← Danh sách bài đọc
Bài 230

New ways of teaching history

Phương pháp mới để dạy lịch sử

In technology and the media-driven world, it’s becoming increasingly difficult to get our students’ attention and keep them absorbed in classroom discussions.
Sống giữa nền công nghệ và thế giới bị chi phối bởi truyền thông, ngày càng khó để thu hút được sự chú ý và đam mê học hỏi của học sinh trong những cuộc thảo luận trên lớp.
This generation, in particular, has brought a unique set of challenges to the educational table.
Cụ thể, thế hệ ngày nay đã gây ra một chuỗi thách thức hoàn toàn mới lạ cho những người đầu ngành giáo dục.
Whereas youth are easily enraptured by high-definition television, computers, Pods, video games, and cell phones, they are less than enthralled by what to them are obsolete textbooks and boring classroom lectures.
Trong khi giới trẻ dễ dàng bị cuốn hút bởi những chiếc tivi, máy tính phân giải cao, thuốc lá điện tử, trò chơi điện tử và điện thoại thông minh thì chúng chẳng có chút ham mê nào với những cuốn sách giáo khoa lỗi thời và bài giảng chán ngắt trên lớp.
The question of how to teach history in a digital age is often contentious.
Câu hỏi làm thế nào để dạy lịch sử trong thời đại số hoá vẫn luôn được đem ra tranh cãi.
On the one side, the old guard thinks the professional standards history is in mortal danger from flash-in-the-pan challenges by the digital that is all show and no substance.
Một mặt, những người bảo vệ định kiến cũ rằng thời đại lịch sử với những chuẩn mực chuyên nghiệp hiện tại đang phải đối mặt với nguy cơ tàn lụi từ những thách thức nhất thời bởi ngành công nghiệp số nơi mà tất cả đều là hình thức chứ không phải bản chất thật sự.
On the other side, the self-styled “disruptors” offer overblown rhetoric about how digital technology has changed everything while the moribund profession obstructs all progress in the name of outdated ideals.
Mặt khác, "kẻ phá hoại" tự xưng đưa ra những lời lẽ phóng đại về cách công nghệ số đã thay đổi mọi thứ trong khi một nghề nghiệp suy tàn phá rối mọi sự tiến bộ đối với cái gọi là tư tưởng lỗi thời.
At least, that’s a parody (maybe not much of one) of how the debate proceeds.
Ít nhất, đó là một sự chế nhạo (cho dù cũng chưa hẳn) về tiến trình của một cuộc tranh biện.
Both supporters and opponents of the digital share more disciplinary common ground than either admits.
Cả phe ủng hộ và phản đối kĩ thuật số đều có nhiều điểm chung mang tính kỷ luật hơn cả những gì họ thừa nhận.
When provided with merely a textbook as a supplemental learning tool, test results have revealed that most students fail to pinpoint the significance of historical events and individuals.
Khi sách giáo khoa chỉ được coi là một công cụ học tập bổ sung, các kết quả kiểm tra đã chỉ ra rằng hầu hết học sinh không thể xác định tầm quan trọng của các sự kiện và nhân vật lịch sử.
Fewer still are able to cite and substantiate primary historical sources.
Một số ít vẫn có khả năng trích dẫn và chứng minh các nguồn gốc lịch sử căn bản.
What does this say about the way our educators are presenting information?
Vấn đề này cho thấy điều gì về cách mà những nhà giáo dục đang diễn giải thông tin?
The quotation comes from a report of a 1917 test of 668 Texas students.
Lời dẫn này trích từ một bài báo cáo của một bài kiểm tra năm 1917 với 668 học sinh ở bang Texas.
Less than 10 per cent of school-age children attended high school in 1917; today, enrollments are nearly universal.
Ít hơn 10% trẻ em đang trong độ tuổi đến trường đi học ở các trường phổ thông năm 1917; ngày nay, con số này gần như là toàn bộ.
The whole world has turned on its head during the last century but one thing has stayed the same: Young people remain woefully ignorant about history reflected from their history tests.
