← Danh sách bài đọc
Bài 220

Thomas Harriot: The Discovery of Refraction

Thomas Harriot: Khám phá về hiện tượng khúc xạ

When light travels from one medium to another, it generally bends, or refracts.
Khi ánh sáng truyền từ môi trường này sang môi trường khác, nó thường bị uốn cong hoặc khúc xạ.
The law of refraction gives us a way of predicting the amount of bending.
Định luật khúc xạ giúp ta có cách dự đoán mức độ uốn cong.
Refraction has many applications in optics and technology.
Hiện tượng khúc xạ có nhiều ứng dụng trong cả quang học và công nghệ.
A lens uses refraction to form an image of an object for many different purposes, such as magnification.
Thấu kính áp dụng hiện tượng khúc xạ để tạo ra hình ảnh vật thể cho nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn như phóng đại vật thể.
A prism uses refraction to form a spectrum of colors from an incident beam of light.
Lăng kính thông qua sự khúc xạ để tạo ra dải phổ màu từ chùm ánh sáng tới.
Refraction also plays an important role in the formation of a mirage and other optical illusions.
Hiện tượng khúc xạ cũng một đóng vai trò quan trọng trong việc Hình thành ảo ảnh và các ảo thị quang học khác.
The law of refraction is also known as Snell’s Law, named after Willobrord Snell, who discovered the law in 1621.
Định luật khúc xạ hay còn được gọi là Định luật Snell, được đặt theo tên của Willobrord Snell - người đã khám phá ra định luật này vào năm 1621.
Although Snell’s sine law of refraction is now taught routinely in undergraduate courses, the quest for it spanned many centuries and involved many celebrated scientists.
Mặc dù định luật khúc xạ hình sin của Snell hiện đang được giảng dạy trong các lớp giáo dục bậc đại học, việc tìm kiếm nó đã kéo dài hàng thế kỷ và có sự tham gia của nhiều nhà khoa học nổi tiếng.
Perhaps the most interesting thing is that the first discovery of the sine law, made by the sixteenth-century English scientist Thomas Harriot (1560-1621), has been almost completely overlooked by physicists, despite much published material describing his contribution.
Có lẽ điều thú vị nhất đó là phát hiện đầu tiên về định luật sin được tìm ra bởi nhà khoa học người Anh ở thế kỷ XVI Thomas Harriot (1560-1621) gần như đã bị các nhà vật lý lờ đi dù nhiều tài liệu được công bố cho thấy sự đóng góp của ông.
A contemporary of Shakespeare, Elizabeth I, Johannes Kepler and Galilei Galileo, Thomas Harriot (1560-1621) was an English scientist and mathematician.
Cùng thời với Shakespeare, Elizabeth I, Johannes Kepler và Galilei Galileo, Thomas Harriot (1560-1621) là một nhà khoa học và toán học người Anh.
His principal biographer, J. W. Shirley, was quoted saying that in his time he was “England’s most profound mathematician, most imaginative and methodical experimental scientist”.
Trích lời người viết tiểu sử chính của ông - J. W. Shirley - rằng vào thời của ông, ông là “nhà toán học Uyên bác nhất, nhà khoa học thực nghiệm sáng tạo và cẩn thận nhất nước Anh”.
As a mathematician, he contributed to the development of algebra, and introduced the symbols of ”>”, and ”<” for ”more than” and ”less than.”
Là một nhà toán học, ông đã đóng góp vào sự phát triển của đại số và tạo ra các ký hiệu ”>”, và “<” diễn đạt cho “nhiều hơn” và “ít hơn.”
He also studied navigation and astronomy.
Ông cũng nghiên cứu về Hàng hải và thiên văn học.
On September 17, 1607, Harriot observed a comet, later Identified as Hailey-s.
Vào ngày 17 tháng 9 năm 1607, Harriot quan sát thấy một sao chổi, sau này được xác định là sao chổi Hailey-s.
With his painstaking observations, later workers were able to compute the comet’s orbit.
Nhờ những quan sát chi tiết của ông, các nhà nghiên cứu sau này đã có thể tính toán quỹ đạo của sao chổi.
Harriot was also the first to use a telescope to observe the heavens in England.
Harriot cũng là người đầu tiên sử dụng kính viễn vọng để quan sát bầu trời ở Anh.
