← Danh sách bài đọc
Bài 019
Animal Personhood
Nhân vị tính của động vật
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Aristotle, a 4th-century-BC Greek philosopher, created the Great Chain of Being, in which animals, lacking reason, ranked below humans.
Aristotle, một nhà triết học Hy Lạp vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, đã tạo nên Chuỗi các loài vật, trong đó động vật, không vì một lí do gì, xếp sau loài người.
The Frenchman, Rene Descartes, in the 17th century AD, considered animals as more complex creatures; however, without souls, they were mere automatons.
Một người Pháp tên Rene Descartes vào thế kỷ thứ 17 sau Công nguyên đã xem động vật như những sinh vật phức tạp hơn; tuy nhiên, vì không có linh hồn, chúng chỉ là những cỗ máy tự động.
One hundred years later, the German, Immanuel Kant, proposed animals are treated less cruelly, which might seem an improvement, but Kant believed this principally because he thought acts of cruelty affect their human perpetrators detrimentally.
Một trăm năm sau, một người Đức tên Immanuel Kant đã đề xuất rằng động vật cần được đối xử một cách ít tàn ác hơn, và đó có thể xem là một sự cải thiện, thế nhưng Kant tin như vậy chủ yếu là vì ông ấy cho rằng những hành động độc ác ấy sẽ tác động xấu đến các phạm nhân.
The mid-19th century saw the Englishman, Jeremy Bentham, questioning not their rationality or spirituality, but whether animals could suffer irrespective of the damage done to their victimisers; he concluded they could; and, in 1824, the first large organisation for animal welfare, the Royal Society for the Prevention of Cruelty to Animals, was founded in England.
Vào giữa thế kỷ thứ 19 một người Anh tên Jeremy Bentham, thay vì đặt câu hỏi về sự hợp lí hay linh hồn của động vật, đã thắc mắc về việc liệu động vật có thể đương đầu với những thiệt hại mà chúng đã gây ra cho những nạn nhân của chúng hay không. Ông ấy đã kết luận là chúng có thể; và; vào năm 1824, tổ chức lớn đầu tiên vì quyền lợi của động vật, Hiệp hội Hoàng gia về Ngăn chặn Sự tàn ác đối với Động vật, đã được thành lập ở Anh.
In 1977, the Australian, Peter Singer, wrote the highly influential book Animal liberation, in which he debated the ethics of meat- eating and factory farming, and raised awareness about inhumane captivity and experimentation.
Vào năm 1977, một người Úc tên Peter Singer đã viết một cuốn sách cực kì có ảnh hưởng Giải phóng động vật, trong cuốn sách ấy ông đã tranh luân về sự đạo đức của việc ăn thịt và chăn nuôi tại nhà máy, đồng thời nâng cao nhận thức về sự bắt nhốt và những thử nghiệm vô nhân đạo trên động vật.
Singer’s title deliberately evoked other liberation movements, like those for women, which had developed in the post-war period.
Tiêu đề của Single đã cố tình gợi lên những phong trào giải phóng khác, như phong trào giải phóng dành cho phụ nữ, thứ vốn đã phát triển trong thời kì hậu chiến.
More recently, an interest in the cognitive abilities of animals has resurfaced.
Gần đây hơn, sự quan tâm đến khả năng nhận thức của động vật lại nổi lên.
It has been known since the 1960s that chimpanzees have sophisticated tool use and social interactions, but research from the last two decades has revealed they are also capable of empathy and grief, and they possess self-awareness and self-determination.
Kể từ những năm 1960 mọi người đã biết rằng những con vượn có khả năng tinh vi trong việc sử dụng công cụ và tương tác xã hội, nhưng nghiên cứu trong hai thập kỉ qua đã và đang hé lộ rằng chúng có khả năng đồng cảm và đau buồn, và chúng cũng có khả năng tự nhận thức và tự quyết định.
Other primates, dolphins, whales, elephants, and African grey parrots are highly intelligent too.
Những loài linh trưởng khác, những con cá heo, cá voi, voi, và vẹt xám Châu Phi cũng rất thông minh.
