hoa và các mảnh thực vật để phác ra những hoạt động cuối cùng của Người băng.
James Dickson of the University of Glasgow has identified no less than 80 distinct species of mosses and liverworts in, on, or near the Iceman's body.
James Dickson của Đại học Glasgow đã xác định được ít nhất 80 loài rêu và loài động vật sống khác nhau trong, trên hoặc gần cơ thể Người băng.
The most prominent moss, Neckera complanata, still grows at several sites in the valleys to the south, in some cases quite near known prehistoric sites.
Loài rêu nổi bật nhất, Neckera complanata, vẫn đang phát triển tại một số địa điểm trong các thung lũng ở phía nam, trong một số khu vực khá gần các địa điểm thời tiền sử.
According to Dickson, a clot of stems found in the Iceman's possession suggests he was probably using the moss to wrap food, although other ancient peoples used similar mosses as toilet paper.
Theo Dickson, một cục rêu được tìm thấy trong các vật dụng của Người băng cho thấy ông ta có thể đang sử dụng rêu để bọc thực phẩm, mặc dù các dân tộc cổ đại khác cũng sử dụng loại rêu tương tự như giấy vệ sinh.
Taken together, the evidence strongly indicates that the Iceman’s last journey began in the low-altitude deciduous forests to the south, in the springtime when the hop hornbeams were in bloom.
Tổng hợp lại, bằng chứng cho thấy rõ ràng rằng chuyến hành trình cuối cùng của Người băng bắt đầu từ những khu rừng rụng lá ở độ cao thấp ở phía nam, vào mùa xuân khi những bông hoa trăn nở rộ.
But it may not have been a straight hike into the mountains.
Nhưng nó có thể không phải là một chuyến đi thẳng lên núi.
Oeggl has also found traces of pine pollen in the Iceman's digestive tract, both above and below the hornbeam pollen.
Oeggl cũng đã tìm thấy dấu vết của phấn hoa thông trong đường tiêu hóa của Người băng, nằm cả phía trên và dưới phấn hoa của cây trăn
This suggests that he may have climbed to a higher altitude where pine trees grow in mixed coniferous forests, then descended to the lower altitude of the hop hornbeams, and finally ascended again into the pine forests in his last day or two.
Điều này cho thấy rằng ông ta có thể đã đi lên phía cao hơn, nơi những cây thông mọc trong rừng lá kim hỗn hợp, sau đó đi xuống dưới thấp, nơi có những cây trăn, và cuối cùng lại leo lên rừng thông trong một hoặc hai ngày cuối cùng của ông.
Why?
Tại sao?
No one knows.
Không ai biết được.
But perhaps he wanted to avoid the steep, thickly wooded gorge of the lower Vai Senales-especially if he was in a hurry.
Nhưng có lẽ ông ấy muốn tránh hẻm núi dốc, cây cối rậm rạp ở vùng dưới thung lũng Vai Senales - đặc biệt nếu ông ấy đang vội.

Từ vựng (25)

  • Neolithic (ˌniː.oʊˈlɪθ.ɪk) — Thời đồ đá mới
  • wince (wɪns) — nhăn nhó
  • birchbark (birchbark*) — cây bạch dương
  • maple (ˈmeɪ.pəl) — cây phong
  • quiver (ˈkwɪv.ɚ) — bao đựng tên, ống tên
  • munitions (mjuːˈnɪʃ.ənz) — đạn dược
  • stalk (stɑːk) — thân cây
  • yew (juː) — cây thủy tùng
  • notch (nɑːtʃ) — khứa, khía (thành hình chữ v)
  • speculation (ˌspek.jəˈleɪ.ʃən) — suy đoán
  • rustic (ˈrʌs.tɪk) — mộc mạc, thô sơ
  • sinewy (ˈsɪn.juː.i) — gân guốc
  • archaeobotanist (archaeobotanist*) — nhà cổ sinh vật học (người nghiên cứu mẫu vật thực vật được tìm thấy tại các khu khảo cổ)
  • uncannily (ʌnˈkæn.əl.i) — kì lạ, huyền bí
  • precise (prəˈsaɪs) — chính xác
  • isotope (ˈaɪ.sə.toʊp) — đồng vị
  • parasite (ˈper.ə.saɪt) — động/thực vật kí sinh
  • intact (ɪnˈtækt) — nguyên vẹn
  • ingest (ɪnˈdʒest) — ăn vào, nuốt vào, hấp thụ, tiếp nhận
  • clot (klɑːt) — cục đông (thường dùng với nghĩa máu đông)
  • stem (stem) — thân cây
  • hornbeam (ˈhɔːrn.biːm) — cây trăn
  • pollen (ˈpɑː.lən) — phấn hoa
  • hop hornbeam (hɑːp) (ˈhɔːrn.biːm) — cây trăn (thuộc họ bạch dương)
  • gorge (ɡɔːrdʒ) — hẻm núi