He made sketches of the moon in 1609, and then developed lenses of increasing magnification.
Ông đã vẽ các bản phác thảo về mặt trăng vào năm 1609, sau đó phát triển các thấu kính có độ phóng đại ngày càng cao.
By April 1611, he had developed a lens with a magnification of 32.
Đến tháng 4 năm 1611, ông đã tạo ra được một thấu kính có độ phóng đại 32 lần.
Between October 17, 1610 and February 26, 1612, he observed the moons of Jupiter, which had already discovered by Galileo.
Khoảng thời gian từ ngày 17 tháng 10 năm 1610 đến ngày 26 tháng 2 năm 1612, ông đã quan sát các mặt trăng của Sao Mộc được phát hiện bởi Galileo.
While observing Jupiter’s moons, he made a discovery of his own: sunspots, which he viewed 199 times between December 8, 1610 and January 18, 1613.
Trong lúc quan sát các mặt trăng của Sao Mộc, ông khám phá ra một thứ: vết đen mặt trời, thứ mà ông đã quan sát 199 lần từ ngày 8 tháng 12 năm 1610 đến ngày 18 tháng 1 năm 1613.
These observations allowed him to figure out the sun’s period of rotation.
Những quan sát này giúp ông tìm ra chu kỳ quay của mặt trời.
He was also an early English explorer of North America.
Ông cũng là nhà một trong những nhà thám hiểm người Anh đặt chân tới Bắc Mỹ đầu tiên.
He was a friend of the English courtier and explorer Sir Walter Raleigh and travelled to Virginia as a scientific observer on a colonising expedition in 1585.
Ông là bạn của cận thần và nhà thám hiểm người Anh - Ngài Walter Raleigh, và đã đến Virginia với tư cách là một nhà quan sát khoa học trong một cuộc viễn chinh thuộc địa vào năm 1585.
On June 30, 1585, his ship anchored at Roanoke Island, off Virginia.
Ngày 30 tháng 6 năm 1585, tàu của ông Thả neo tại Đảo Roanoke ngoài khơi Virginia.
On shore, Harriot observed the topography, flora and fauna, made many drawings and maps, and met the native people who spoke a language the English called Algonquian.
Trên bờ biển, Harriot đã quan sát Địa hình, hệ động thực vật, vẽ các bản vẽ và bản đồ và gặp những người bản địa nói loại ngôn ngữ mà tiếng Anh gọi là Algonquian.
Harriot worked out a phonetic transcription of the native people’s speech sounds and began to learn the language, which enabled him to converse to some extent with other natives the English encountered.
Harriot đã luyện tập phiên âm về khẩu ngữ của người bản xứ và bắt đầu học thứ ngôn ngữ này, điều này cho phép ông có thể trò chuyện ở một mức độ nhất định với những người bản xứ mà ông gặp.
Harriot wrote his report for Raleigh and published it as A Briefe and True Report of the New Found Land of Virginia in 1588.
Harriot viết báo cáo cho Raleigh và xuất bản Bản báo cáo ngắn gọn và trung thực về Vùng đất mới được phát hiện ở Virginia vào năm 1588.
Raleigh gave Harriot his own estate in Ireland, and Harriot began a survey of Raleigh’s Irish holdings.
Raleigh trao cho Harriot tài sản riêng của mình ở Ireland, và Harriot bắt đầu khảo sát về tài sản của Raleigh ở Ireland.
He also undertook a study of ballistics and ship design for Raleigh in advance of the Spanish Armada’s arrival.
Ông cũng tiến hành nghiên cứu về đạn dược và thiết kế tàu cho Raleigh trước khi Hạm đội Tây Ban Nha tấn công.
Harriot kept regular correspondence with other scientists and mathematicians, especially in England but also in mainland Europe, notably with Johannes Kepler.
Harriot vẫn thường xuyên trao đổi thư từ với các nhà khoa học và toán học khác không chỉ ở Anh mà còn ở khắp lục địa Châu Âu, đáng chú ý nhất là với Johannes Kepler.
About twenty years before Snell’s discovery, Johannes Kepler (1571-1630) had also looked for the law of refraction, but used the early data of Ptolemy.
Khoảng 20 năm trước khám phá của Snell, Johannes Kepler (1571-1630) cũng nghiên cứu về định luật khúc xạ nhưng ông lại sử dụng dữ liệu sơ cấp của Ptolemy.
