← Danh sách bài đọc
Bài 223

Toddlers Bond with Robot

Mối liên hệ giữa trẻ em mới biết đi và Robot

A. Will the robot revolution begin in nursery school?
A. Liệu cuộc cách mạng rô-bốt sẽ bắt đầu tại trường mẫu giáo?
Researchers introduced a state-of- the-art social robot into a classroom of 18- to 24-month-olds for five months as a way of studying human-robot interactions.
Các nhà nghiên cứu đã đưa một rô-bốt xã hội hiện đại nhất vào lớp học của trẻ từ 18 đến 24 tháng tuổi trong vòng 5 tháng như một cách để nghiên cứu sự tương tác giữa con người và rô-bốt.
The children not only came to accept the robot, but treated it as they would a human buddy - hugging it and helping it - a new study says.
Một nghiên cứu mới cho biết những đứa trẻ không những chấp nhận rô-bốt mà còn coi nó như một người bạn của con người - ôm nó và giúp đỡ nó.
"The results imply that current robot technology is surprisingly close to achieving autonomous bonding and socialization with human toddlers," said Fumihide Tanaka, a researcher at the University of California, San Diego.
Fumihide Tanaka - nhà nghiên cứu tại Đại học California, San Diego - cho biết: “Các kết quả cho thấy công nghệ rô-bốt hiện tại đã gần đạt được sự liên kết tự trị và xã hội hóa với trẻ mới biết đi một cách đáng ngạc nhiên.”
B. The development of robots that interact socially with people has been difficult to achieve, experts say, partly because such interactions are hard to study.
B. Theo các chuyên gia, để hoàn thành việc phát triển rô-bốt tương tác xã hội với con người rất khó khăn, một phần là do những tương tác như vậy rất khó để nghiên cứu.
"To my knowledge, this is the first long-term study of this sort," said Ronald Arkin, a roboticist at the Georgia Institute of Technology, who was not involved with the study.
Ronald Arkin - một nhà chế tạo rô-bốt tại Viện Công nghệ Georgia, người không tham gia nghiên cứu -cho biết: “Theo hiểu biết của tôi, đây là nghiên cứu dài hạn đầu tiên về thể loại này.”
"It is groundbreaking and helps to forward human-robot interaction studies significantly," he said.
Ông nói: “Nó mang tính đột phá và giúp chuyển tiếp các nghiên cứu sự tương tác giữa người với rô-bốt một cách đáng kể.”
C. The most successful robots so far have been storytellers, but they have only been able to hold human interest for a limited time.
C. Những rô-bốt thành công nhất cho đến nay đều là những người kể chuyện, nhưng chúng chỉ có thể thu hút sự quan tâm của con người trong một khoảng thời gian giới hạn.
For the new study, researchers introduced a toddler-size humanoid robot into a classroom at a UCSD childhood education center.
Đối với nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu đã đưa một rô-bốt hình người có kích thước bằng trẻ mới biết đi vào một lớp học tại một trung tâm giáo dục trẻ em của UCSD.
Initially the researchers wanted to use a 22-inch-tall model, but later they decided to use another robot of the QRIO series, the 23-inch-tall (58-centimeter-tall) machine was originally developed by Sony.
Ban đầu, các nhà nghiên cứu muốn sử dụng một mô hình cao 22 inch, nhưng sau đó họ quyết định sử dụng một rô-bốt khác của dòng QRIO, cỗ máy cao 23 inch (58 cm) được phát triển bởi Sony.
Children of toddler age were chosen because they have no preconceived notions of robots, said Tanaka, the lead researcher, who also works for Sony.
Tanaka - trưởng nhóm nghiên cứu, người cũng làm việc cho Sony - cho biết trẻ em ở độ tuổi chập chững biết đi được chọn vì chúng không có định kiến về rô-bốt.
The researchers sent instructions about every two minutes to the robot to do things like giggle, dance, sit down, or walk in a certain direction.
Các nhà nghiên cứu gửi hướng dẫn cho rô-bốt khoảng hai phút một lần để làm những việc như cười khúc khích, nhảy, ngồi xuống hoặc đi theo một hướng nhất định.
The 45 sessions were videotaped, and interactions between toddlers and the robot were later analyzed.
Trong 45 buổi, họ đã quay lại video về sự tương tác giữa trẻ mới biết đi với rô-bốt và đưa ra phân tích.