Cả thế giới đã bắt đầu chú ý đến vấn đề này từ thế kỉ trước nhưng duy nhất một điều vẫn không có gì thay đổi: người trẻ vẫn tiếp tục mù tịt về lịch sử được thể hiện qua các bài kiểm tra của họ.
Guess what?
Và thử đoán xem?
Historians are ignorant too, especially when we equate historical knowledge with the “Jeopardy” Daily Double.
Các nhà sử học cũng chẳng biết gì tuốt, đặc biệt là khi mà chúng ta đánh đồng kiến thức lịch sử với "Jeopardy" Daily Double.
In a test, those specializing in American history did just fine.
Trong một bài kiểm tra, những người có chuyên môn về lịch sử Hoa Kì đang làm tốt.
But those with specialities in medieval, European and African history failed miserably when confronted by items about Fort Ticonderoga, the Olive Branch Petition, or the Quebec Act–all taken from a typical textbook.
Nhưng những người chuyên sâu về thời trung cổ, lịch sử châu Âu và châu Phi đã thất bại thảm hại khi phải đối mặt với các thông tin về Fort Ticonderoga, Olive Branch Petition hoặc Quebec Act - tất cả được lấy từ một cuốn sách giáo khoa điển hình.
According to the testers, the results from the recent National Assessment in History, like scores from earlier tests, show that young people are “abysmally ignorant” of their own history.
Theo những nhà tổ chức bài kiểm tra, kết quả từ bản đánh giá Lịch sử Quốc gia gần đây, như những số điểm đạt được từ các bài kiểm tra trước, chỉ ra rằng người trẻ tuổi đang mù tịt một cách thậm tệ về chính lịch sử của họ.
Invoking the tragedy of last September, historian Diane Ravitch hitched her worries about our future to the idea that our nation’s strength is endangered by youth who do poorly on such tests.
Nói về thảm kịch của tháng 9 vừa rồi, nhà lịch sử học Diane Ravitch đã gắn sự lo lắng của cô ấy về tương lai của chúng ta với quan điểm rằng tiềm lực của quốc gia mình đang bị đe doạ bởi những người trẻ, những người có kết quả không tốt ở những bài kiểm tra.
But if she were correct, we would have gone down the tubes in 1917!
Nhưng nếu như cô ấy đã đúng, lịch sử loài người có thể đã đi vào hồi kết hồi năm 1917.
There is a huge difference between saying “Kids don’t know the history we want them to know” and saying “Kids don’t know history at all.”
Có một sự khác biệt lớn giữa việc nói "Những đứa trẻ không biết thứ lịch sử chúng ta muốn chúng biết" và nói "Những đứa trẻ không biết tí gì về lịch sử cả."
Historical knowledge burrows itself into our cultural pores even if young people can’t marshal it when faced with a multiple-choice test.
Kiến thức lịch sử tự thấm nhuần vào gốc gác văn hoá của chúng ta ngay cả khi những người trẻ tuổi không thể sắp xếp nó khi đối mặt với một bài kiểm tra trắc nghiệm.
If we weren’t such hypocrites (or maybe if we were better historians) we’d have to admit that today’s students follow in our own footsteps.
Nếu chúng ta không phải là những kẻ giả nhân giả nghĩa (hoặc nếu chúng ta là nhứng nhà sử học tốt bụng) chúng ta có thể phải chấp nhận rằng những học sinh ngày nay đang đi theo bước chân của chính chúng ta.
For too long we’ve fantasized that by rewriting textbooks we could change how history is learned.
Trong một thời gian dài, chúng ta đã ảo tưởng rằng bằng cách viết lại sách giáo khoa, chúng ta có thể thay đổi cách học lịch sử.
The problem, however, is not the content of textbooks but the very idea of them.
Tuy nhiên, vấn đề không phải là nội dung của cuốn sách mà là quan điểm mà chúng được gửi gắm.
No human mind could retain the information crammed into these books in 1917, and it can do no better now.
