← Danh sách bài đọc
Bài 219

The dugong: sea cow

Dugong: Bò biển

The dugong: sea cow
Dugong: Bộ bò biển
Dugongs are herbivorous mammals that spend their entire lives in the sea.
Bò biển (Dugong) là loài động vật có vú ăn thực vật sống hoàn toàn ở biển.
Their close relatives the manatees also venture into or live in freshwater.
Họ hàng gần nhất của chúng là loài lợn biển (manatee) cũng mạo hiểm đến hoặc sống ở vùng nước ngọt.
Together dugongs and manatees make up the order Sirenia or sea cows, so-named because dugongs and manatees are thought to have given rise to the myth of the mermaids or sirens of the sea.
Bò biển và lợn biển cùng hình thành nên bộ Sirenia hay bộ bò biển, việc đặt tên như vậy bởi lẽ bò biển và lợn biển được cho là đã làm nảy sinh huyền thoại nàng tiên cá hoặc nữ thần biển Siren.
The dugong, which is a large marine mammal which, together with the manatees, looks rather like a cross between a rotund dolphin and a walrus.
Bò biển là loài động vật biển có vú lớn, cùng với lợn biển, trông khá giống con lai giữa con cá heo và con hải mã.
Its body, flippers and fluke resemble those of a dolphin but it has no dorsal fin.
Cơ thể, chân chèo và đuôi của chúng tương tự như của cá heo nhưng chúng không có vây lưng.
Its head looks somewhat like that of a walrus without the long tusks.
Đầu của chúng trông giống như của một con hải cẩu mà không có ngà dài.
Dugongs, along with other Sirenians whose diet consists mainly of sea-grass; and the distribution of Dugongs very closely follows that of these marine flowering plants.
Bò biển, cùng với những loài thuộc bộ bò biển khác có chế độ ăn chủ yếu là cỏ biển, và sự phân bố của bò biển rất chặt chẽ cùng với sự phân bố của các loài thực vật có hoa ở biển.
As seagrasses grow rooted in the sediment, they are limited by the availability of light.
Khi cỏ biển mọc rễ trong lớp trầm tích, khả năng tiếp xúc với ánh sáng của chúng bị hạn chế.
Consequently they are found predominantly in shallow coastal waters, and so too are dugongs.
Vì vậy, chúng chủ yếu được tìm thấy ở các vùng nước nông ven biển, và bò biển cũng vậy.
But, this is not the whole story.
Nhưng, đây không phải là toàn bộ câu chuyện.
Dugongs do not eat all species of seagrass, preferring seagrass of higher nitrogen and lower fibre content.
Bò biển không ăn tất cả các loài cỏ biển, chúng thích cỏ biển chứa hàm lượng nitơ cao hơn và chất xơ thấp hơn.
Due to their poor eyesight, dugongs often use smell to locate edible plants.
Do thị lực hạn chế nên bò biển thường sử dụng khứu giác để định vị các loài thực vật có thể ăn được.
They also have a strong tactile sense, and feel their surroundings with their long sensitive bristles.
Chúng cũng có xúc giác mạnh, và cảm nhận môi trường xung quanh bằng bộ lông dài nhạy cảm của chúng.
They will dig up an entire plant and then shake it to remove the sand before eating it.
Chúng sẽ đào cả cây, sau đó lắc nó để loại bỏ cát trước khi ăn.
They have been known to collect a pile of plants in one area before eating them.
Chúng cũng được biết đến việc thu thập một đống thực vật đến một khu vực trước khi ăn.
The flexible and muscular upper lip is used to dig out the plants.
Môi trên chắc khỏe và linh hoạt được sử dụng để đào cây.
When eating they ingest the whole plant, including the roots, although when this is impossible they will feed on just the leaves.
Khi ăn, chúng ăn cả cây, bao gồm cả rễ, mặc dù khi điều này không thể chúng sẽ chỉ ăn lá.
A wide variety of seagrass has been found in dugong stomach contents, and evidence exists they will eat algae when seagrass is scarce.
Nhiều loài cỏ biển được tìm thấy trong dạ dày của bò biển, và bằng chứng cho thấy rằng chúng sẽ ăn tảo biển khi cỏ biển khan hiếm.
Although almost completely herbivorous, they will occasionally eat invertebrates such as jellyfish, sea squirts, and shellfish.
Mặc dù gần như hoàn toàn là động vật ăn cỏ nhưng chúng thỉnh thoảng sẽ ăn các loài động vật không xương sống như sứa, mực biển, và động vật có vỏ.
A heavily grazed seagrass bed looks like a lawn mown by a drunk.
Một thảm cỏ biển bị gặm nhiều đến nỗi trông giống như một thảm cỏ bị dẫm lên bởi những kẻ say rượu.
Dugongs graze apparently at random within a seagrass bed, their trails meandering in all directions across the bottom.
Bò biển gặm cỏ dường như ngẫu nhiên trong một thảm cỏ biển, những con đường mòn của chúng uốn lượn theo mọi hướng trên khắp mặt đáy.
This is rather an inefficient means of removing seagrass that results in numerous small tufts remaining.
Đây khá là một phương pháp loại bỏ cỏ biển không hiệu quả dẫn đến việc còn sót lại nhiều búi cỏ nhỏ.
And this is where the dugongs derive some advantage from their inefficiency.
Và đây là lúc những con bò biển thu được một vài lợi ích từ sự không hiệu quả này.
The species that recover most quickly from this disturbance, spreading out vegetatively from the remaining tufts, are those that dugongs like to eat.
Những loài hồi phục hầu như nhanh chóng sau sự xáo trốn này, phát tán thực vật từ các búi cỏ còn sót lại, là những loài mà bò biển thích ăn.
In addition, the new growth found in these areas tends to be exactly what hungry dugongs like.
Ngoài ra, sự tăng trưởng mới được tìm thấy ở những khu vực này có xu hướng giống hệt cái mà loài cá nược đói bụng thích.
Dugongs are semi-nomadic, often travelling long distances in search of food, but staying within a certain range their entire life.
Bò biển là loài bán du mục, thường di chuyển một quãng đường dài để tìm kiếm thức ăn, nhưng ở một phạm vi nhất định trong suốt cuộc đời của chúng.
