← Danh sách bài đọc
Bài 194

The role of accidents in business

Vai trò của những rủi ro trong kinh doanh

In 1894 Dr John Kellogg and his brother, Will, were supervising a hospital and health spa in Michigan.
Vào năm 1894, bác sĩ John Kellogg và anh trai ông ấy, Will đang giám sát một bệnh viện và một trung tâm chăm sóc sức khoẻ ở Michigan.
The patients were on a restricted diet.
Các bệnh nhân phải thực hiện một chế độ ăn kiêng nghiêm khắc.
One day, the brothers left cooked wheat untended for more than 24 hours.
Một ngày nọ, hai anh em bỏ mặc lúa mì đã nấu chín trong hơn 24 giờ đồng hồ.
When they returned, they saw what they had done.
Khi họ quay trở lại, họ thấy những gì họ đã làm.
It was no good to eat, but they decided to run the stale wheat through rollers, just to see how it would turn out.
Ăn nó thì không tốt nhưng họ đã quyết định cho lúa mỳ bị mốc lăn qua máy cán để xem nó sẽ thành ra như thế nào.
Normally, the process produced long sheets, but they were surprised to discover that this time the rollers created flat flakes.
Thông thường, quá trình này sẽ tạo thành các sợi dài, nhưng lần này họ đã bất ngờ khi nhìn thấy rằng các con lăn đã tạo ra các mảnh dẹt.
They baked them, and then tried the same thing with corn.
Họ đã nướng chúng lên và sau đó làm tương tự với bắp.
From this accidental discovery came the cornflakes that generations have now been eating for breakfast.
Từ phát hiện tình cờ này đã cho ra đời những chiếc bánh bông lan mà nhiều thế hệ bây giờ vẫn ăn vào bữa sáng.
Accidents happen; there is nothing predictable and orderly about innovation.
Sự cố đã xảy ra; sáng tạo không phải là một quá trình có thể dự đoán hay có hệ thống.
Nobel laureate Sir Alan Hodgkin, who discovered how nerve cells transmit electrical impulses between the skin and the brain, commented: 'I believe that the record of my published papers conveys an impression of directedness and planning which does not at all coincide with the actual sequence of events.’
Người đoạt giải Nobel, ngài Alan Hodgkin, người đã phát hiện ra cách các tế bào dây thần kinh truyền xung điện giữa da và não, nhận xét rằng: "Tôi tin rằng những ghi chép của các bài báo đã xuất bản của tôi, cái mà truyền tải ấn tượng về sự định hướng và lập kế hoạch hoàn toàn không trùng khớp với các chuỗi sự kiện trong thực tế.
The same rule applies in business.
Trong kinh doanh cũng áp dụng một quy luật tương tự.
The mistake that gave US cornflakes keeps repeating itself in the history of disruptive innovation, the kind that transforms markets.
Cái lỗi sai mà giúp cho Mỹ có món bánh bông lan tiếp tục lặp lại trong lịch sử của sự đổi mới mang tính đột phá, loại hình làm thay đổi thị trường.
Louis Daguerre, for, instance, discovered the technique that gave US photography in the 1830s, when drops of mercury from a shattered thermometer produced a photographic image.
Ông Louis Daguerre, ví dụ, đã phát hiện ra kĩ thuật đã đem lại cho nước Mĩ ngành nhiếp ảnh vào những năm 1830 khi mà ông phát hiện ra rằng giọt thủy ngân từ cái nhiệt kế vỡ có thể tạo ra hình ảnh.
The microwave was discovered when Peroy Spender, a scientist with Raytheon, was testing a new vacuum tube and discovered that the sweet in his pocket had melted.
Lò vi sóng đã được phát minh ra khi mà Peroy Spender, một nhà khoa học đã cùng với tập đoàn công nghệ Raytheon thử nghiệm một loại đèn điện tử chân không mới và nhận ra rằng viên kẹo trong túi áo ông ấy đã tan chảy.