Không có một trí tuệ con người nào có thể nhớ được thông tin được nhồi nhét trong những cuốn sách đó vào năm 1917, và bây giờ cũng không khá hơn.
If we have learned anything from history that can be applied to every time period, it is that the only constant changes.
Nếu chúng ta học được bất kì điều gì từ lịch sử mà có thể áp dụng vào mọi thời đại, thì đó là cái không đổi duy nhất.
The teaching of history, or any subject for that matter, is no exception.
Việc dạy lịch sử nói riêng hay bất kì môn học nào cũng vậy, không có ngoại lệ.
The question is no longer whether to bring new technologies into everyday education; now, the question is which technologies are most suitable for the range of topics covered in junior high and high school history classrooms.
Vấn đề không còn là có đem được các công nghệ mới vào giáo dục hàng ngày được hay không mà vấn đề ở chỗ công nghệ nào là phù hợp nhất cho các chủ đề được giảng dạy trong các lớp học lịch sử ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Fortunately, technology has provided us with opportunities to present our Civil War lesson plans or our American Revolution lesson plans in a variety of new ways.
May mắn thay, khoa học kĩ thuật đã tạo cơ hội để chúng ta trình bày các giáo án cho bài học nội chiến và Cách mạng Mỹ theo nhiều cách đa dạng và mới mẻ.
Teachers can easily target and engage the learners of this generation by effectively combining the study of history with innovative multimedia.
Thầy cô giáo có thể dễ dàng đặt mục tiêu và khuyến khích học sinh thời nay bằng việc kết hợp một cách có hiệu quả việc học lịch sử với các phương tiện truyền thông hiện đại.
PowerPoint and presentations, in particular, can expand the scope of traditional classroom discussion by helping teachers to explain abstract concepts while accommodating students’ unique learning styles.
PowerPoint và những bài thuyết trình nói riêng có thể mở rộng phạm vi của các cuộc thảo luận ở các lớp học truyền thống bằng việc giúp đỡ các thầy cô giáo giải thích các khái niệm trừu tượng trong khi trang bị cho học sinh các phương pháp học tập độc đáo.
PowerPoint study units that have been pre-made for history classrooms include all manner of photos, prints, maps, audio clips, video clips and primary sources which help to make learning interactive and stimulating.
Các bài học PowerPoint được làm sẵn cho các tiết học lịch sử bao gồm tất cả các thể loại từ ảnh chụp, ảnh in, bản đồ, trích đoạn âm thanh, trích đoạn hình ảnh và các nguồn chính giúp làm cho việc học kích thích và nhiều tương tác hơn.
Presenting lessons in these enticing formats helps technology-driven students retain the historical information they’ll need to know for standard exams.
Việc truyền đạt các bài học theo những cách thú vị này sẽ giúp cho những học sinh thích thú với công nghệ tiếp thu được những kiến thức lịch sử chúng cần cho những bài kiểm tra tiêu chuẩn.
Whether you’re covering Revolutionary War lesson plans or World War II lesson plans, PowerPoint study units are available in formats to suit the needs of your classroom.
Cho dù bạn có trình bày giáo án về cách mạng chính trị hay Chiến tranh thế giới thứ 2, luôn có sẵn các giáo án PowerPoint mẫu cho từng nhu cầu học tập.
Multimedia teaching instruments like PowerPoint software are getting positive results the world over, framing conventional lectures with captivating written, auditory and visual content that helps students recall names, dates and causal relationships within a historical context.
Những công cụ giảng dạy đa phương tiện như phần mềm PowerPoint sẽ đem lại những ảnh hưởng tích cực cho thế giới, làm mới lại bài giảng truyền thống với những câu từ cuốn hút, nội dung về âm thanh và hình ảnh giúp học sinh ghi nhớ những cái tên, ngày tháng và các mối quan hệ nhân quả trong từng hoàn cảnh lịch sử.
History continues to show us that new times bring new realities.
Lịch sử vẫn đang tiếp tục cho chúng ta thấy rằng thời đại mới mang lại những hiện thực mới.
Education is no exception to the rule.
Giáo dục cũng không ngoại lệ.