Large numbers often move together from one area to another.
Chúng thường di chuyển với số lượng lớn từ khu vực này sang khu vực khác.
It is thought that these movements are caused by changes in seagrass availability.
Người ta cho rằng những chuyển động này là do sự thay đổi về tính sẵn có của cỏ biển.
Their memory allows them to return to specific points after long travels.
Trí nhớ của họ cho phép học quay trở lại các điểm cụ thể sau những chuyến đi dài.
Dugong movements mostly occur within a localised area of seagrass beds, and animals in the same region show individualistic patterns of movement.
Các hoạt động di chuyển của bò biển chủ yếu xảy ra trong một khu vực địa phương của thảm cỏ biển, và các loài động vật trong cùng khu vực thể hiện các kiểu di chuyển mang tính cá nhân.
Recorded numbers of dugongs are generally believed to be lower than actual numbers, due to a lack of accurate surveys.
Số lượng bò biển ghi nhận thường được cho là thấp hơn số lượng thực tế, do thiếu các cuộc khảo sát chính xác.
Despite this, the dugong population is thought to be shrinking, with a worldwide decline of 20 per cent in the last 90 years.
Bất kể như vậy, số lượng bò biển được cho là đang giảm dần, với mức giảm 20% trên toàn thế giới trong 90 năm qua.
They have disappeared from the waters of Hong Kong, Mauritius, and Taiwan, as well as parts of Cambodia, Japan, the Philippines and Vietnam.
Chúng đã biến mất khỏi vùng biển Hồng Kông, Mauritus, và Đài Loan, cũng như các khu vực của Cam pu chia, Nhật Bản, Phi líp pin, và Việt Nam.
Further disappearances are likely.
Có khả năng sẽ biến mất nhiều hơn thế nữa.
(In the late 1960s, herds of up to 500 dugongs were observed off the coast of East Africa and nearby islands.
Cuối những năm 1960, những đàn bò biển lên tới 500 con đã được nhìn thấy ở ngoài khơi Đông Phi và các đảo lân cận.
However, current populations in this area are extremely small, numbering 50 and below, and it is thought likely they will become extinct.
Tuy nhiên, số lượng hiện tại trong khu vực này cực kỳ ít, chỉ từ 50 con trở xuống, và người ta cho rằng chúng sẽ tuyệt chủng.
The eastern side of the Red Sea is the home of large populations numbering in the hundreds, and similar populations are thought to exist on the western side.
Phía Đông của biển Đỏ là nơi cư trú của các quần thể lớn với số lượng lên tới hàng trăm con, và các quần thể tương tự được cho là tồn tại ở sườn phía Tây.
In the 1980s, it was estimated there could be as many as 4,000 dugongs in the Red Sea.
Vào những năm 1980, theo ước tính có tới khoảng 4.000 con bò biển ở Biển Đỏ.
The Persian Gulf has the second-largest dugong population in the world, inhabiting most of the southern coast, and the current population is believed to be around 7,500.
Vịnh Ba Tư có số lượng bò biển lớn thứ hai thế giới, sinh sống hầu hết ở bờ biển phía Nam, và số lượng hiện tại được cho là khoảng 7.500 con.
Australia is home to the largest population, stretching from Shark Bay in Western Australia to Moreton Bay in Queensland.
Úc là nơi có số lượng bò biển lớn nhất, trải dài từ Vịnh Shark ở Tây Úc đến vịnh Moreton ở Queensland.
The population of Shark Bay is thought to be stable with over 10,000 dugongs).
Số lượng bò biển ở vịnh Shark được cho ở mức ổn định với hơn 10.000 con.
Experience from various parts of northern Australia suggests that Extreme weather such as cyclones and floods can destroy hundreds of square kilometres of seagrass meadows, as well as washing dugongs ashore.
Kinh nghiệm từ nhiều vùng khác nhau của miền bắc Úc cho thấy thời tiết khắc nghiệt như lốc xoáy và lũ lụt có thể phá hủy hàng trăm ki lô mét vuông đồng cỏ biển, cũng như cuốn trôi bò biển vào bờ.
The recovery of seagrass meadows and the spread of seagrass into new areas, or areas where it has been destroyed, can take over a decade.
Việc phục hồi của các đồng cỏ biển và sự lan rộng của cỏ biển sang những khu vực mới, hoặc những khu vực mà nó bị phá hủy, có thể mất hơn một thập kỷ.
For example, about 900 km2 of seagrass was lost in Hervey Bay in 1992, probably because of murky water from flooding of local rivers, and run-off turbulence from a cyclone three weeks later.
Ví dụ, khoảng 900 km2 cỏ biển đã bị thiệt hại ở Vịnh Hervey vào năm 1992, có thể do nước bẩn từ việc ngập lụt của các con sông địa phương, và dòng chảy hỗn loạn từ cơn lốc xoáy ba tuần sau đó.
Such events can cause extensive damage to seagrass communities through severe wave action, shifting sand and reduction in saltiness and light levels.
Những sự việc như vậy có thể gây ra thiệt hại trên diện rộng cho các quần xã cỏ biển thông qua tác động của sóng nghiêm trọng, làm thay đổi cát và sự giảm độ mặn và độ sáng.
Prior to the 1992 floods, the extensive seagrasses in Hervey Bay supported an estimated 1750 dugongs.
Trước trận lụt năm 1992, thảm cỏ biển rộng lớn ở Vịnh Hervey đã hỗ trợ loài bò biển được ước tính khoảng 1750 con.
Eight months after the floods the affected area was estimated to support only about 70 dugongs.
Tám tháng sau những trận lũ lụt, khu vực bị ảnh hưởng được ước tính chỉ còn hỗ trợ khoảng 70 con bò biển.
Most animals presumably survived by moving to neighbouring areas.
Hầu hết các loại động vật đã sống sót có lẽ bằng cách di chuyến đến những vùng lân cận.
However, many died attempting to move to greener pastures, with emaciated carcasses washing up on beaches up to 900km away.
Tuy nhiên, nhiều con đã chết khi cố gắng di chuyển đến những đồng cỏ xanh tươi hơn, với những xác chết gầy mòn trôi dạt vào biển cách xa 900km.

