← Danh sách bài đọc
Bài 229

The Farmers! Parade of history

Công ty Farmers! Cuộc diễu hành của lịch sử

History of Farmers trading company: In 1909 Robert Laidlaw establishes mail-order company Laidlaw Leeds in Fort Street, Auckland.
Lịch sử của công ty thương mại Farmers: Năm 1990, Robert Laidlaw đã thành lập công ty đặt hàng qua thư tên là Laidlaw Leeds ở đường Fort, Auckland.
Then, Branch expansion: purchase of Green and Colebrook chain store; further provincial stores in Auckland and Waikato to follow.
Sau đó, mở rộng chi nhánh: mua chuỗi cửa hàng Green and Colebrook; tiếp theo là các cửa hàng cấp tỉnh ở Auckland và Waikato.
Opening of first furniture and boot factory.
Khai trương nhà máy sản xuất đồ nội thất và giày boot đầu tiên.
In 1920, Company now has 29 branches; Whangarei store purchased.
Năm 1920, công ty hiện có 29 chi nhánh; cửa hàng Whangarei đã bắt đầu hoạt động buôn bán.
Doors open at Hobson Street for direct selling to public.
Cửa hàng bán trực tiếp cho người dân tại Phố Hobson.
The firm establishes London and New York buying offices.
Công ty thành lập các văn phòng mua hàng ở Luân Đôn và New York.
With permission from the Harbour Board, the large FARMERS electric sign on the Wyndham Street frontage is erected.
Được sự cấp phép của Hội đồng về vấn đề cầu cảng, biển báo điện FARMERS lớn trên mặt tiền Phố Wyndham được dựng lên.
In 1935, if the merchandise has changed, the language of the catalogues hasn’t Robert Laidlaw, the Scottish immigrant who established die century-old business, might have been scripting a modern-day television commercial when he told his earliest customers: Satisfaction, or your money back.
Năm 1935, nếu hàng hóa đã thay đổi, ngôn ngữ của những ấn phẩm quảng cáo không phải của Robert Laidlaw, người nhập cư Scotland đã thành lập doanh nghiệp doanh nghiệp có tuổi đời hàng nghìn thế kỷ, có thể đã viết kịch bản quảng cáo trên truyền hình thời hiện đại khi ông nói với những khách hàng đầu tiên của mình rằng: Sự hài lòng hoặc đảm bảo hoàn tiền cho bạn.
“It was the first money back guarantee ever offered in New Zealand by any firm,” says Ian Hunter, business historian.
Ian Hunter, nhà sử học kinh doanh cho biết: “Đó là sự bảo đảm hoàn lại tiền đầu tiên từng được cung cấp ở New Zealand bởi bất kỳ công ty nào.
“And his mission statement was, potentially, only the second one ever found in the world.”
"Và lời tuyên bố sứ mệnh của anh ấy, có khả năng, là lời tuyên bố lần thứ hai từng được tìm thấy trên thế giới.”
Laidlaw’s stated aims were simple to build the greatest business in New Zealand, to simplify every transaction, to eliminate all delays, to only sell goods it would pay the customer to buy.
Mục đích Laidlaw tuyên bố như vậy đơn giản là để xây dựng doanh nghiệp lớn nhất ở New Zealand, đơn giản hóa mỗi giao dịch, mọi bỏ mọi sự trì hoãn, chỉ bán những hàng hóa mà khách hàng sẽ trả tiền để mua.
This year, the company that began as a mail-order business and now employs 3500 staff across 58 stores turns 100.
Năm nay, công ty đã bắt đầu hoạt động giống như một doanh nghiệp đặt hàng qua thư, và hiện đang có 3500 nhân viên cho khắp 58 cửa hàng đã bước sang tuổi 100.
Its centenary will be celebrated with the release of a book and major community fundraising projects, to be announced next week.
Lễ kỷ niệm một trăm năm sẽ được tổ chức bằng việc phát hành một cuốn sách và các dự án gây quỹ cộng đồng lớn, được công bố vào tuần tới.
Hunter, who is writing the centenary history, says “coming to a Fanners store once a week was a part of the New Zealand way of life”.
Hunter, người đang viết lịch sử 100 năm cho biết "Việc đến một cửa hàng Fanners một lần trong tuần là một phần lối sống của người New Zealand.
By 1960, one in every 10 people had an account with die company.
Đến năm 1960, 1 trong số 10 người đã có tài khoản với công ty lâu đời này.
It was the place where teenage girls shopped for their first bra, where newlyweds purchased their first dinner sets, where first pay cheques were used to pay off hire purchase furniture, where Santa paraded every Christmas.
Nó đã là nơi mà các cô gái tuổi teen mua sắm những chiếc áo bra (áo ngực) đầu tiên, nơi các cặp vợ chồng mới cưới mua bộ đồ ăn tối đầu tiên của họ, nơi những tấm séc lương đầu tiên được sử dụng để trả tiền thuê mua đồ nội thất, nơi ông già Noel diễu hành vào mỗi dịp Giáng sinh.
Gary Blumenthal’s mother shopped there, and so does he.
Mẹ của Gary Bluementhal đã mua sắm ở đó và ông ấy cũng vậy.
The fondest memory for the Rotorua resident?
Kỷ niệm đẹp nhất đối với cư dân Rotorua phải không?
“We were on holiday in Auckland… I decided that upon the lookout tower on top of the Farmers building would be a unique place to fit the ring on my new fiancee’s finger.”
"Chúng tôi trong kỳ nghỉ ở Auckland… Tôi đã quyết định rằng trên tháp ở đỉnh tòa nhà Nông dân sẽ là nơi duy nhất để đeo chiếc nhẫn vào ngón tay vị hôn thê mới của tôi.”
The lovebirds, who had to wait for “an annoying youth” to leave the tower before they could enjoy their engagement kiss, celebrate their 50th wedding anniversary in June.
đôi uyên ương, những người phải đợi “thanh niên phiền phức” rời khỏi tòa tháp trước khi có thể tận hưởng nụ hôn đính hôn hay tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ngày cưới vào tháng 6.
Farmers, says Hunter, has always had a heart.
Hunter nói rằng, Công ty Farmers luôn rất nhân văn.
This, from a 1993 North & South interview with a former board chairman, Rawdon Busfield: “One day I was in the Hobson Street shop and I saw a woman with two small children.
