← Danh sách bài đọc
Bài 217
Inside the mind of a fan: How watching sport affects the brain
Trong tâm trí của một người hâm mộ: Xem thể thao ảnh hưởng đến não bộ như thế nào?
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Inside the mind of a fan: How watching sport affects the brain?
Trong tâm trí của một người hâm mộ: Xem thể thao ảnh hưởng đến não bộ như thế nào?
At about the same time that the poet Homer invented the epic here, the ancient Greeks started a festival in which men competed in a single race, about 200 metres long.
Vào cùng khoảng thời gian nhà thơ Homer sáng tạo nên các trang sử thi hào hùng, người dân Hy Lạp cổ đại đã bắt đầu tổ chức một lễ hội - nơi những người đàn ông thi đấu với nhau trong một cuộc chạy đua dài khoảng 200 mét.
Through the ancient sprint remains, today the Olympics are far more than that.
Trải qua những Dấu tích còn xót lại của cuộc đua nước rút từ xa xưa, Thế vận hội ngày nay còn hơn thế nữa.
Indeed, the Games seem to celebrate the dream of progress as embodied in the human form.
Thật vậy, Thế vận hội dường như trở thành nơi tôn vinh các giấc mơ tiến bộ mà con người chính là hiện thân của nó.
That the Games are intoxicating to watch is beyond question.
Việc các trò chơi ngày càng trở nên hấp dẫn là điều không thể bàn cãi.
During the Athens Olympics in 2004, 3.4 billion people, half the world, watched them on television. Certainly, being a spectator is a thrilling experience: but why?
Trong Thế vận hội Athens năm 2004, 3,4 tỷ người- một nửa thế giới - đã xem chương trình này trên truyền hình. Chắc chắn, trở thành một khán giả của chương trình cũng là một trải nghiệm ly kỳ: nhưng tại sao lại như vậy?
In 1996, three Italian neuroscientists, Giacomo Rizzolatti, Leonardo Forgassi and Vittorio Gallese, examined the premotor cortex of monkeys.
Vào năm 1996, ba nhà thần kinh học người Ý bao gồm Giacomo Rizzolatti, Leonardo Forgassi và Vittorio Gallese, đã kiểm tra thùy trán của loài khỉ.
The discovered that inside these primate brains there were groups of cells that ‘store vocabularies of motor actions’. Just as there are grammars of movement.
Họ đã phát hiện ra rằng bên trong bộ não của loài linh trưởng này có các nhóm tế bào "lưu trữ các từ vựng về các hoạt động vận động". Cũng như các cụm ngữ pháp về chuyển động.
These networks of cells are the bodily ‘sentences’ we use every day, the ones our brain has chosen to retain and refine.
Những mạng lưới tế bào này là những 'câu' thuộc về thân thể mà chúng ta sử dụng hàng ngày, cũng là những ‘câu’ mà não bộ chúng ta lựa chọn giữ lại và tinh chỉnh.
Think, for example, about a golf swing.
Ví dụ, hãy nghĩ về một cú đánh golf.
To those who have only watched the Master’s Tournament on TV, golfing seems easy.
Đối với những người chỉ xem giải đấu Master’s Tournament trên TV thì chơi gôn có vẻ là một việc dễ dàng.
To the novice, however, the skill of casting a smooth arc with a lop-side metal stick is virtually impossible.
Tuy nhiên, đối với những người mới làm quen, kỹ năng đúc một vòng cung mượt mà bằng một thanh kim loại không đối xứng hầu như là một điều không thể.
This is because most novices swing with their consciousness, using an area of brain next to the premotor cortex.
Điều này là do hầu hết những người mới tập chơi phải xoay sở với ý thức của họ, sử dụng một vùng não bên cạnh vỏ não trước.
To the expert, on the other hand, a perfectly balanced stroke is second nature.
Mặt khác, đối với chuyên gia, một cú đánh cân bằng hoàn hảo nằm ở bản năng thứ hai của họ.
For him, the motor action has become memorized, and the movements are embedded in the neurons of his premotor cortex.
Đối với một vận động viên chuyên nghiệp, các hành động vận động đã được ghi nhớ, và các chuyển động đã được gắn vào các tế bào thần kinh ở vỏ não trước của anh ta.
He hits the ball with the tranquility of his perfected autopilot.
Anh ta đánh trái bóng trong sự yên tĩnh của cơ chế lái tự động đã hoàn thiện của mình.
These neurons in the premotor cortex, besides explaining why certain athletes seem to possess almost unbelievable levels of skill, have an even more amazing characteristic, one that caused Rizzolatti, Fogassi and Gallese to give them the lofty title ‘mirror neurons’.
