← Danh sách bài đọc
Bài 201

The Cane Toad in Australia

Loài cóc mía ở Australia

The cane toad was introduced into Australia in 1935 to control sugar cane pests in Queensland
Cóc mía được đưa đến Australia vào năm 1935 để kiểm soát lượng côn trùng gây hại cho cây mía ở Queensland.
One hundred and one cane toads arrived at Edmonton in June in 1935.
Một trăm lẻ một con cóc đến Edmonton vào tháng Sáu, 1935.
Breeding occurred almost immediately.
Gần như ngay sau đó, chúng bắt đầu sinh sản.
The cane toad is tough and adaptable, as well as being poisonous throughout Its life cycle, and has few predators in Australia.
Cóc mía khỏe mạnh, bạo lực và có tính thích ứng cao bằng cách trở thành loài động vật có độc trong suốt cuộc đời, và chúng có rất ít kẻ thù ở Australia.
Cane toads are large heavily-built amphibians with dry, warty skin.
Cóc mía là loài lưỡng cư lớn, có thân hình chắc khỏe, với làn da khô, nhiều mụn cơm.
They have a bony head and over their eyes are bony ndges that meet above the nose.
Chúng có cái đầu xương xẩu, và phía trên đôi mắt của chúng là những gờ xương nằm giao nhau trên sống mũi.
They sit upright and move in short rapid hops.
Chúng ngồi thẳng, và di chuyển bằng những bước nhảy ngắn, nhanh.
Their hind feet have leathery webbing between the toes and their front feet are unwebbed.
Bàn chân sau của chúng có lớp màng da giữa các ngón chân, và chân trước thì không có màng.
Adult cane toads have large swellings - the parotoid glands - on each shoulder behind the eardrum.
Cóc mía trưởng thành có những u cục lớn - hay các tuyến nước bọt- trên hai bên vai, phía sau màng tai.
Cane toads may be grey, yellowish, olive-brown or reddish-brown, and their bellies are pale with dark mottling.
Cóc mía có thể có màu xám, vàng nhạt, nâu vàng hoặc nâu đỏ, và bụng chúng có màu nhạt hơn cùng những đốm tối màu.
Average-sized adults are ten to fifteen centimetres long.
Trung bình, những con trưởng thành có độ dài từ 10-15 cm.
The largest female measured in Queensland was twenty-four centimetres long and weighed one point three kilograms
Con cóc mía cái lớn nhất đo được ở Queensland dài 24 cm, và nặng 1,3 kg.
Male cane toads are smaller and wartier than females.
Cóc mía đực nhỏ và có nhiều mụn cơm hơn cóc mía cái.
Dunng the breeding season males develop dark lumps (nuptial pads) on their first two fingers; these help them cling to a female while mating.
Trong suốt mùa sinh sản, cóc đực phát triển những bướu tối màu (phần đệm sinh dục) trên hai ngón chân đầu tiên, những bướu này giúp chúng bám chắc vào con cái khi ghép đôi.
Their mating call is a long loud purnng tnll.
Cuộc gọi bạn tình của chúng là một chuỗi những tiếng rừ...ừ dài, ồn ào.
Cane toad spawn is exclusive in Australia.
Ở Australia, trứng cóc mía rất dễ phân biệt với những loài khác.
It is laid in long strings of transparent jelly enclosing double rows of black eggs.
Đó là những chuỗi dài, nhớt, trong suốt, bọc bên trong là những hàng đôi trứng màu đen.
The spawn tangles in dense dark masses around water plants, and hangs in ropy strands if picked up
Trứng cuộn, xoắn thành những khối tối màu, phân bố dày đặc xung quanh các cây thủy sinh, và buông xuống thành những sợi dính nhớt nếu ta vớt lên.
The natural range of cane toads extends from the southern United States to tropical South Amenca.
Phạm vi sống tự nhiên của cóc mía trải dài từ phía Nam nước Mĩ đến những rừng mưa nhiệt đới Nam Mĩ.
In 2002, cane toads occurred throughout the eastern and northern half of Queensland and have extended their range to the river catchments surrounding Kakadu National Park in the Northern Temtory.
Vào năm 2002, cóc mía xuất hiện dọc phía Đông và nửa phía bắc của Queensland, chúng còn mở rộng phạm vi sống xuống những lưu vực sông quanh công viên quốc gia Kakadu, vùng phía nam Temtory.
In New South Wales, they occur as far south as Yamba and Port Macquarie.
Ở New South Wales, chúng xuất hiện ở phía xa về phương Nam như Yamba và cảng Macquarie.
Cane toads tolerate a broad range of environmental and climatic conditions and appear to be able to adjust and survive in almost any environment system, including sea water for short periods of time.
Cóc mía chống chọi được với đa dạng các điều kiện môi trường và khí hậu khác nhau, và có vẻ chúng có khả năng thích nghi và tồn tại trong gần như bất kì hình thái môi trường nào, bao gồm môi trường biển trong một thời gian ngắn.
This to a large extent explains their success in their spreading in Australia.
Đây là một lời giải thích rất quan trọng rằng tại sao chúng thành công trong việc lan rộng số lượng ở Úc.
Cane toads are found in environments ranging from sand dunes and coastal heath to the margins of rainforest and mangroves.
Cóc mía được tìn thấy trong những môi trường từ cồn cát và bờ biển cây thạch nam cho đến bìa rừng mưa nhiệt đới và rừng cây đước.
They are most abundant in open clearings in urban areas, and in grassland and woodland.
Chúng tập trung đông nhất ở những vùng đô thị sạch sẽ, thông thoáng, và đồng cỏ, rừng.
Cane toads eat almost anything they can swallow, including pet food, carrion and household scraps, but most of their food consists of living insects Beetles, honey bees.
