← Danh sách bài đọc
Bài 212

How do we find our way?

Làm thế nào để chúng ta tìm được đường?

A. Most modern navigation, such as the Global Positioning System (GPS), relies primarily on positions determined electronically by receivers collecting information from satellites.
A. Hầu hết các công nghệ định hướng hiện đại, chẳng hạn như Hệ thống định vị toàn cầu (GPS), chủ yếu dựa vào các vị trí được xác định kiểu điện tử bởi các máy thu thu thập thông tin từ vệ tinh.
Yet if the satellite service’s digital maps become even slightly outdated, we can become lost.
Tuy nhiên, nếu bản đồ kỹ thuật số của dịch vụ vệ tinh hơi chậm cập nhật một chút, chúng ta có thể bị lạc.
Then we have to rely on the ancient human skill of navigating in three dimensional space.
Và rồi chúng ta phải dựa vào kỹ năng của con người thời cổ đại là xác định phương hướng trong không gian ba chiều.
Luckily, our biological finder has an important advantage over GPS: we can ask questions of people on the sidewalk, or follow a street that looks familiar, or rely on a navigational rubric.
May mắn thay, công cụ tìm kiếm sinh học của chúng ta có lợi thế quan trọng so với GPS: chúng ta có thể hỏi người trên vỉa hè hoặc đi theo một con phố có vẻ quen thuộc hoặc dựa vào biển chỉ đường.
The human positioning system is flexible and capable of learning.
Hệ thống định vị của con người linh hoạt và khả năng lĩnh hội là khá tốt.
Anyone who knows the way from point A to point B-and from A to C-can probably figure out how to get from B to C, too.
Bất cứ ai biết đường từ điểm A đến điểm B - và từ A đến C - có lẽ cũng có thể tìm ra cách đi từ B đến C.
B. But how does this complex cognitive system really work?
B. Nhưng làm thế nào để hệ thống nhận thức phức tạp này thực sự hoạt động?
Researchers are looking at several strategies people use to orient themselves in space: guidance, path integration and route following.
Các nhà nghiên cứu đang xem xét một số chiến lược mà con người sử dụng để xác định phương hướng trong không gian: hướng dẫn, tích hợp đường dẫn và đi theo lộ trình.
We may use all three or combinations thereof, and as experts learn more about these navigational skills, they are making the case that our abilities may underlie our powers of memory and logical thinking.
Chúng ta có thể sử dụng cả ba hoặc kết hợp chúng lại, và khi các chuyên gia tìm hiểu thêm về các kỹ năng định hướng này, họ cho rằng khả năng của con người có thể làm nền tảng cho sức mạnh của trí nhớ và tư duy logic của chúng ta.
For example, you come to New York City for the first time and you get off the train at Grand Central Terminal in midtown Manhattan.
Ví dụ, bạn đến Thành phố New York lần đầu tiên và bạn xuống tàu tại Nhà ga Trung tâm Grand ở trung tâm Manhattan.
You have a few hours to see popular spots you have been told about: Rockefeller Center, Central Park, and the Metropolitan Museum of Art.
Bạn có một vài giờ để thăm thú các địa điểm nổi tiếng mà bạn đã được nghe kể về: Trung tâm Rockefeller, Công viên Trung tâm và Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan.
You meander in and out of shops along the way.
Bạn lượn lờ trong và ngoài các cửa hàng trên đường đi.
Suddenly, it is time to get back to the station.
Đột nhiên, đã đến lúc quay trở lại nhà ga.
But how?
Nhưng bằng cách nào?
C. If you ask passersby for help, most likely you will receive information in many different forms.
C. Nếu bạn nhờ người qua đường giúp đỡ, rất có thể bạn sẽ nhận được thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau.
A person who orients herself by a prominent landmark would gesture southward: “Look down there. See the tall, broad MetLife Building? Head for that - the station is right below it.”
Một người tìm đường bằng một cột mốc nổi bật sẽ chỉ về phía nam: "Nhìn xuôi xuống mé này, bạn có thấy Tòa nhà MetLife cao rộng kia không? Đi về phía đó - nhà ga ở ngay bên dưới nó.”
Neurologists call this navigational approach “guidance”, meaning that a landmark visible from a distance serves as the marker for one’s destination.
Các nhà thần kinh học gọi cách định hướng này là "hướng dẫn", có nghĩa là một mốc có thể nhìn thấy từ xa đóng vai trò là điểm đánh dấu cho điểm đến của một người.
D. Another city dweller might say: “What places do you remember passing?
D. Một cư dân khác trong thành phố có thể nói: “Bạn nhớ mình đã đi qua những nơi nào?
… Okay. Go toward the end of Central Park, then walk down to St. Patrick’s Cathedral.
... Ok. Đi về phía cuối Công viên Trung tâm, sau đó đi bộ xuống Nhà thờ St. Patrick.
A few more blocks, and Grand Central will be off to your left.”
Một vài dãy nhà nữa, và Grand Central sẽ nằm ở phía bên trái của bạn.”
In this case, you are pointed toward the most recent place you recall, and you aim for it.
Trong trường hợp này, bạn được chỉ đến địa điểm gần đây nhất mà bạn nhớ lại và bạn cứ thế mà đi theo.
Once there you head for the next notable place and so on, retracing your path.
Khi đến đó, bạn tiếp tục đi đến địa điểm đáng chú ý tiếp theo, v.v., hãy thử nhớ lại đường đi của bạn.
Your brain is adding together the individual legs of your trek into a cumulative progress report.
Bộ não của bạn đang kết hợp các chặng riêng lẻ trong chuyến đi của bạn thành một báo cáo tiến độ dạng tích lũy.
Researchers call this strategy “path integration.”
Các nhà nghiên cứu gọi chiến lược này là “tích hợp đường dẫn”.
Many animals rely primarily on path integration to get around, including insects, spiders, crabs and rodents.
Nhiều loài động vật chủ yếu dựa vào sự tích hợp đường đi để đi lại, bao gồm côn trùng, nhện, cua và động vật gặm nhấm.
The desert ants of the genus Cataglyphis employ this method to return from foraging as far as 100 yards away.
Kiến sa mạc thuộc chi Cataglyphis sử dụng phương pháp này để quay trở lại sau khi đi kiếm ăn cách xa 100 thước.
They note the general direction they came from and retrace their steps, using the polarization of sunlight to orient themselves even under overcast skies.
Chúng ghi nhớ hướng chung mà chúng đến và tìm lại các bước đi, sử dụng sự phân cực của ánh sáng mặt trời để tự định hướng ngay cả dưới bầu trời u ám.
On their way back they are faithful to this inner homing vector.