The artificial sweetener, saccharin, was the unintentional result of a medical scientist’s work on a chemical treatment for gastric ulcers.
Chất làm ngọt nhân tạo, saccharin, là kết quả không chủ ý của công trình nghiên cứu hóa chất điều trị loét dạ dày của một nhà y khoa.
While working for the firm 3M, researcher Art Fry had no idea he was taking the first steps towards Post- It Notes when he used bits of adhesive office paper that could be easily lifted off the page to replace the scrap paper bookmarks that kept falling out of his hymn book.
Trong khi làm việc cho công ty 3M, nhà nghiên cứu Art Fry không hề biết rằng anh ấy đã đang thực hiện những bước đầu tiên cho sự ra đời của giấy ghi chú khi anh ấy sử dụng các mẩu giấy văn phòng có chất kết dính có thể dễ dàng gỡ ra khỏi trang giấy để thay thế cho các mảnh bookmark liên tục rơi ra khỏi cuốn sách thánh ca của mình.
Breakthrough and disruptive innovation are rarely driven by orderly process.
Đột phá và sự sáng tạo mang tính đột phá hiếm khi bị ảnh hưởng bởi một quá trình mang tính trật tự.
Usually they come out of a chaotic, haphazard mess, which is why big companies, full of managers schooled in business programmes designed to eliminate random variation and mistakes, struggle with them.
Chúng thường được nhận ra trong mớ hỗn độn, lổm nhổm, và đó chính là lí do vì sao các công ty lớn phải vật lộn với chúng mặc dù có các nhà quản lý được đào tạo trong các chương trình kinh doanh nhằm giảm thiểu các biến thể và sai sót ngẫu nhiên.
In these sorts of environments, accidents are called failures and are discouraged.
Trong những môi trường như thế, những sự cố được xem là thất bại và dễ gây nản lòng.
It is no surprise then that research from the late British economist Paul Geroski and London Business School’s Constantinos Markides found that companies that were skilled at innovation were usually not that skilled when it came to commercialisation, and vice versa.
Không có gì ngạc nhiên khi mà nghiên cứu từ một nhà kinh tế học quá cố người Anh Paul Geroski và Constantinos Markides từ London Business School (một học viện sau đại học kinh doanh quốc tế ở London) nhận thấy rằng các công ty có kinh nghiệm về sự đổi mới không thực sự dày dặn khi vấn đề họ phải đối mặt là thương nghiệp hoá, và ngược lại.
Their book, Fast Second, divides businesses into 'colonists’ and 'consolidators’.
Cuốn sách của họ, Fast Second, chia các doanh nghiệp thành các nhánh 'những người khai hoang' và 'những người củng cố'.
Small and nimble, colonists are adept at creating market niches but are terrible institution builders.
Nhỏ gọn và nhanh nhẹn, những người đi khai hoang rất thành thạo việc tạo ra những lỗ hổng thị trường nhưng họ là những người tệ trong việc xây dựng thể chế.
Consolidators, with their strong cultures of discipline and cost control, know how to take clever ideas from other firms and turn them into mass­market items.
Những người củng cố nắm trong tay các văn hoá kỉ luật mạnh mẽ và sự kiểm soát về chi phí, họ biết làm sao để chuyển những ý tưởng hay từ các công ty thành những vật dụng được phổ biến rộng rãi ngoài thị trường.
Microsoft is a prime instance of this.
Microsoft là một ví dụ điển hình.
With companies spending hundreds of billions of dollars on research and development, US academics Robert Austin and Lee Devin examined how managers can encourage productive slip-ups.
Nhờ có việc các công ty dành cả trăm tỷ đô vào việc nghiên cứu và phát triển, những nhà học thuật Mỹ Robert Austin và Lee Devin đã nghiên cứu cách các nhà điều hành khuyến khích những sai sót có tính năng suất cao.
In their article Accident, Intention and Expectation in the Innovation Process, they argue that business processes actually prevent helpful mis-steps from occurring.