It would seem that with each new proof of animals’ abilities, questions are being posed as to whether creatures so similar to humans should endure the physical pain or psychological trauma associated with habitat loss, captivity, or experimentation.
Có vẻ như với mỗi bằng chứng mới về những khả năng của động vật, có những câu hỏi được đặt ra chẳng hạn như những sinh vật quá giống loài người có nên chịu đựng những nỗi đau thể xác hoặc chấn thương tâm lý liên quan đến việc chúng mất nơi sinh sống, bị giam giữ, hay bị đem đi thử nghiệm.
While there may be more laws protecting animals than 30 years ago, in the eyes of the law, no matter how smart or sentient an animal may be, it still has a lesser status than a human being.
Trong khi hiện nay có nhiều luật bảo vệ động vật hơn 30 năm về trước, dưới cái nhìn của luật pháp, bất kể một loài động vật có thông minh hay tri giác như thế nào đi chăng nữa, địa vị của chúng vẫn thấp hơn loài người.
Steven Wise, an American legal academic, has been campaigning to change this.
Steven Wise, một nhà học thuật hợp pháp người Mỹ, đã và đang phát động phong trào để thay đổi điều này.
He believes animals, like those listed above, are autonomous - they can control their actions, or rather, their actions are not caused purely by reflex or from innateness.
Ông ấy tin rằng động vật, như những loài đã được liệt kê bên trên, là những động vật tự trị – chúng có thể kiểm soát những hoạt động của chúng, hoặc những hoạt động ấy không hoàn toàn được gây ra bởi sự phản xạ hay bẩm sinh.
He wants these animals categorized legally as nonhuman persons because he believes existing animal protection laws are weak and poorly enforced.
Ông ấy muốn rằng những loài động vật ấy được liệt kê một cách hợp pháp như những cá thể không phải con người bởi vì ông ấy tin rằng những điều luật về bảo vệ động vật hiện nay đang được thi hành một cách yếu kém.
He famously quipped that an aquarium may be fined for cruel treatment of its dolphins but, currently, the dolphins can’t sue the aquarium.
Ông ấy nổi tiếng với lời châm biếm rằng một bể cá có thể sẽ bị phạt vì đã đối xử tàn nhẫn với những con cá heo trong ấy nhưng, ở thời điểm hiện tại, những con cá heo ấy không thể kiện cái bể cá.
While teaching at Vermont Law School in the 1990s, Wise presented his students with a dilemma: should an anencephalic baby be treated as a legal person? (Anencephaly is a condition where a person is born with a partial brain and can breathe and digest, due to reflex, but otherwise is barely alert, and not autonomous.)
trong khi đang giảng dạy tại trường luật Vermont vào những năm 1990, Wise đã trình bày cho những học sinh của ông ấy một tình huống khó xử: liệu một đứa bé bị dị tật não có nên được đối xử như một cá thể hợp pháp? (Anencephaly là một tình thế khi một người được sinh ra với chỉ một phần não và có thể thở và tiêu hóa, nhờ vào phản xạ, nhưng mặt khác người ấy lại lanh lợi vừa đủ, và không phải một cỗ máy.)
Overwhelmingly, Wise's students would say ‘Yes'. He posed another question: could the same baby be killed and eaten by humans? Overwhelmingly, his students said ‘No’ His third question, always harder to answer, was: why is an anencephalic baby legally a person yet not so a fully functioning bonobo chimp?
Phần đông những học sinh của ông sẽ trả lời “Có”. Ông ấy lại đưa ra một câu hỏi khác: liệu một đứa trẻ như thế có nên bị giết và ăn thịt bởi con người? học sinh của ông đồng loạt nói “Không”. Câu hỏi thứ ba của ông ấy, lúc nào cũng rất khó để trả lời, rằng: vì sao một đứa trẻ bị dị tật não có thể là một cá thể hợp pháp nhưng một con tinh tinh bonobo hoàn chỉnh lại không?