Unfortunately, Ptolemy’s data was in error, so Kepler could obtain only an approximation which he published in 1604.
Thật không may, dữ liệu của Ptolemy bị lỗi, vì vậy Kepler chỉ có thể thu được giá trị gần đúng như ông đã công bố vào năm 1604.
Kepler later tried to obtain additional experimental results on refraction, and corresponded with Thomas Harriot from 1606 to 1609 since Kepler had heard Harriot had carried out some detailed experiments.
Kepler sau đó đã cố gắng bổ sung thêm các kết quả thí nghiệm về khúc xạ, và trao đổi thư với Thomas Harriot từ năm 1606 đến năm 1609 vì Kepler nghe rằng Harriot đã tiến hành một số thí nghiệm chi tiết.
In 1606, Harriot sent Kepler some tables of refraction data for different materials at a constant incident angle, but didn’t provide enough detail for the data to be very useful.
Năm 1606, Harriot gửi cho Kepler một số bảng dữ liệu về sự khúc xạ của các các vật liệu khác nhau tại một góc tới cố định, nhưng không cung cấp đủ chi tiết để sử dụng.
Kepler requested further information, but Harriot was not forthcoming, and it appears that Kepler eventually gave up the correspondence, frustrated with Harriot’s reluctance.
Kepler yêu cầu thêm thông tin nhưng Harriot không mấy nhiệt tình, cuối cùng Kepler đã từ bỏ liên hệ và Nản lòng với sự miễn cưỡng của Harriot.
Apart from the correspondence with Kepler, there is no evidence that Harriot ever published his detailed results on refraction.
Ngoài trao đổi thư từ với Kepler, không có bằng chứng nào cho thấy Harriot từng công bố các chi tiết nghiên cứu của mình về hiện tượng khúc xạ.
His personal notes, however, reveal extensive studies significantly predating those of Kepler, Snell and Descartes.
Tuy nhiên, các ghi chú cá nhân lại tiết lộ những nghiên cứu đồ sộ đã ra đời từ sớm hơn cả những nghiên cứu của Kepler, Snell và Descartes.
Harriot carried out many experiments on refraction in the 1590s, and from his notes, it is clear that he had discovered the sine law at least as early as 1602.
Harriot đã tiến hành nhiều thí nghiệm về hiện tượng khúc xạ vào những năm 1590, những ghi chép của ông cho thấy rõ rằng ông đã phát hiện ra định luật sin ít nhất là từ năm 1602.
Around 1606, he had studied dispersion in prisms (predating Newton by around 60 years), measured the refractive indices of different liquids placed in a hollow glass prism, studied refraction in crystal spheres, and correctly understood refraction in the rainbow before Descartes.
Khoảng năm 1606, ông đã nghiên cứu Sự tán sắc trong lăng kính (trước Newton khoảng 60 năm), đo chiết suất của các chất lỏng khác nhau đặt trong lăng kính rỗng, nghiên cứu sự khúc xạ trong các quả cầu tinh thể và hiểu đúng về hiện tượng khúc xạ trong cầu vồng trước thời Descartes.
As his studies of refraction, Harriot’ s discoveries in other fields were largely unpublished during his lifetime, and until this century, Harriot was known only for an account of his travels in Virginia published in 1588, and for a treatise on algebra published posthumously in 1631.
Cũng giống như các nghiên cứu về tính khúc xạ, những khám phá của Harriot trong các lĩnh vực khác hầu như không được công bố trong suốt hoảng thời gian ông còn sống, và đến tận thế kỷ này, Harriot chỉ được biết đến với lời kể về ông trong chuyến đi tới Virginia được xuất bản năm 1588, và luận án đại số được xuất bản vào năm 1631 sau khi ông qua đời.
The reason why Harriot kept his results unpublished is unclear.
Nguyên nhân vì sao Harriot không công bố các kết quả nghiên cứu này vẫn còn là ẩn số.
Harriot wrote to Kepler that poor health prevented him from providing more information, but it is also possible that he was afraid of the seventeenth century’s English religious establishment which was suspicious of the work carried out by mathematicians and scientists.
Harriot viết thư cho Kepler giải thích rằng tình trạng sức khỏe kém khiến ông không thể cung cấp thêm thông tin, nhưng cũng có khả năng ông e ngại về tổ chức tôn giáo thế kỷ XVII ở Anh, vốn nghi ngờ nghiên cứu của các nhà toán học và nhà khoa học.