Những tế bào thần kinh ở phần thùy trán, ngoài việc giải thích lý do tại sao một số vận động viên dường như sở hữu các kỹ năng ở mức độ gần như không thể tin được, nó còn có một đặc điểm đáng kinh ngạc hơn, một đặc điểm khiến cả ba nhà thần kinh học Rizzolatti, Fogassi và Gallese đặt cho chúng danh hiệu cao cả là 'tế bào thần kinh phản chiếu ( gương).’
They note, The main functional characteristic of mirror neurons is that they become active both when the monkey performs a particular action (for example, grasping an object or holding it) and, astonishingly, when it sees another individual performing a similar action.’
Họ đã ghi chú rằng “Đặc điểm chức năng chính của các tế bào thần kinh phản chiếu là chúng trở nên hoạt động ngay cả khi con khỉ thực hiện một hành động cụ thể (ví dụ: nắm hoặc giữ một vật thể) và khi nó nhìn thấy một cá thể khác thực hiện một hành động tương tự. "
Humans have an even more elaborate mirror neuron system. These peculiar cells mirror, inside the brain, the outside world: they enable us to internalize the actions of another.
Con người có một hệ thống neuron phản chiếu thậm chí còn phức tạp hơn. Những tế bào đặc biệt này như tấm gương phản chiếu thế giới bên ngoài vào trong não bộ: chúng cho phép chúng ta hiểu được hành động của người khác.
In order to be activated, though, these cells require what the scientists call ‘goal-orientated movements’.
Để được kích hoạt, các tế bào này cần cái mà các nhà khoa học gọi là 'chuyển động hướng đến mục tiêu'.
If we are staring at a photograph, a fixed image of a runner mid-stride, our mirror neurons are totally silent.
Nếu chúng ta đang nhìn chằm chằm vào một bức ảnh, hay một hình ảnh cố định của một vận động viên chạy bộ đang sải bước thì các tế bào thần kinh phản chiếu của chúng ta hoàn toàn im lặng.
They only fire when the runner is active: running, moving or sprinting.
Chúng chỉ được kích hoạt khi người chạy đang hoạt động: chạy, di chuyển hoặc chạy nước rút.
What these electrophysiological studies indicate is that when we watch a golfer or a runner in action, the mirror neurons in our own premotor cortex light up as if we were the ones competing.
Điều mà các nghiên cứu về điện sinh lý này chỉ ra là khi chúng ta quan sát một vận động viên chơi golf hoặc một vận động viên chạy bộ, các tế bào thần kinh phản chiếu trong thùy trán vận động của chúng ta sáng lên như thể chúng ta là những người đang thi đấu.
This phenomenon of neural mirror was first discovered in 1954, when two French physiologists, Gastaut and Berf, found that the brains of humans vibrate with two distinct wavelengths, alpha and mu.
Hiện tượng thần kinh phản chiếu này được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1954, khi hai nhà sinh lý học người Pháp - Gastaut và Berf - phát hiện ra rằng bộ não của con người dao động với hai bước sóng riêng biệt, sóng alpha (8 – 13 Hz) và sóng Mu (8-12Hz).
The mu system is involved in neural mirroring.
Hệ thống sóng Mu có liên quan đến phản xạ thần kinh.
It is active when your bodies are still, and disappears whenever we do something active, like playing a sport or changing the TV channel.
Nó hoạt động khi cơ thể bạn đứng yên và biến mất bất cứ khi nào chúng ta hoạt động, chẳng hạn như chơi thể thao hoặc thay đổi kênh TV.
The surprising fact is that the mu signal is also quiet when we watch someone else being active, as on TV, these results are the effect of mirror neurons.
Thực tế đáng ngạc nhiên là tín hiệu sóng Mu cũng im lặng khi chúng ta quan sát người khác đang hoạt động, như trên TV, những kết quả này là tác động của các tế bào thần kinh phản chiếu.
Rizzolatti, Fogassi and Gallese call the idea for mirror neurons the ‘direct matching hypothesis’.
Rizzolatti, Fogassi và Gallese gọi ý tưởng về tế bào thần kinh phản chiếu là "giả thuyết đối sánh trực tiếp".
They believe that we only understand the movement of sports stars when we ‘map the visual representation of the observed action onto our motor representation of the same action’.
Họ tin rằng chúng ta chỉ hiểu được chuyển động của các ngôi sao thể thao khi chúng ta ‘lập bản đồ biểu diễn trực quan của hành động được quan sát khớp với động cơ biểu diễn của cùng hành động đó’.
According to this theory, watching an Olympic athlete ‘causes the motor system of the observer to resonate.