D. The results showed that the quality of those interactions improved steadily over 27 sessions.
D. Kết quả cho thấy chất lượng của những tương tác đó được cải thiện đều đặn trong 27 buổi.
The tots began to increasingly interact with the robot and treat it more like a peer than an object during the first 11 sessions.
Trong 11 buổi đầu tiên, những đứa trẻ bắt đầu tương tác nhiều hơn với rô-bốt và đối xử với nó giống như một người bạn ngang hàng hơn là một đồ vật.
The level of social activity increased dramatically when researchers added a new behavior to QRIO's repertoire: If a child touched the humanoid on its head, it would make a giggling noise.
Mức độ hoạt động xã hội tăng lên đáng kể khi các nhà nghiên cứu thêm một hành vi mới vào tiết mục của QRIO: Nếu một đứa trẻ chạm vào đầu nó, nó sẽ phát ra tiếng cười khúc khích.
The interactions deteriorated quickly over the next 15 sessions, when the robot was reprogrammed to behave in a more limited, predictable manner.
Tuy nhiên, các tương tác trở nên xấu đi nhanh chóng trong 15 buổi tiếp theo, khi rô-bốt được lập trình lại để hoạt động theo cách hạn chế hơn, dễ đoán hơn.
Finally, the human-robot relations improved in the last three sessions, after the robot had been reprogrammed to display its full range of behaviors.
Cuối cùng, mối quan hệ giữa con người với rô-bốt đã được cải thiện trong ba buổi cuối, sau khi rô-bốt được lập trình lại để hiển thị đầy đủ các hành vi của nó.
"Initially the children treated the robot very differently than the way they treated each other," Tanaka said. "But by the end they treated the robot as a peer rather than a toy."
"Ban đầu bọn trẻ đối xử với rô-bốt rất khác so với cách chúng đối xử với nhau", Tanaka nói. "Nhưng cuối cùng, chúng đối xử với rô-bốt như một người bạn ngang hàng hơn là một món đồ chơi."
Early in the study some children cried when QRIO fell.
Ở đầu nghiên cứu, một số đứa trẻ đã khóc khi QRIO té ngã.
But a month into the study, the toddlers helped QRIO stand up by pushing its back or pulling its hands.
Nhưng một tháng sau, chúng đã giúp QRIO đứng dậy bằng cách đẩy lưng hoặc kéo tay.
“The most important aspect of interaction was touch”, Tanaka said.
Tanaka nói: “Khía cạnh quan trọng nhất của tương tác là sự tiếp xúc”.
“At first the toddlers would touch the robot on its face, but later on they would touch only on its hands and arms, like they would with other humans”.
“Lúc đầu, những đứa trẻ sẽ chạm vào mặt rô-bốt, nhưng sau đó, chúng sẽ chỉ chạm vào bàn tay và cánh tay, giống như đối với những con người khác”.
Another robotlike toy named Robby, which resembled QRIO but did not move, was used as a control toy in the study. While hugging of QRIO increased, hugging of Robby decreased throughout the study.
Một con rô-bốt đồ chơi khác tên là Robby được sử dụng làm đồ chơi điều khiển trong nghiên cứu. Nó giống QRIO nhưng không di chuyển được. Trong khi số lần ôm QRIO tăng lên thì số lần ôm của Robby giảm trong suốt quá trình nghiên cứu.
Furthermore, when QRIO laid down on the floor as its batteries ran down, a toddler would put a blanket over his silver-colored "friend" and say "night-night."
Hơn nữa, khi QRIO nằm xuống sàn nhà khi pin của nó cạn kiệt, một đứa trẻ đã đắp chăn cho "người bạn" màu bạc của mình và nói "ngủ ngon".
F. "Our work suggests that touch integrated on the time-scale of a few minutes is a surprisingly effective index of social connectedness," Tanaka says
F. "Việc làm của chúng tôi cho thấy việc tiếp xúc trong vài phút là một chỉ số hiệu quả đáng ngạc nhiên về sự kết nối xã hội", Tanaka nói.
"Something akin to this index may be used by the human brain to evaluate its own sense of social wellbeing.”
"Một cái gì đó tương tự như chỉ số này có thể được bộ não con người sử dụng để đánh giá cảm giác phúc lợi xã hội của chính bản thân họ."
He adds that social robots like QRIO could greatly enrich classrooms and assist teachers in early learning programs.