Trong bài báo: Accident, Intention and Expection in the Innovation Process (Sơ suất, ý định và kỳ vọng trong quá trình cải tiến), họ tranh luận rằng các quá trình kinh doanh thực sự đã ngăn cản sự xảy ra của các bước tiến sai lầm.
According to their catalogue of accidents, not all false steps and mishaps are equal.
Theo thống kê hàng loạt những sai sót của họ, không phải tất cả những bước đi sai và những rủi ro là giống nhau.
Accidents, they say, come from unlikely mental associations such as memories and vague connections, looking for something and finding it in an unexpected way, looking for one thing and finding something else, and not looking for anything but finding something valuable.
Họ cho rằng những rủi ro đến từ những liên tưởng không có thật như là kỉ niệm và những sự kết nối mơ hồ, sự tìm kiếm thứ gì đó và tìm thấy nó theo cái cách khác so với mình đã tưởng tượng, tìm kiếm một thứ và thứ tìm được lại là một cái khác, và không tìm gì cả nhưng lại tự nhiên tìm thấy những thứ thực sự giá trị.
Accident-prone innovation, they say, requires companies to get outside the ‘cone of expectation’.
Họ nói rằng sự đổi mới dễ gây tai nạn đòi hỏi các công ty phải bước ra khỏi những khái niệm về sự kì vọng.
It means throwing together groups from diverse backgrounds, and combining ideas in unpredictable ways, other strategies also include having systems that watch out for accidents and examine them for value, generating them when they do not happen often enough, seizing oil the useful ones, capturing their valuable features, and building on them to add value and give potential for useful accidents.
Nó đòi hỏi phải tập hợp các nhóm khác nhau lại với nhau và kết hợp các ý tưởng theo những cách bất ngờ. Các chiến lược khác bao gồm có hệ thống đề phòng tai nạn và kiểm tra giá trị của chúng, tạo ra chúng khi chúng không xảy ra đủ thường xuyên, chộp lấy những cái hữu ích, nắm bắt những đặc điểm giá trị của chúng, và xây dựng trên chúng để tăng giá trị và cung cấp tiềm năng cho những tai nạn hữu ích.
All this, however, requires thinking that is often counter-intuitive to the way businesses operate.
Tuy nhiên, tất cả điều này yêu cầu những suy nghĩ khác thường về cách vận hành của các doanh nghiệp.
In other words, it is the kind of thinking that goes against the beliefs of most business managers.
Nói cách khác, đó là cái kiểu suy nghĩ mà đi ngược lại với suy nghĩ của hầu hết các giám đốc công ty.
It runs counter to the notion frequently pushes by consultants that you can ‘harness’ creativity and direct it to line up with intention.
Điều này trái ngược với quan niệm rằng tính sáng tạo có thể được "đào tạo" và được hướng dẫn để phù hợp với mục tiêu, một quan điểm điển hình được các nhà tư vấn ủng hộ.
‘The cost of accidents business, people tend to call such efforts failure.’
Cái giá của sai sót trong kinh doanh, mọi người thường hay gọi những nỗ lực đó là sự thất bại.'
There are tentative signs that more companies are starting to realise that failure can lead to commercial gain, and that this is part or the risk-taking that underpins innovation.
Có những lời đồn rằng ngày càng nhiều công ty đang bắt đầu nhận ra rằng sự thất bại có thể dẫn đến thành tựu về thương mại, và rằng đây là một phần của sự chấp nhận rủi ro, điều kiện cần của sự đổi mới.
Australia’s largest brewing company, for example, made a bad error when it launched a new beer called Empire Lager, pitched at younger consumers.
Ví dụ, công ty sản xuất rượu bia lớn nhất nước Úc đã gặp phải một sai sót tệ hại khi mà ra mắt một loại bia mới có tên là Empire Lager, hướng đến những người tiêu dùng trẻ tuổi.
Having spent a fortune creating a beer with a sweeter taste, designing a great-looking bottle and a television campaign, Foster’s was left with a drink that no-one wanted to buy.