Điều này được cho là từ một cuộc phỏng vấn North & South năm 1993 với cựu chủ tịch hội đồng quản trị, Rawdon Busfield: “Một ngày nọ, tôi đang ở trong cửa hàng trên phố Hobson và tôi nhìn thấy một người phụ nữ có hai đứa con nhỏ.
They were clean and tidily dressed, but poor, you could tell.
Họ ăn mặc trông sạch sẽ và gọn gàng, nhưng có thể nói là họ nghèo.
That week we had a special on a big bar of chocolate for one shilling.
Chúng tôi có chương trình giảm giá đặc biệt về một thanh sô cô la lớn với giá một shilling vào tuần đó.
I heard the woman say to her boy, ‘no, your penny won’t buy that’.
Tôi đã nghe người phụ nữ nói với cậu con trai rằng, 'không, nhiêu xu này của con sẽ không thể mua được nó đâu'.
He wasn’t wearing shoes.
Cậu bé không mang đôi giày nào.
So I went up to the boy said,’ Son, have you got your penny?
Vì vậy, tôi đến gần cậu bé và nói, 'Con trai, con có đồng xu nào không?
‘He handed it to me.
Cậu bé đã đưa nó cho tôi.
It was hot he’d had it in his hand for hours.
Nó rất nóng vì có lẽ cậu bé đã cầm nó trong tay suốt nhiều giờ đồng hồ.
I took the penny and gave him the chocolate.”
Tôi đã lấy những đồng xu này và đưa cho cậu bé sô cô la.
Farmers was once the home of genteel tearooms, children’s playgrounds and an annual sale of celebration for birthday of Hector the Parrot (the store mascot died, aged 131, in the 1970s his stuffed remains still occupy pride of place at the company’s head office).
Farmers từng là ngôi nhà của những phòng trà sang trọng, sân chơi cho trẻ em và hoạt động bán hàng hằng năm nhân dịp sinh nhật của Hector the Parrot (linh vật của cửa hàng đã qua đời ở tuổi 131, vào những năm 1970, hài cốt của ông được tạo dựng trong hình hài thú nhồi bông vẫn chiếm vị trí đáng tự hào tại trụ sở chính của công ty).
You could buy houses from Farmers.
Bạn có thể mua nhà từ Farmers.
Its saddle factory supplied the armed forces, and its upright grand overstrung pianos offered “the acme of value” according to those early catalogues hand-drawn by Robert Laidlaw himself.
Nhà máy sản xuất yên xe của nó được cung cấp cho các lực lượng vũ trang, và những cây đàn piano lớn thẳng đứng của nó mang lại “đỉnh cao của giá trị” theo những ấn phẩm đầu tiên do chính Robert Laidlaw vẽ bằng tay.
Walk through a Farmers store today and get hit by bright lights and big brands.
Đi dọc theo một cửa hàng Farmers ngày nay và bạn sẽ bị thu hút bởi ánh sáng rực rỡ và các thương hiệu lớn.
Its Albany branch houses 16 international cosmetics companies.
chi nhánh Albany của nó có 16 công ty mỹ phẩm quốc tế.
It buys from approximately 500 suppliers, and about 30% of those are locally owned.
Nó mua hàng từ gần 500 nhà cung ứng, và khoảng 30% trong số đó thuộc sở hữu của địa phương.
“Eight, 10 years ago,” says current chief executive Rod McDermott, “lots of brands wouldn’t partner with us.
Giám đốc điều hành hiện tại Rod McDermott cho biết: “Tám, 10 năm trước, rất nhiều thương hiệu đã không hợp tác với chúng tôi.
The stores were quite distressed.
Các cửa hàng khá là kiệt sức.
We were first price point focused, we weren’t fashion focused.
Chúng tôi tập trung vào điểm giá đầu tiên chứ chúng tôi không tập trung vào thời trang.
“Remove the rose-tinted nostalgia, and Farmers is, quite simply, a business, doing business in hard times.
“Hãy gạt bỏ những hoài niệm lạc quan, và Farmers, khá đơn giản, là một doanh nghiệp kinh doanh trong thời kỳ khó khăn.
Dancing with the Stars presenter Candy Lane launches a clothing line?
Người trình bày chương trình "Dancing with the Stars", Candy Lane tung ra thị trường một dòng quần áo?
“We put a trial on, and we thought it was really lovely, but the uptake wasn’t what we thought it would be.
“Chúng tôi đã đưa vào thử nghiệm và chúng tôi nghĩ rằng nó thực sự tuyệt vời, nhưng mức độ hấp thụ không như chúng tôi nghĩ.
It’s got to be what the customer wants,” says McDermott.
McDermott nói: “Đó phải là thứ mà khách hàng muốn".
He acknowledges retailers suffer in a recession: “We’re celebrating 100 years because we can and because we should.”
"Ông ấy thừa nhận các nhà bán lẻ đang phải chịu đựng suy thoái kinh tế: “Chúng tôi kỷ niệm 100 năm vì chúng tôi có thể và vì chúng tôi nên làm như vậy."
Farmers almost didn’t pull through one economic crisis.
Farmers hầu như không vượt qua được một cuộc khủng hoảng kinh tế nào."
By the mid 1980s, it had stores across the country.
Đến giữa những năm 1980, nó đã có những cửa hàng khắp quốc gia.
It had acquired the South Island’s Calder Mackay chain of stores and bought out Haywrights.
Nó đã mua lại chuỗi cửa hàng Calder Mackay của South Island và mua lại Haywrights.
Then, with sales topping $375 million, it was taken over by Chase Corporation.
Sau đó, với doanh thu chạm mốc 375 triệu đô la Mỹ, nó đã được Chase Corporation tiếp quản.
Lincoln Laidlaw, now aged 88, and the son of the company’s founder, remembers the dark days following the stock market crash and the collapse of Chase.
Lincoln Laidlaw, hiện đã 88 tuổi và là con trai của người sáng lập công ty, nhớ lại những ngày đen tối sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và sự sụp đổ của Chase.
“I think, once, Farmers was like a big family and all of the people who worked for it felt they were building something which would ultimately be to their benefit and to the benefit of New Zealand… then the business was being divided up and so that kind of family situation was dispelled and it hasn’t been recovered.”
“Tôi từng nghĩ, Farmers giống như một gia đình lớn và tất cả những người làm việc ở đây đều cảm thấy rằng họ đang xây dựng một thứ gì đó cuối cùng sẽ mang lại lợi ích cho họ và lợi ích cho New Zealand… sau đó công việc kinh doanh bị phân tán và vì vậy kiểu trường hợp gia đình như vậy đã bị loại bỏ và nó vẫn chưa được phục hồi.”