The question is not whether to bring technology into the educational environment.
Vấn đề không phải là có nên mang công nghệ vào môi trường giáo dục hay không.
Rather, the question is which technologies are suitable for U.S and world history subjects, from Civil War lesson plans to World War II lesson plans.
Thay vào đó, vấn đề là công nghệ nào thực sự phù hợp cho các môn lịch sử của Mỹ và thế giới, từ giáo án về Cuộc nội chiến đến Chiến tranh thế giới thứ 2.
Whether you’re covering your American Revolution lesson plans or your Cold War lesson plans, PowerPoint presentations are available in pre-packaged formats to suit your classroom’s needs.
Dù cho giáo án có nói về Cách mạng Mỹ hay Chiến tranh lạnh thì bạn hoàn toàn có thể sử dụng những mẫu bài giảng sẵn có để phù hợp với nhu cầu học tập.
Meanwhile, some academic historians hold a different view on the use of technology in teaching history.
Trong khi đó, một vài nhà sử học hàn lâm lại có quan điểm khác trong việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy lịch sử.
One reason they hold is that not all facts can be recorded by film or videos and literature is relatively feasible in this case.
Một trong số đó là không phải tất cả sự thật đều được ghi lại bằng phim hay video trong khi các tài liệu viết lại khả thi hơn trong trường hợp này.
Another challenge they have to be faced with is the painful process of learning a new technology like the making of PowerPoint and the editing of audio and video clips which is also reasonable especially to some elderly historians.
Một thử thách khác cần được giải quyết là sự khó khăn trong việc tiếp thu một công nghệ mới như làm PowerPoint và chỉnh sửa video và âm thanh, vốn là một vấn đề có thể thấy rõ, đặc biệt với những sử gia có tuổi.

Từ vựng (22)

  • abssorbed (abssorbed*) — thu hút
  • be enraptured with (biː) (ɪnˈræp.tʃɚd) (wɪð) — vô cùng thích thú với cái gì
  • high-definition television (haɪ) (ˌdef.ɪˈnɪʃ.ən) (ˈtel.ə.vɪʒ.ən) — màn hình TV độ phân giải cao
  • enthralled (ɛnˈθɹɔɫd) — hoàn toàn bị lôi cuốn, mê hoặc
  • obsolete (ˌɑːb.səlˈiːt) — lỗi thời
  • mortal (ˈmɔːr.t̬əl) — gây chết người
  • flash-in-the-pan (flæʃ) (ˈɪn, ɪn) (ðə) (pæn) — làm chuyện đầu voi đuôi chuột
  • overblown (ˌoʊ.vɚˈbloʊn) — quá mức
  • rhetoric (ˈret̬.ɚ.ɪk) — khoa trương
  • moribund (ˈmɔːr.ɪ.bʌnd) — gần chết; hấp hối; suy tàn
  • parody (ˈper.ə.di) — văn nhại, thơ nhại
  • The world has turned on its head (ðə) (wɝːld) (hæz) (tɝːn) (ɑːn) (ɪts) (hed) — Thế giới đã bắt đầu chú ý đến
  • woefully (ˈwoʊ.fəl.i) — ủ rũ, thiểu não
  • abysmally (əˈbɪz.məl.i) — thậm tệ
  • go down the tubes (ɡoʊ) (daʊn) (ðə) (ˈtubz) — đi vào hồi kết
  • marshal (ˈmɑːr.ʃəl) — sự sắp đặt
  • hypocrites (ˈhɪpəˌkɹɪts) — kẻ đạo đức giả; kẻ giả nhân giả nghĩa
  • be crammed into (biː) (kræmd) (ˈɪn.tuː) — được nhồi nhét trong
  • captivating (ˈkæp.tə.veɪ.t̬ɪŋ) — quyến rũ
  • causal (ˈkɑː.zəl) — nhân quả
  • American Revolution (əˈmer.ɪ.kən) (ˌrev.əˈluː.ʃən) — Cách mạng Mỹ
  • lesson plan (ˈles.ən) (plæn) — giáo án