Wise draws another analogy: between captive animals and slaves.
Wise đưa ra một sự tương đồng khác: giữa những con vật bị giam nhốt và nô lệ.
Under slavery in England, a human was a chattel, and if a slave were stolen or injured, the thief or violator could be convicted of a crime, and compensation paid to the slave’s owner though not to the slave.
Dưới ách nô lệ ở Anh, mỗi con người là một vật sở hữu, và nếu một nô lệ bị đánh cắp hay bị thương, tên trộm hoặc người gây án ấy có thể bị kết án, tuy nhiên, không phải nô lệ mà chính chủ nhân của họ sẽ nhận khoản bồi thường.
It was only in 1772 that the chief justice of the King's Bench, Lord Mansfield, ruled that a slave could apply for habeas corpus, Latin for: ‘“You must have the body’, as few men and women had done since ancient times.
Chỉ vào năm 1772, chánh án của Nhà vua, Lord Mansfield, đã ra phán quyết rằng một nô lệ có thể nộp đơn cho Quyền bảo hộ Nhân thân, tiếng Latinh có nghĩa là: "Bạn phải có cơ thể", như một số ít đàn ông và phụ nữ đã làm từ thời cổ đại.
Habeas corpus does not establish innocence or guilt; rather, it means a detainee can be represented in court by a proxy.
Quyền bảo hộ Nhân thân không đặt ai vào sự vô tội hay tội lỗi, nó có nghĩa là một người bị tạm giam có thể được trình bày ở tòa án bởi một người được ủy quyền.
Once slaves had been granted habeas corpus, they existed as more than chattels within the legal system although it was another 61 years before slavery was abolished in England.
Một khi nô lệ đã được cấp Quyền bảo hộ Nhân thân, họ tồn tại với địa vị cao hơn những món đồ bị sở hữu trong hệ thống pháp luật mặc dù phải mất thêm 61 năm nữa trước khi ách nô lệ bị bãi bỏ ở Anh.
Aside from slaves, Wise has studied numerous cases in which a writ of habeas corpus had been filed on behalf of those unable to appear in court, like children, patients, prisoners, or the severely intellectually impaired.
. Ngoài nô lệ, Wise đã nghiên cứu nhiều trường hợp trong đó văn kiện Quyền bảo hộ Nhân thân đã được đệ trình thay mặt cho những người không thể ra hầu tòa, như trẻ em, bệnh nhân, tù nhân hoặc người bị suy giảm trí tuệ nghiêm trọng.
In addition, Wise notes there are entities that are not living people that have legally become non-human persons, including ships, corporations, partnerships, states, a Sikh holy book, some Hindu idols and the ‘Wanganui River in New Zealand.
Ngoài ra, Wise lưu ý rằng có những thực thể không phải là người sống đã và đang trở thành những cá thể không phải người một cách hợp pháp, bao gồm những con tàu, tập đoàn, quan hệ đối tác, tiểu bang, một cuốn sách thánh của đạo Sikh, một số thần tượng Hindu và sông ‘Wanganui ở New Zealand.
In conjunction with an organisation called the Non-human Rights Project (NhRP), Wise has been representing captive animals in US courts in an effort to have their legal status reassigned.
kết hợp với một tổ chức có tên là Dự án Phi nhân quyền (NhRP), Wise đã đại diện cho những động vật bị nuôi nhốt tại các tòa án Hoa Kỳ trong nỗ lực kêu gọi sự chỉ định lại địa vị pháp lý cho chúng.
Thereafter, the NhRP plans to apply, under habeas corpus, to represent the animals in other cases. Wise and the NhRP believe a new status will discourage animal owners or nation-states from neglect or abuse, which current laws fail to do.
Sau đó, kế hoạch của NhRP, dưới dạng Quyền bảo hộ Thân nhân, đại diện cho động vật trong những trường hợp khác. Wise và NhRP tin rằng một địa vị mới sẽ ngăn chặn những chủ sở hữu động vật hay những tiểu bang khỏi việc phớt lờ hay lạm dụng chúng, điều mà pháp luật hiện tại không thể làm được.