Cóc mía ăn hầu hết tất cả những gì chúng có thể nuốt, bao gồm thức ăn của vật nuôi, xác thối, đồ thừa trong khu bếp gia đình, nhưng hầu hết thức ăn của chúng gồm bọ cánh cứng còn sống, ong mật.
Ants, winged termites, cnckets and bugs are eaten in abundance Marine snails, smaller toads and native frogs, small snakes, and small mammals are occasionally eaten by cane toads.
Kiến, mối có cánh, dế, và rệp là nguồn thức ăn trong vô số những con ốc sên biển, những con cóc nhỏ hơn và ếch bản địa, rắn và động vật có vú cỡ nhỏ thi thoảng cũng là nguồn thức ăn của cóc mía.
The tadpoles of cane toads eat algae and other aquatic plants which they rasp off with five rows of tiny peg-like teeth.
Những con cóc mía con còn là nòng nọc ăn tảo, và những loài thực vật thủy sinh khác, mà được nhai rôm rốp bởi năm hàng móc câu nhỏ xíu- như những chiếc răng.
They also filter organic matter from the water.
Chúng cũng hấp thụ các chất hữu cơ từ nước.
Large tadpoles sometimes eat cane toad eggs.
Những con nòng nọc lớn thi thoảng cũng ăn trứng cóc mía.
Cane toads were introduced to Australia to eat French s Cane Beetle and the Greyback Cane Beetle
Đầu tiên, cóc mía được đưa đến Australia để ăn bọ cánh cứng hại mía thuộc giống Pháp và bọ cánh cứng hại mía lưng xám.
The whitegrub larvae of these beetles eat the roots of sugar cane and kill or stunt the plants.
Những ấu trùng giòi màu trắng của các loài bọ cánh cứng trên ăn rễ cây mía đường và làm chết hay khiến cây trở nên cằn cỗi.
The Australian Bureau of Sugar Experimental Stations imported about a hundred toads from Hawaii to the Meringa Experimental Station near Cairns.
Trạm Thí nghiệm đường thuộc Australia nhập khẩu tầm 100 con cóc từ Hawaii đến Trạm thí nghiệm Meringa gần Cairns.
The toads bred quickly and more than three thousand were released in the sugar cane plantations of north Queensland in July 1935.
Những con cóc này đẻ rất nhanh, và hơn 3000 con đã được thả tự do tại các khu đất trồng mía đường ở phía Bắc Queensland vào tháng Bảy, 1935.
At that time, some naturalists and scientists warned of the dangers of liberating cane toads in Australia.
Tại thời điểm đó, vài nhà tự nhiên học và nhà khoa học đã cảnh báo mối nguy hiểm về việc thả tự do loài cóc mía ở Úc.
Their protests resulted in a brief moratohum on the release of toads, but releases resumed in 1936.
Sự phản đối của họ dẫn đến việc tạm ngừng thả tự do cóc mía trong một thời gian ngắn, nhưng hành động này đã được tiếp tục vào năm 1936.
The protestors were right.
Những người phản đối đã đúng.
Firstly, cane toads compete for the resources of native animals, like food, which affects native populations.
Thứ nhất, cóc mía tranh giành nguồn sống, như thức ăn, với động vật bản địa, gây ảnh hưởng xấu đến số lượng động vật nơi đây.
Secondly, cane toads don't have as many established predators as native animals and so their population grows quickly.
Thứ hai, cóc mía không có nhiều kẻ thù thật sự như động vật bản địa, nên số lượng cóc gia tăng nhanh chóng.
Finally, some native animals who would normally feed on frogs try to eat toads and get poisoned.
Cuối cùng, vài loài động vật bản địa vốn thường ăn ếch, đã cố ăn cóc và bị ngộ độc.
All stages of the cane toad's life-cycle are poisonous.
Trong tất cả những giai đoạn phát triển của cuộc đời, cóc mía đều có khả năng gây độc.
No humans have died in Australia from cane toad poison, but overseas, people have died after eating toads and even soup made from boiled toad eggs.
Không có người nào chết ở Australia vì trúng độc từ cóc mía, nhưng nhiều nước khác đã có người chết sau khi ăn cóc mía, thậm chí là súp được làm từ trứng cóc luộc.
Cane toads are also poisonous to pets
Cóc mía cũng gây độc cho vật nuôi.
In Hawaii, up to fifty dogs a year have died after having cane toads in their mouths.
Ở Hawaii, số lượng chó chết sau khi ngậm cóc mía trong miệng có thể lên đến năm mươi con một năm.
Signs of dogs being poisoned through ingestion include profuse salivation, twitching, vomiting, shallow breathing, and collapse of the hind limbs.
Các dấu hiệu chó bị ngộ độc thông qua đường tiêu hóa bao gồm chảy nhiều nước miếng, co giật, nôn, thở nông, và chân sau rũ xuống.
Death may occur by cardiac arrest within fifteen minutes.
Cái chết có thể đến nếu như tim ngừng đập trong vòng mười lăm phút.
A cane toad responds to threat by turning side-on so its parotoid glands are directed towards the attacker.
Một con cóc mía đáp trả lại với mối đe dọa bằng cách quay người về phía đó để các tuyến nước bọt của nó đối diện thẳng với kẻ tấn công.
The poison usually oozes out of the glands, but toads can squirt a fine spray for a short distance if they want.
Chất độc phun chầm chậm từ tuyến nước bọt, nhưng con cóc có thể bắn ra các tia chất độc có hiệu lực cao trong khoảng cách ngắn nếu nó muốn.
The poison is absorbed through mucous membranes such as eyes, mouth and nose, and in humans may cause intense pain, temporary blindness and inflammation.
Chất độc được hấp thu qua các lớp niêm mạc như mắt, mũi và miệng, và ở con người, nó có thể gây đau đớn dữ dội, mù tạm thời và sưng viêm.