Từ vựng (27)

  • dugong (ˈduːɡɑːŋ) — bò biển (cá cúi)
  • herbivorous (hɝːˈbɪv.ɚ.əs) — (động vật học) ăn cỏ
  • manatee (ˌmæn.əˈtiː) — lợn biển
  • walrus (ˈwɑːl.rəs) — con hải mã
  • dorsal fin (ˈdɔːr.səl) (fɪn) — vây lưng
  • seagrass (ˈsiː.ɡræs) — cỏ biển
  • sediment (ˈsed.ə.mənt) — trầm tích
  • predominantly (prɪˈdɑː.mə.nənt.li) — chủ yếu
  • fibre (ˈfaɪ.bɚ) — chất xơ
  • edible (ˈed.ə.bəl) — có thể ăn được
  • tactile sense (ˈtæk.təl) (sens) — xúc giác
  • algae (ˈæl.dʒiː) — tảo
  • scarce (skers) — hiếm hoi, khan hiếm
  • invertebrate (ɪnˈvɝː.t̬ə.brət) — động vật không xương sống
  • shrink (ʃrɪŋk) — giảm
  • The Persian Gulf (ðə) (ˈpɝː.ʒən) (ɡʌlf) — Vịnh Ba Tư
  • meadow (ˈmed.oʊ) — đồng cỏ
  • turbulence (ˈtɝː.bjə.ləns) — sự hỗn loạn, dòng chảy hỗn loạn
  • saltiness (ˈsɑːl.ti.nəs) — độ mặn
  • emaciated (iˈmeɪ.si.eɪ.t̬ɪd) — gầy mòn, héo hon
  • carcass (ˈkɑːr.kəs) — xác động vật
  • calve (kæv) — đẻ con
  • trawling (trɑːl) — đánh lưới
  • dredging (dredʒ) — nạo vét
  • land-reclamation (lænd) (ˌrek.ləˈmeɪ.ʃən) — cải tạo đất
  • anthropogenic (ˌæn.θrə.pəˈdʒen.ɪk) — do con người gây ra
  • Entanglement (ɪnˈtæŋ.ɡəl.mənt) — sự mắc bẫy, vướng vào