Richard Epstein, a professor of law at New York University, is a critic of Wise's.
Richard Epstein, một giáo sư luật tại trường Đại học New York, là một người chỉ trích việc làm của Wise.
His concern is that if animals are treated as independent holders of rights there would be little left of human society, in particular, in the food and agricultural industries.
Mối quan tâm của ông ấy là nếu động vậy được đối xử như những người nắm luật độc lập, những gì còn lại cho loài người sẽ trở nên ít ỏi, cụ thể là trong nền công nghiệp thực phẩm và nông nghiệp.
Epstein agrees some current legislation concerning animal protection may need overhauling, but he sees no underlying problem.
Epstein đồng ý rằng một số luật hiện hành liên quan đến việc bảo vệ động vật có thể cần sự thẩm tra, nhưng ông ấy không nhìn thấy bất cứ vấn đề cơ bản nào.
Other detractors say that the push for personhood misses the point: it focuses on animals that are similar to humans without addressing the fundamental issue that all species have an equal right to exist.
Một số người chỉ trích khác nói rằng sự thúc đẩy cho Nhân vị tính bỏ lỡ một điểm quan trọng: nó tập trung vào các loài động vật giống với con người nhưng không giải quyết một vấn đề cơ bản rằng tất cả các loài có một quyền lợi được tồn tại công bằng.
Thomas Berry, of the Gaia Foundation, declares that rights do not emanate from humans but from the universe itself, and, as such, all species have the right to existence, habitat, and role (be that predator, plant, or decomposer).
Thomas Berry, thuộc Tổ chức Gaia, tuyên bố rằng các quyền không đến từ con người mà từ chính vũ trụ, và như vậy, tất cả các loài đều có quyền tồn tại, có môi trường sống và vai trò (là động vật ăn thịt, thực vật hoặc sinh vật phân hủy).
Dramatically changing human behaviour towards other species is necessary for their survival - and that doesn’t mean declaring animals as non-human persons.
Rõ ràng rằng việc thay đổi hành vi của con người đối với các loài khác là vô cùng cần thiết cho sự tồn tại của chúng - và điều đó không có nghĩa là tuyên bố động vật là những cá thể phi nhân.
To date, the NhRP has not succeeded in its applications to have the legal status of chimpanzees in New York State changed, but the NhRP considers it some kind of victory that the cases have been heard. Now, the NhRP can proceed to the Court of Appeals, where many emotive cases are decided, and where much common law is formulated.
Cho đến nay, các đơn xin thay đổi địa vị pháp lý của tinh tinh ở Bang New York của NhPR đã không thành công, nhưng NhRP coi đó là một loại chiến thắng bởi vì những trường hợp đã và đang được biết đến. Giờ đây, NhRP có thể tiến tới tòa án phúc thẩm, nơi có nhiều trường hợp cảm động được quyết định, và nơi có nhiều luật phổ biến được thành lập.
Despite setbacks, Wise doggedly continues to expose brutality towards animals. Thousands of years of perceptions may have to be changed in this process. He may have lost the battle, but he doesn't believe he’s lost the war.
Bất chấp những thất bại, Wise tiếp tục ngoan cường phơi bày ra sự tàn bạo đối với động vật. Nhận thức trong hàng nghìn năm có thể phải được thay đổi trong quá trình này. Anh ta có thể đã thua trận, nhưng anh ta không tin rằng mình đã thua trong cuộc chiến.