Theo lý thuyết này, việc theo dõi một vận động viên Olympic ‘làm cho hệ thống vận động của người quan sát cộng hưởng’.
The “motor knowledge” of the observer is used to understand the observed action.’
"Kiến thức vận động" của người quan sát được sử dụng để hiểu hành động được quan sát đó.
But mirror neurons are more than just the neural basis for our attitude to sport.
Nhưng các tế bào thần kinh phản chiếu không chỉ là cơ sở thần kinh cho thái độ của chúng ta đối với thể thao.
It turns out that watching a great golfer makes us better golfers, and watching a great sprinter actually makes us run faster.
Nó còn cho thấy rằng xem một vận động viên vĩ đại chơi gôn làm cho chúng ta trở thành những người chơi gôn giỏi hơn, và xem một vận động viên vĩ đại chạy nước rút thực sự khiến chúng ta chạy nhanh hơn.
This ability to learn by watching is a crucial skill.
Khả năng học bằng cách quan sát này là một kỹ năng rất quan trọng.
From the acquisition of language as infants to learning facial expressions, mimesis (copying) is an essential part of being conscious.
Từ việc tiếp thu ngôn ngữ khi còn là trẻ sơ sinh đến học các biểu hiện trên khuôn mặt, bắt chước (sao chép) là một phần thiết yếu của việc có ý thức.
The best athletes are those with a premotor cortex capable of imagining the movements of victory, together with the physical properties to make those movements real.
Những vận động viên giỏi nhất là những vận động viên có vỏ não trước có khả năng tưởng tượng ra những chuyển động của chiến thắng, cùng với những đặc tính vật lý để biến những chuyển động đó thành hiện thực.
But how many of us regularly watch sports in order to be a better athlete? Rather, we watch sport for the feeling, the human drama.
Nhưng có bao nhiêu người trong chúng ta thường xuyên xem thể thao để trở thành một vận động viên giỏi hơn? Đúng hơn, chúng ta xem thể thao đơn giản vì có cảm giác giống như bộ phim tâm lý xã hội.
This feeling also derives from mirror neurons.
Cảm giác này cũng bắt nguồn từ các tế bào thần kinh gương.
By letting spectators share in the motions of victory, they also allow us to share in its feelings.
Bằng cách cho phép các khán giả chia sẻ động lực chiến thắng, chúng cũng cho phép chúng ta chia sẻ cảm xúc của mình.
This is because they are directly connected to the amygdale, one of the main brain regions involved in emotion.
Điều này là do chúng được kết nối trực tiếp với hạch hạnh- amidan, một trong những vùng não chính liên quan đến cảm xúc.
During the Olympics, the mirror neurons of whole nations will be electrically identical, their athletes causing spectators to feel, just for a second or two, the same thing.
Trong thời gian diễn ra Thế vận hội, các neuron phản chiếu của toàn bộ khán giả của các quốc gia sẽ giống hệt nhau về mặt điện sinh lý, các vận động viên của họ khiến khán giả chỉ trong chốc lát cảm thấy những điều giống nhau.
Watching sports brings people together.
Thêm vào đó, xem thể thao còn mang mọi người đến với nhau.
Most of us will never run a mile in under four minutes, or hit a home run.
Hầu hết chúng ta sẽ không bao giờ chạy một dặm trong khoảng thời gian ít hơn 4 phút, hoặc chạy thẳng một mạch ghi bàn.
Our consolation comes in watching, when we gather around the TV, we all feel, just for a moment, what it is to do something perfectly.
Niềm an ủi của chúng ta đến từ việc xem TV, khi chúng ta quây quần bên chiếc TV, tất cả chúng ta đều, chỉ trong chốc lát, làm một điều gì đó hoàn hảo là như thế nào.
Từ vựng (13)
- remains (rɪˈmeɪnz) — Dấu tích
- embody (embody*) — hiện thân
- intoxicate (intoxicate*) — gây mê hoặc
- spectator (spekˈteɪ.t̬ɚ) — khán giả
- premotor cortex (premotor*) (ˈkɔːr.teks) — vỏ não trước
- neuroscientist (neuroscientist*) — nhà thần kinh học
- acquisition (ˌæk.wəˈzɪʃ.ən) — sự tiếp thu
- hypothesis (hypothesis*) — giả thuyết
- mimesis (mɪˈmiː.sɪs) — bắt chước
- identical (aɪˈden.t̬ə.kəl) — giống nhau
- representation (ˌrep.rɪ.zenˈteɪ.ʃən) — biểu diễn, trình bày
- Consolation (ˌkɑːn.səˈleɪ.ʃən) — sự an ủi
- electrophysiological (electrophysiological*) — điện sinh lý