Từ vựng (21)

  • mail-order (meɪl) (ˈɔːr.dɚ) — đặt hàng qua thư
  • branch (bræntʃ) — chi nhánh
  • erected (ɪˈrekt) — được dựng lên
  • merchandise (ˈmɝː.tʃən.daɪz) — hàng hóa
  • centenary (ˈsen.ten.er.i) — 100 năm
  • newlyweds (ˈnuɫiˌwɛdz) — vợ chồng mới cưới
  • fiancee (fiˈænsi) — vị hôn thê
  • lovebirds (ˈlʌv.bɝːdz) — đôi uyên ương
  • saddle (ˈsæd.əl) — yên xe
  • armed forces (ɑːrmd) (ˈfɔɹsɪz) — lực lượng vũ trang
  • acme (ˈækmi) — đỉnh cao
  • distressed (dɪˈstrest) — lo lắng
  • nostalgia (nɑːˈstæl.dʒə) — hoài niệm
  • stock market (stɑːk) (ˈmɑːr.kɪt) — thị trường chứng khoán
  • crash (kræʃ) — sự sụp đổ
  • dispelled (dɪˈspɛɫd) — loại bỏ, xua tán, xua đuổi
  • turbulent (ˈtɝː.bjə.lənt) — hỗn loạn
  • consortium (kənˈsɔːr.ʃəm) — liên doanh
  • hospices (ˈhɑspəsɪz) — nhà an dưỡng cuối đời
  • fire brigades (faɪr) (bɹɪˈɡeɪdz) — Đội cứu hỏa
  • rebirth (ˌriːˈbɝːθ) — sự tái sinh