After the discovery of sunspots, Harriot’ s scientific work dwindled.
Sau khám phá về vết đen mặt trời, công trình khoa học của Harriot thu hẹp dần.
The cause of his diminished productivity might have been a cancer discovered on his nose.
Nguyên nhân của sự sụt giảm năng suất này có thể là do căn bệnh ung thư mũi của ông.
Harriot died on July 2, 1621, in London, but his story did not end with his death.
Harriot mất vào ngày 2 tháng 7 năm 1621 tại London, nhưng câu chuyện của ông vẫn chưa dừng tại đó.
Recent research has revealed his wide range of interests and his genuinely original discoveries.
Nghiên cứu gần đây đã tiết lộ lượng lớn các mối quan tâm và những khám phá nguyên bản của ông.
What some writers describe as his “thousands upon thousands of sheets of mathematics and of scientific observations” appeared to be lost until 1784, when they were found in Henry Percy’s country estate by one of Percy’s descendants.
Một số ngòi bút mô tả rằng, “hàng nghìn hàng nghìn tờ ghi ghép về toán học và các quan sát khoa học” của ông dường như đã bị thất lạc cho đến năm 1784 mới được tìm thấy tại điền trang của Henry Percy, bởi một trong những hậu duệ của ông ta.
She gave them to Franz Xaver Zach, her husband’s son’s tutor.
Bà đã đưa chúng cho Franz Xaver Zach, gia sư của con trai chồng mình.
Zach eventually put some of the papers in the hands of the Oxford University Press, but much work was required to prepare them for publication, and it has never been done.
Zach cuối cùng đã trao một số bài viết vào tay Nhà xuất bản Đại học Oxford, nhưng có rất nhiều thứ phải chuẩn bị cho việc xuất bản và nó chưa bao giờ được hoàn thành.
Scholars have begun to study them, and an appreciation of Harriot’s contribution started to grow in the second half of the twentieth century.
Các học giả bắt đầu nghiên cứu về chúng, và sự đánh giá cao cho các đóng góp của Harriot bắt đầu tăng lên vào nửa sau thế kỷ XX.

Từ vựng (24)

  • Refraction (rɪˈfræk.ʃən) — Sự phản xạ
  • Magnification (ˌmæɡ.nə.fəˈkeɪ.ʃən) — Sự phóng đại
  • A prism (ˈeɪ, ə) (ˈprɪz.əm) — Lăng kính
  • Formation (fɔːrˈmeɪ.ʃən) — Hình thành
  • Quest (kwest) — Sự tìm kiếm
  • Span (spæn) — Kéo dài
  • Overlook (ˌoʊ.vɚˈlʊk) — Lờ đi, bỏ qua
  • Profound (prəˈfaʊnd) — Uyên bác
  • Navigation (ˌnæv.əˈɡeɪ.ʃən) — Hàng hải
  • Painstaking (ˈpeɪnzˌteɪ.kɪŋ) — Chi tiết, tỉ mỉ
  • Courtier (ˈkɔːr.t̬i.ɚ) — Cận thần, phụ tá
  • Anchore (anchore*) — Thả neo
  • Topography (təˈpɑː.ɡrə.fi) — Địa hình
  • Work out (wɝːk) (aʊt) — Luyện tập
  • Undertake (ˌʌn.dɚˈteɪk) — Tiến hành
  • In advance of (ˈɪn, ɪn) (ədˈvæns) (əv) — Trước…
  • Notably (ˈnoʊ.t̬ə.bli) — Đặc biệt là
  • Forthcoming (ˈfɔːrθˌkʌm.ɪŋ) — Sẵn sàng, nhiệt tình
  • Frustrated (ˈfrʌs.treɪ.t̬ɪd) — Nản lòng
  • Dispersion (dɪˈspɝː.ʃən) — Sự tán sắc
  • Account (əˈkaʊnt) — Tường thuật
  • Posthumously (ˈpɑːs.tʃə.məs.li) — Sau khi ai đó qua đời
  • Dwindle (ˈdwɪn.dəl) — Thu hẹp, rút gọn
  • Overlap (ˌoʊ.vɚˈlæp) — Đè lên nhau, chồng lấn