← Danh sách bài đọc
Bài 214

Researcher on the Tree Crown

Nghiên cứu về vòm cây

The forest canopy – the term given to the aggregated crowns of trees in a forest – is thought to host up to 40 per cent of all species, of which ten per cent could be unique to the forest roof.
Tán rừng - thuật ngữ chỉ các tán cây trong rừng - được cho là nơi ở của 40% tất cả các loài sinh vật, trong đó 10% chỉ sống trên “mái” rừng.
“We’re dealing with the richest, least known, most threatened habitat on Earth,” says Andrew Mitchell, the executive director of the Global Canopy Programme (GCP), a collection of groups undertaking research into this lofty world.
Andrew Mitchell, giám đốc điều hành của Global Canopy Programme (GCP) - nơi tập hợp các nhóm thực hiện nghiên cứu về thế giới “đồ sộ” này, ông cho biết: “Chúng tôi đang nghiên cứu về một môi trường sống đa dạng nhất, ít được biết đến nhất và cũng là môi trường sống bị đe dọa nhiều nhất trên Trái đất.
“The problem with our understanding of forests is that nearly all the information we have has been gleaned from just two meters above the soil, and yet we’re dealing with trees that grow to heights of 60 meters, or in the case of the tallest redwood 112 meters.
“ Một vấn đề liên quan đến lượng thông tin về rừng mà chúng tôi có được, đó là gần như tất cả chỉ được thu thập từ hai mét trên mặt đất, trong khi chúng tôi đang cần phải nghiên cứu với những cây có độ cao 60 mét, hoặc như trường hợp cây gỗ đỏ cao nhất là 112 mét.
It’s like doctors trying to treat humans by only looking at their feet.” Tropical rainforest comprises the richest of ecosystems, rivalled only by coral reel for its diversity and complex interrelationships.
Nó giống như việc các bác sĩ đang cố gắng trị bệnh chỉ bằng cách nhìn vào chân của bệnh nhân vậy”. Rừng mưa nhiệt đới bao gồm các hệ sinh thái phong phú nhất, đến mức chỉ có san hô mới có thể sánh ngang với sự đa dạng và mối quan hệ chồng chéo giữa các loài.
And a great deal of that diversity lives up in the canopy – an estimated 70-90 per cent of life in the rainforest exists in the trees; one in ten of all vascular plants are canopy dwellers, and about 20-25 per cent of all invertebrates are thought to be unique to the canopy. The first Briton to actually get into the canopy may have been Sir Francis Drake who, in 1573, gained his first glimpse of the Pacific Ocean from a tall tree in Darien, Panama.
Và phần lớn sự phong phú đó đều nằm dưới tán rừng - ước tính có khoảng 70-90% sinh vật sống ở rừng nhiệt đới đều sống trên cây; 1/10 thực vật có mạch sống dưới tán rừng, và khoảng 20-25% động vật không xương sống được cho là chỉ sống ở tán rừng. Người Anh đầu tiên tiếp cận được tán cây có lẽ là Sir Francis Drake, vào năm 1573, ông đã có được cái nhìn đầu tiên về Thái Bình Dương từ một cây cao ở Darien, Panama.
However, the first serious effort to reach and study the canopy didn’t begin until 1929.
Tuy nhiên, nỗ lực đầu tiên để tiếp cận và nghiên cứu tán cây đã không được thực hiện mãi cho đến năm 1929.
The Oxford University Expedition to British Guiana, led by Major RWG Hingston, still ended up help of locals when it came to building an observation platform.
Đoàn thám hiểm Đại học Oxford đến British Guiana, do Thiếu tá RWG Hingston dẫn đầu, cuối cùng vẫn phải nhờ đến sự giúp đỡ của người dân địa phương để xây dựng một đài quan sát.
It was a successful expedition all the same, despite the colony’s acting governor getting stuck high up on a winched seat during a visit.
Dù sao đó cũng là một chuyến thám hiểm thành công, mặc dù trong suốt chuyến đi, quyền thống đốc của thuộc địa lại giống như một chiếc ghế bị treo lủng lẳng trên cao.
In terms of canopy access, the French have proved themselves to be excellent innovators, taking things further with the development of ‘lighter-than-air platforms -balloons and related equipment, to you and me.
Về khả năng tiếp cận tán rừng, người Pháp đã chứng minh được mình là những nhà cải tiến xuất sắc, họ đã đưa mọi thứ vượt xa với sự phát triển của các loại hình ‘nhẹ hơn không khí-bóng bay và các loại hình có liên quan khác.
Francis Halle; from the Laboratoire de Botanique Tropicale at Montpellier University took to a balloon in the mid-1980s in order to approach the canopy from above.
Francis Halle; từ Laboratoire de Botanique Tropicale tại Đại học Montpellier đã đi lên khinh khí cầu giữa những năm 1980 để có thể tiếp cận được tán rừng từ trên cao.
His work in French Guiana was inspired by the use in Gabon of a tethered helium balloon by Marcel and Annette Hladick.