Ông nói thêm rằng các rô-bốt xã hội như QRIO có thể làm phong phú thêm cho các lớp học và hỗ trợ giáo viên trong các chương trình học sớm.
Hiroshi Ishiguro - robotics expert at Osaka University in Japan - says, "I think this study has clearly reported the possibilities of small, almost autonomous humanoid robots for toddlers.
Hiroshi Ishiguro - chuyên gia về người máy tại Đại học Osaka, Nhật Bản - cho biết: “Tôi nghĩ rằng nghiên cứu này đã báo cáo rõ ràng về khả năng của những rô-bốt hình người nhỏ, gần như tự trị dành cho trẻ mới biết đi.
Nowadays robots can perform a variety of functions that were thought to be incident to people only - in short time we'll have electronic baby-sitters and peer-robots in every kindergarten," said Ishiguro, who was not involved with the study but has collaborated with its authors on other projects.
"Ngày nay, rô-bốt có thể thực hiện nhiều chức năng mà người ta cho là chỉ xảy ra với con người. Trong thời gian ngắn, chúng ta sẽ có những người trông trẻ điện tử và rô-bốt bạn học ở mỗi trường mẫu giáo " Ishiguro - người không tham gia nghiên cứu nhưng đã cộng tác với các tác giả của nó trong các dự án khác - cho biết.
G. Now this study has taken a new direction - the researchers are now developing autonomous robots for the toddler classroom.
G. Giờ đây, nghiên cứu này đã đi theo một hướng mới - các nhà nghiên cứu hiện đang phát triển các rô-bốt tự động cho lớp học của trẻ em mới biết đi.
"I cannot avoid underlining how great potential it could have in educational settings assisting teachers and enriching the classroom environment," Tanaka said.
Tanaka nói: “Tôi không thể không nhấn mạnh rằng nó có thể có tiềm năng to lớn như thế nào trong môi trường giáo dục, nó hỗ trợ giáo viên và làm phong phú thêm môi trường lớp học.”
However, some scientists don't share his opinion.
Tuy nhiên, một số nhà khoa học không đồng tình với ý kiến của ông.
H. Arkin, the Georgia Tech roboticist, said he was not surprised by the affection showed by the toddlers toward the robot.
H. Arkin - nhà chế tạo rô-bốt Georgia Tech - cho biết anh không ngạc nhiên trước tình cảm của những đứa trẻ mới biết đi đối với rô-bốt.
"Humans have a tremendous propensity to bond with artifacts with any or all sort, whether it be a car, a doll, or a robot," he said.
Ông nói: “Con người có xu hướng gắn bó mãnh liệt với tất cả các đồ tạo tác, cho dù đó là ô tô, búp bê hay rô-bốt.”
But he also cautioned that researchers don't yet understand the consequences of increased humanrobot interaction.
Nhưng ông cũng cảnh báo rằng các nhà nghiên cứu vẫn chưa hiểu được hậu quả của việc tăng tương tác giữa con người với rô-bốt.
"Just studying how robots and humans work together can give us insight into whether this is a good thing or a bad thing for society," Akrin said.
Akrin nói: “Chỉ cần nghiên cứu cách rô-bốt và con người làm việc cùng nhau có thể cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về việc đây là điều tốt hay điều xấu đối với xã hội.”
"What are the consequences of introducing a robot artifact into a cadre of children? How will that enhance, or potentially interfere with, their social development? It might make life easier for the teacher, but we really don't understand the long-term impact of having a robot as a childhood friend, do we?"
"Hậu quả của việc để một con rô-bốt tiếp xúc với trẻ em là gì? Điều đó sẽ nâng cao hay cản trở sự phát triển xã hội của chúng như thế nào? Nó có thể giúp cuộc sống của giáo viên dễ dàng hơn, nhưng chúng ta thực sự không hiểu về tác động lâu dài của việc có một người máy như một người bạn thời thơ ấu, phải không? "

Từ vựng (9)

  • state of the art (steɪt) (əv) (ðiː) (ɑːrt) — hiện đại nhất
  • humanoid (ˈhjuː.mə.nɔɪd) — hình người
  • groundbreaking (ˈɡraʊndˌbreɪ.kɪŋ) — đột phá
  • preconceived notion (ˌpriː.kənˈsiːvd) (ˈnoʊ.ʃən) — định kiến
  • tots (ˈtɑts) — những đứa bé
  • repertoire (ˈrep.ɚ.twɑːr) — tiết mục
  • deteriorate (dɪˈtɪr.i.ə.reɪt) — làm xấu/hư
  • akin (əˈkɪn) — tương tự
  • insight into (ˈɪn.saɪt) (ˈɪn.tuː) — cái nhìn sâu sắc về