Từ vựng (16)

  • introduce into sth (ˌɪn.trəˈduːs) (ˈɪn.tuː) (sth*) — đưa một vật vào sử dụng lần đầu tiên tại địa điểm nào đó
  • pest (pest) — côn trùng gây hại
  • breed (briːd) — sinh sản
  • predator (ˈpred.ə.t̬ɚ) — kẻ thù của một loài động vật trong thế giới tự nhiên
  • exclusive (ɪkˈskluː.sɪv) — có tính đặc trưng
  • tangle (ˈtæŋ.ɡəl) — cuộn, xoắn
  • tolerate (ˈtɑː.lə.reɪt) — chống chọi
  • coastal (ˈkoʊ.stəl) — thuộc bờ biển
  • larva (ˈlɑːr.və) — ấu trùng
  • warned of sth (wɔːrn) (əv) (sth*) — cảnh báo về cái gì
  • protest (ˈproʊ.test) — phản đối
  • poison (ˈpɔɪ.zən) — gây độc
  • ingestion (ɪnˈʤes.tʃən) — đường tiêu hóa
  • cardiac arrest (ˈkɑːr.di.æk) (əˈrest) — tim ngừng đập
  • blind (blaɪnd) — mù
  • inflammation (ˌɪn.fləˈmeɪ.ʃən) — sưng, viêm