Công trình của ông ở Guiana, Pháp được lấy cảm hứng từ việc sử dụng khinh khí cầu heli có dây buộc của Marcel và Annette Hladick ở Gabon.
Halle went one further by using a small purpose-built airship-a cigar-shaped balloon with propellers to aid manoeuvrability.
Halle đã phát triển thêm bằng cách sử dụng một khí cầu nhỏ được tạo ra cho mục đích riêng - là một khinh khí cầu được thiết kế giống một điếu xì gà với các cánh quạt hỗ trợ khả năng cơ động.
“We suddenly had a mobile system that could move around the treetops; there were no other means of doing this,” says Mitchell. From this, two balloon-dependent features have developed: the radeau or raft, and the luge or sledge.
“ Trước đây chúng ta không có bất kỳ một phương án nào, vậy mà giờ đây, bỗng nhiên chúng ta lại có một hệ thống di động có thể bay quanh các ngọn cây”, Mitchell cho hay. Từ đó, hai yếu tố luôn đi theo khinh khí cầu đã phát triển thành: radeau (tiếng Pháp) hay được gọi là “tấm bè”, và “tấm lưới vây”.
The raft is a ‘floating’ platform, employed by French academics Dany Cleyet-Marrel and Laurent Pyot and is essentially an island in the treetops.
“Tấm bè” giống như một “ván nổi”, được sử dụng bởi các **nhà nghiên cứu** người Pháp là Dany Cleyet-Marrel và Laurent Pyot, và về cơ bản nó như một “hòn đảo” trên những ngọn cây.
Made of kevlar mesh netting and edged with inflated neoprene tubes, it rests on top of the canopy, allowing sampling (mostly of plants and insects) to take place at the edges of the platform, and can stay in position for several days.
Được làm bằng lưới chất liệu lưới kevlar và những đường khung được viền bằng ống neoprene được bơm phồng, chúng nằm trên đỉnh của những tán cây, hỗ trợ việc lấy mẫu (chủ yếu là thực vật và côn trùng) xung quanh đường viền, và “tấm bè” này có thể được đặt trên tán cây trong nhiều ngày.
The luge, on the other hand, is an inflated hexagon similar to a traditional balloon basket but with a hole in the bottom covered with Kevlar mesh.
Mặt khác, “tấm lưới vây” có hình lục giác giống như một chiếc giỏ được bơm bằng khí như những bóng bay thông thường, và ở đáy “giỏ” có một khoảng trống được phủ bằng lưới Kevlar.
Such techniques aren’t without their problems, however, “balloons can cover larger areas, especially for collection purposes, but they are extremely expensive- Jibe raft alone cost 122,000 [euro] (86,000 [pounds sterling]) in 2001], but very effective because you can only reach the tops of the trees, and are highly dependent on the weather, ” says Dr Wilfried Morawetz, director of systematic botany at the University of Leipzig.
Tuy nhiên, những kỹ thuật như thế lại tồn tại một số vấn đề, “những “tấm bè” được bơm bằng khí có thể bao phủ các khu vực rộng lớn, đặc biệt là cho mục đích thu thập lấy mẫu, nhưng chúng lại cực kỳ đắt đỏ - chỉ riêng “tấm bè” Jibe đã có giá tới 122.000 [euro] (86.000 [bảng Anh]) vào năm 2001], nhưng nó lại rất hiệu quả bởi vì chúng ta có thể chỉ cần tiếp xúc với các ngọn cây, và một vấn đề nữa là “tấm bè” phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, ”Tiến sĩ Wilfried Morawetz, giám đốc thực vật học có trụ sở tại Đại học Leipzig cho biết.
“Balloons can usually only be used in the early morning for two to four hours.
“Tấm bè” được bơm bằng khí thường chỉ có thể sử dụng vào sáng sớm, kéo dài khoảng 2 đến 4 giờ đồng hồ.
Last time, we could only fly three times during the whole week.”
Lần trước, nguyên cả tuần chúng tôi chỉ được bay lên được ba chuyến ”.
Given these factors, it comes as no surprise that operations involving these balloons numbered just six between 1986 and 2001. Smithsonian Tropical Research Institute in Panama.
Với những lý do như vậy, thì không gì quá ngạc nhiên khi các hoạt động liên quan đến những quả khinh khí cầu như thế này, chỉ được thực hiện vỏn vẹn đến sáu lần từ năm 1986 đến 2001. Tại viện nghiên cứu nhiệt đới Smithsonian ở Panama.
Smith had the idea of using a static crane to get into the treetops.
Smith đã có ý tưởng rằng sẽ sử dụng một cần trục tháp cố định để đi lên các ngọn cây.
Un-tethered balloons may allow widely distributed sites to be sampled, but cranes allow scientists to study an area of at least a hectare from soil to canopy throughout the year, year after year.
Những “tấm bè” không có điểm đặt cố định nào, có thể giúp lấy mẫu ở nhiều địa điểm được trải dài rộng khắp, nhưng đối với cần trục tháp lại có thể giúp các nhà khoa học nghiên cứu trong phạm vi ít nhất là một héc-ta, tính từ đất đến tán cây, trong suốt cả năm, hay thậm chí là năm này qua năm khác.