Trên đường trở về, chúng trung thành với véc tơ về nhà trong đầu.
Even when a scientist picks up an ant and puts it in a totally different spot, the insect stubbornly proceeds in the originally determined direction until it has gone “back” all of the distance it wandered from its nest.
Ngay cả khi một nhà khoa học nhặt một con kiến và đặt nó ở một vị trí hoàn toàn khác, con côn trùng vẫn ngoan cố tiến theo hướng đã xác định ban đầu cho đến khi nó “quay lại” hết quãng đường mà nó đã lang thang khỏi tổ của mình.
Only then does the ant realize it has not succeeded, and it begins to walk in successively larger loops to find its way home.
Sau đó con kiến mới nhận ra nó đã đi sai đường, và nó bắt đầu đi theo những vòng lớn hơn liên tiếp để tìm đường về nhà.
E. Whether it is trying to get back to the anthill or the train station, any animal using path integration must keep track of its own movements so it knows, while returning, which segments it has already completed.
E. Cho dù là đang cố gắng quay trở lại ổ kiến hay nhà ga xe lửa, bất kỳ con vật nào sử dụng tích hợp đường đi đều phải theo dõi chuyển động của chính nó để nó biết, trong khi quay lại, chúng đã hoàn thành phân đoạn nào.
As you move, your brain gathers data from your environment-sights, sounds, smells, lighting, muscle contractions, a sense of time passing-to determine which way your body has gone.
Khi bạn di chuyển, bộ não của bạn thu thập dữ liệu từ môi trường xung quanh, âm thanh, mùi, ánh sáng, sự co cơ, cảm giác thời gian trôi qua để xác định con đường mà cơ thể bạn đã đi.
The church spire, the sizzling sausages on that vendor’s grill, the open courtyard, and the train station-all represent snapshots of memorable junctures during your journey.
Ngọn tháp nhà thờ, những chiếc xúc xích nóng hổi trên vỉ nướng của người bán hàng đó, sân lộ thiên và ga xe lửa - tất cả đều thể hiện những bức ảnh chụp nhanh những khoảnh khắc đáng nhớ trong chuyến hành trình của bạn.
F. In addition to guidance and path integration, we use a third method for finding our way.
F. Ngoài hướng dẫn và tích hợp đường dẫn, chúng ta sử dụng phương pháp thứ ba để tìm đường.
An office worker you approach for help on a Manhattan street comer might say: “Walk straight down Fifth, turn left on 47th, turn right on Park, go through the walkway under the Helmsley Building, then cross the street to the MetLife Building into Grand Central.”
Một nhân viên văn phòng mà bạn đến nhờ giúp đỡ trên góc phố Manhattan nọ có thể nói: “Đi thẳng xuống số 5, rẽ trái vào số 47, rẽ phải vào Công viên, đi qua lối đi bộ dưới Tòa nhà Helmsley, sau đó băng qua đường tới Tòa nhà MetLife vào Grand Trung tâm."
This strategy, called route following, uses landmarks such as buildings and street names, plus directions straight, turn, go through—for reaching intermediate points.
Chiến lược này, được gọi là đi theo lộ trình, sử dụng các điểm mốc như tòa nhà và tên đường phố, cùng với chỉ đường đi thẳng, rẽ, đi qua — để đến các điểm trung gian.
Route following is more precise than guidance or path integration, but if you forget the details and take a wrong turn, the only way to recover is to backtrack until you reach a familiar spot, because you do not know the general direction or have a reference landmark for your goal.
Đi theo lộ trình chính xác hơn hướng dẫn hoặc tích hợp đường dẫn, nhưng nếu bạn quên chi tiết và rẽ nhầm, cách duy nhất để khôi phục là quay lại cho đến khi bạn đến một điểm quen thuộc, vì bạn không biết hướng chung hoặc không có mốc nào tham khảo để tới đích.
The route following navigation strategy truly challenges the brain.
Việc đi theo lộ trình thực sự thách thức não bộ.
We have to keep all the landmarks and intermediate directions in our head.
Chúng ta phải ghi nhớ tất cả các điểm mốc và các hướng trung gian trong đầu.
It is the most detailed and therefore most reliable method, but it can be undone by routine memory lapses.
Đây là phương pháp chi tiết nhất và do đó đáng tin cậy nhất, nhưng nó có thể vô hiệu do một chút sao nhãng trong trí nhớ về đường đi.
With path integration, our cognitive memory is less burdened; it has to deal with only a few general instructions and the homing vector.
Với tích hợp đường dẫn, trí nhớ nhận thức của chúng ta ít bị gánh nặng hơn; nó chỉ phải xử lý một số chỉ dẫn chung và véc tơ về nhà.
Path integration works because it relies most fundamentally on our knowledge of our body’s general direction of movement, and we always have access to these inputs.
Tích hợp đường dẫn hiệu quả bởi vì nó phụ thuộc cơ bản nhất vào kiến thức về hướng di chuyển chung của cơ thể chúng ta và chúng ta luôn có thể tiếp cận những thông tin đầu vào này.
Nevertheless, people often choose to give route-following directions, in part because saying “Go straight that way!” just does not work in our complex, man made surroundings.
Tuy nhiên, mọi người thường chọn đi theo lộ trình, một phần vì câu cửa miệng "Cứ đi thẳng đường này là tới!" không hiệu quả trong môi trường xung quanh phức tạp do con người tạo ra.
G. Road Map or Metaphor?
G. Bản đồ đường đi hay phép ẩn dụ?
On your next visit to Manhattan you will rely on your memory to get present geographic information for convenient visual obviously seductive: maps around.
Trong chuyến thăm tiếp theo của bạn đến Manhattan, bạn sẽ dựa vào trí nhớ của mình để đi quanh thành phố.
Most likely you will use guidance, path integration and route following in various combinations.
Nhiều khả năng khi đó bạn sẽ kết hợp đủ cách: hướng dẫn, tích hợp đường dẫn và đi theo lộ trình.
But how exactly do these constructs deliver concrete directions?
Nhưng chính xác thì những phương pháp này mang chỉ đường cụ thể thế nào?
Do we humans have, as an image of the real world, a kind of road map in our heads?
Liệu con người chúng ta có một loại bản đồ đường đi trong đầu, dạng như một hình ảnh của thế giới thực không?
Neurobiologists and cognitive psychologists do call the portion of our memory that controls navigation a “cognitive map”.
Các nhà sinh học thần kinh và nhà tâm lý học nhận thức gọi phần bộ nhớ của chúng ta điều khiển định hướng là "bản đồ nhận thức".
The map metaphor is the easiest way to inspection.
Phép ẩn dụ bản đồ là cách dễ nhất để kiểm tra.