Từ vựng (57)
- propose (prəˈpoʊz) — đề xuất
- aquarium (əˈkwer.i.əm) — bể nuôi cá
- chimp (ˈtʃɪmp) — tinh tinh/ vượn
- In conjunction with (ˈɪn, ɪn) (kənˈdʒʌŋk.ʃən) (wɪð) — kết hợp với
- perpetrator (ˈpɝpəˌtɹeɪtɝ) — phậm nhân
- cognitive abilities (ˈkɑːɡ.nə.t̬ɪv) (əˈbɪɫəˌtiz) — khả năng nhận thức
- post-war period (poʊst) (wɔːr) (ˈpɪr.i.əd) — thời kì hậu chiến
- be convicted of a crime (biː) (kənˈvɪk.tɪd) (əv) (ˈeɪ, ə) (kraɪm) — bị kết án
- enforce (ɪnˈfɔːrs) — thi hành
- declare (dɪˈkler) — thông báo
- emanate from (ˈem.ə.neɪt) (frɑːm) — xuất phát từ
- alert (əˈlɝːt) — lanh lợi
- entity (ˈen.t̬ə.t̬i) — thực thể
- corporation (ˌkɔːr.pəˈreɪ.ʃən) — tập đoàn
- innocence (ˈɪn.ə.səns) — sự vô tộii
- setback (ˈset.bæk) — thất bại
- chimpanzee (ˌtʃɪm.pænˈziː) — vượn
- victimiser (victimiser*) — nạn nhân
- analogy (əˈnæl.ə.dʒi) — sự tương đồng
- grief (ɡriːf) — nỗi buồn
- factory farming (ˈfæk.tɚ.i) (ˈfɑːr.mɪŋ) — chăn nuôi trong nhà máy
- possess (pəˈzes) — sở hữu
- chattel (ˈtʃæt̬.əl) — vật sở hữu
- detainee (ˌdiː.teɪˈniː) — người bị tạm giam
- philosopher (fɪˈlɑː.sə.fɚ) — nhà triết học
- rationality (ˌræʃ.ənˈæl.ə.t̬i) — sự hợp lý
- quip (kwɪp) — châm biếm
- inhumane (ˌɪn.hjuːˈmeɪn) — vô nhân đạo
- innateness (innateness*) — sự bẩm sinh
- captivity (kæpˈtɪv.ə.t̬i) — sự giam nhốt
- guilt (ɡɪlt) — sự tội lỗi
- proof (pruːf) — bằng chứng
- dilemma (daɪˈlem.ə) — tình huống khó xử
- anencephalic baby (ˌæn.en.səˈfæl.ɪk) (ˈbeɪ.bi) — trẻ em bị dị tật não
- abolish (əˈbɑː.lɪʃ) — bãi bỏ
- spirituality (ˌspɪr.ə.tʃuˈæl.ə.t̬i) — tính chất tinh thần
- brutality (bruːˈtæl.ə.t̬i) — sự nhẫn tâm/ tàn ác
- psychological trauma (ˌsaɪ.kəˈlɑː.dʒɪ.kəl) (ˈtrɑː.mə) — chấn thương tâm lý
- legislation (ˌledʒ.əˈsleɪ.ʃən) — luật pháp
- Personhood (ˈpɝː.sən.hʊd) — Nhân vị tính
- court (kɔːrt) — tòa án
- compensation (ˌkɑːm.penˈseɪ.ʃən) — khoản bồi thường
- to endure (tuː) (ɪnˈdʊr) — chịu đựng
- automaton (ɑːˈtɑː.mə.t̬ən) — cỗ máy tự động
- sentient (ˈsen.ʃənt) — tri giác
- proxy (ˈprɑːk.si) — người được ủy quyền
- empathy (ˈem.pə.θi) — sự đồng cảm
- partnership (ˈpɑːrt.nɚ.ʃɪp) — quan hệ đối tác
- liberation (ˌlɪb.əˈreɪ.ʃən) — sự giải phóng
- decomposer (ˌdiː.kəmˈpoʊz.ɚ) — sinh vật phân hủy
- sue (suː) — khởi kiện
- slavery (ˈsleɪ.vər.i) — ách nô lệ
- on behalf of (ɑːn) (bɪˈhæf) (əv) — thay mặt/ đại diện cho
- reflex (ˈriː.fleks) — phản xạ
- digest (daɪˈdʒest) — tiêu hóa
- primate (ˈpraɪ.meɪt) — loài linh trưởng
- overhauling (oʊ.vɚˈhɑːl) — sự thẩm tra