“Cranes beat any other access mode.
“Cần trục tháp có thể đánh bại bất kỳ loại mô hình tiếp cận tán rừng nào.
They are cheap, reliable and fast.
Chúng có chi phí rẻ, đáng tin cậy và nhanh chóng.
In two minutes I can reach any point in our forest, which is essential for comparative measurements across species,” says Professor Christian Korner of the University of Basel.
Trong hai phút, tôi có thể đến bất kỳ điểm nào trong khu rừng, điều này là rất cần thiết cho những tính toán so sánh giữa các loài, ”Giáo sư Christian Korner của Đại học Basel cho biết.
Korner is using a static crane in a unique carbon dioxide-enrichment experiment in Switzerland, in an attempt to discover how forests might respond to the global increase in atmospheric carbon dioxide (see Swiss canopy-crane carbon experiment, right).
Korner đang sử dụng một cần trục tháp cố định trong một thí nghiệm làm giàu khí CO2 ở Thụy Sĩ, trong nỗ lực khám phá cách rừng phản ứng lại với sự gia tăng CO2 toàn cầu trong khí quyển (như cuộc thực nghiệm carbon trên trục tháp - tán rừng ở Thụy Sĩ).
For reasons of convenience, cranes are generally situated close to cities or a research center.
Để thuận tiện hơn, cần trục thường được đặt ở gần các thành phố hoặc trung tâm nghiên cứu.
Leipzig University has a crane not far from the town, the Location allowing scientists to study the effect of city pollutants on forests.
Đại học Leipzig có một trục tháp cách thị trấn không xa, với vị trí này, nó giúp những nhà khoa học có thể nghiên cứu về những tác động của chất ô nhiễm của thành phố lên rừng.
In order to increase the amount of canopy a crane can access, some have been mounted on short rail tracks.
Để mở rộng phạm vi tán rừng mà cần trục có thể tiếp cận được, một số cần trục đã được gắn trên các ray ngắn.
In “1995, Dr Wilfried Morawetz was the first to use this technique, installing a crane on 150 meters of track in the Venezuelan rainforest.
Năm 1995, Tiến sĩ Wilfried Morawetz là người đầu tiên sử dụng kỹ thuật này, ông lắp đặt một cần trục trên ray dài 150 mét trong rừng nhiệt đới Venezuela.
“In my opinion, cranes should be the core of canopy research in the future,” he says. It appears that the rest of the scientific community has now come around to Mitchell’s way of thinking.
Ông cho hay: “Theo ý kiến của tôi, cần trục sẽ là yếu tố cốt lõi của nghiên cứu tán rừng trong tương lai. Có vẻ như giờ đây cộng đồng khoa học đã bắt kịp được cách suy nghĩ của Mitchell.
“I think most scientists thought him mad to consider such a complex field station at first,” says internationally respected ‘canopist’ Meg Lowman, the executive director of the Marie Selby Botanical Gardens.
“Tôi nghĩ rằng, ban đầu, hầu hết các nhà khoa học đều nghĩ ông ấy thật điên rồ khi cân nhắc tạo ra một trạm nghiên cứu phức tạp như vậy,” Meg Lowman, giám đốc điều hành của Vườn bách thảo Marie Selby, cho biết.
“However, we’ve all come to realize that a combination of methods, a long-term approach to ecological studies and a collaborative approach are the absolute best ways to advance canopy science.
“Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều nhận ra rằng sự kết hợp giữa các phương pháp, những nghiên cứu về sinh thái trong thời gian dài và cách tiếp cận được tạo ra từ sự hợp tác từ nhiều lĩnh vực, là cách tốt nhất để phát triển khoa học về tán rừng.
A permanent canopy field station would allow that to happen.”
Một trạm nghiên cứu tán rừng cố định sẽ giúp cho điều đó trở thành hiện thực.
With a dedicated group of canopy scientists working together and a wide range of tools available for them to get into the treetops, we’re now finally on our way towards a true understanding of the least-known terrestrial habitat..
” Với một nhóm chuyên biệt gồm các nhà khoa học có chuyên môn về tán rừng sẽ làm việc với nhau, cùng với các công cụ sẵn có để giúp họ tiếp cận được vào các ngọn cây, để rồi cuối cùng chúng ta cũng đang trên con đường tìm hiểu về môi trường sống trên cạn ít được biết đến nhất..

Từ vựng (8)

  • canopy (ˈkæn.ə.pi) — Tán rừng/ tán cây
  • vascular plants (ˈvæs.kjə.lɚ) (ˈpɫænts) — thực vật có mạch
  • invertebrate (ɪnˈvɝː.t̬ə.brət) — động vật không xương sống
  • expedition (ˌek.spəˈdɪʃ.ən) — cuộc thám hiểm
  • mesh (meʃ) — lưới
  • crane (kreɪn) — cần trục
  • mount (verb) (maʊnt) (vɝːb) — gắn/ lắp
  • the terrestrial habitat (ðə) (təˈres.tri.əl) (ˈhæb.ə.tæt) — môi trường sống trên cạn