Từ vựng (21)

  • outdated (ˌaʊtˈdeɪ.t̬ɪd) — lỗi thời
  • three dimensional space (θriː) (dɪˈmen.ʃən.əl) (speɪs) — không gian ba chiều
  • rubric (ˈruː.brɪk) — phiếu đánh giá
  • meander (miˈæn.dɚ) — lượn lờ
  • passersby (ˈpæsɝzbi) — người qua đường
  • gesture (ˈdʒes.tʃɚ) — chỉ
  • cumulative (ˈkjuː.mjə.lə.t̬ɪv) — tích lũy
  • rodents (ˈɹoʊdənts) — động vật gặm nhấm
  • yards (ˈjɑɹdz) — thước
  • polarization (ˌpoʊ.lɚ.əˈzeɪ.ʃən) — sự phân cực
  • overcast skies (ˈoʊ.vɚ.kæst) (ˈskaɪz) — bầu trời u ám
  • anthill (ˈænt.hɪl) — ổ kiến
  • segments (ˈsɛɡmənts, ˌsɛɡˈmɛnts) — phân đoạn
  • sizzling (ˈsɪz.əl.ɪŋ) — nóng hổi
  • open courtyard (ˈoʊ.pən) (ˈkɔːrt.jɑːrd) — sân lộ thiên
  • snapshots (ˈsnæpˌʃɑts) — bức ảnh chụp nhanh
  • junctures (ˈdʒəŋktʃɝz) — khoảnh khắc
  • seductive (səˈdʌk.tɪv) — quyến rũ
  • concrete (ˈkɑːn.kriːt) — cụ thể
  • inspection (ɪnˈspek.ʃən) — kiểm tra
  • hierarchical (ˌhaɪˈrɑːr.kɪ.kəl) — phân cấp