Việc dành ra một khoản tiền lớn để sản xuất ra loại bia có vị ngọt, thiết kế một chiếc vỏ chai ưa nhìn và một chiến dịch truyền hình đã khiến Foster bị bỏ lại với một thức uống mà không ai muốn mua.
The target market was more interested in brands built up by word of mouth.
Thị trường mục tiêu thích thú những nhãn hàng được giới thiệu qua những lời truyền miệng hơn.
Instead of wiping the unsuccessfull product launch, Fosters used this lesson learned to go on and develop other brands instead.
Thay vì xóa sổ việc ra mắt sản phẩm không thành công, Fosters đã sử dụng bài học kinh nghiệm này để tiếp tục và phát triển các thương hiệu khác.
One of them, Pure Blonde, is now ranked as Australia’s fifth-largest beer brand.
Một trong số chúng, Pure Blonde, bây giờ đang xếp thứ 5 trong số những hãng bia lớn nhất nước Úc.
Unlike Empire Lager, there has been almost no promotion and its sales are generated more by word of mouth.
Khác với Empire Lager, gần như không có một sự quảng cáo nào và doanh số của nó tăng trưởng phần nhiều dựa vào sự truyền miệng.
Other companies are taking similar steps to study their own slip-ups.
Nhiều công ty khác cũng đang thực hiện những bước tương tự để học từ những sai lầm của họ.
Intuit, the company behind financial tools such as Quicken, holds regular ‘When Learning Hurts’ sessions.
Intuit, công ty mẹ đằng sau những công cụ tài chính như Quicken, tổ chuỗi các phiên họp 'When Learning Hurts' thường xuyên.
But this sort of transformation is never easy.
Nhưng kiểu thay đổi này chưa bao giờ là dễ dàng.
In a market that focuses on the short-term, convincing employees and shareholders to tolerate failure and not play it safe is a big thing to ask.
Trong một thị trường mà tập trung vào sự ngắn hạn, để thuyết phục những nhà người sử dụng lao động và các cổ đông chấp nhận thất bại và không chấp nhận rủi ro thực sự là cả một vấn đề.

Từ vựng (18)

  • run sth through sth (rʌn) (sth*) (θruː) (sth*) — cho cái gì lăn qua cái gì
  • turn out (tɝːn) (aʊt) — hoá ra là
  • cornflake (cornflake*) — bánh bông lan
  • electrical impulses (iˈlek.trɪ.kəl) (ˈɪmpəɫsɪz, ˌɪmˈpəɫsɪz) — xung điện
  • a shattered thermometer (ˈeɪ, ə) (ˈʃæt̬.ɚd) (θɚˈmɑː.mə.t̬ɚ) — nhiệt kế bị vỡ
  • a vacuum tube (ˈeɪ, ə) (ˈvæk.juːm) (tuːb) — ống chân không
  • gastric ulcers (ˈɡæs.trɪk) (ˈəɫsɝz) — loét dạ dày
  • hymn (hɪm) — bài thánh ca
  • disruptive (dɪsˈrʌp.t̬ɪv) — mang tính đột phá
  • come out of sth (kʌm) (aʊt) (əv) (sth*) — đi ra từ
  • haphazard (ˌhæpˈhæz.ɚd) — bừa bãi; lung tung; không được hoạch định
  • nimble (ˈnɪm.bəl) — lanh lợi, nhanh nhẹn
  • massmarket (massmarket*) — thị trường chung
  • slip-ups (slɪp) (ˈəps) — lỗi lầm
  • tentative (ˈten.t̬ə.t̬ɪv) — ướm, thử, ngập ngừng, thăm dò
  • underpin (ˌʌn.dɚˈpɪn) — củng cố, làm vững chắc thêm, làm cơ sở cho
  • Having spent a fortune (ˈhævɪŋ) (spent) (ˈeɪ, ə) (ˈfɔːr.tʃuːn) — dành một khoản tiền lớn
  • word of mouth (wɝːd) (əv) (maʊθ) — lời nói truyền miệng