← Danh sách bài đọc
Bài 232

Lighting up the lies

Thắp sáng những lời nói dối

Last year Sean A. Spence, a professor at the school of medicine at the University of Sheffield in England, performed brain scans that showed that a woman convicted of poisoning a child in her care appeared to be telling the truth when she denied committing the crime.
Năm ngoái Sean A.Spence, một giáo sư tại trường Y thuộc đại học Sheffield ở Anh, đã thực hiện quét não bộ một người phụ nữ bị kết tội đầu độc đứa trẻ mà cô ấy đang chăm sóc, để xác minh việc cô ấy phủ nhận hành vi phạm tội của mình là đúng.
This deception study, along with two others performed by the Sheffield group, was funded by Quickfire Media, a television production company working for the U.K.’s Channel 4, which broadcast videos of the researchers at work as part of a three-part series called “Lie Lab”.
Nghiên cứu về sự dối trá này, cùng với hai nghiên cứu khác do nhóm Sheffield thực hiện, được tài trợ bởi Quickfire Media, một công ty sản xuất truyền hình làm việc cho Kênh 4 của Vương quốc Anh, kênh này đã phát các video về quá trình làm việc của các nhà nghiên cứu trong loạt phim ba phần có tên gọi “Phòng thí nghiệm nói dối”.
The brain study of the woman later appeared in the journal European Psychiatry.
Nghiên cứu về bộ não của người phụ nữ sau đó đã xuất hiện trên báo Tâm thần học Châu Âu.
Functional magnetic resonance imaging (fMRI) purports to detect mendacity by seeing inside the brain instead of tracking peripheral measures of anxiety—such as changes in pulse, blood pressure or respiration —measured by a polygraph.
Chức năng chụp cộng hưởng từ (fMRI) nhằm mục đích phát hiện sự dối trá bằng cách nhìn vào bên trong não thay vì theo dõi các phản ứng bên ngoài—chẳng hạn như những thay đổi về mạch, huyết áp hoặc hô hấp—được đo bằng máy đo đa chỉ số (máy phát hiện nói dối).
Besides drawing hundreds of thousands of viewers, fMRI has pulled in entrepreneurs.
Bên cạnh việc thu hút hàng trăm nghìn người xem, fMRI còn thu hút các doanh nhân.
Two companies—Cephos in Pepperell, Mass., and No Lie MRI in Tarzana, Calif.—claim to predict with 90 percent or greater certitude whether you are telling the truth.
Hai công ty—Cephos ở Pepperell, Mass., và No Lie MRI ở Tarzana, Calif.—tuyên bố máy đo phát hiện nói dối với độ chính xác 90% hoặc cao hơn.
No Lie MRI, whose name evokes the casual familiarity of a walk-in dental clinic in a strip mall, suggests that the technique may even be used for “risk reduction in dating” .
No lie MRI, cái tên thường được phòng khám nha khoa ở một trung tâm mua sắm dải sử dụng, gợi ý rằng kỹ thuật này thậm chí có thể được dùng để “giảm thiểu rủi ro khi hẹn hò”.
Many neuroscientists and legal scholars doubt such claims—and some even question whether brain scans for lie detection will ever be ready for anything but more research on the nature of deception and the brain.
Nhiều Nhà thần kinh học và học giả pháp lý nghi ngờ những tuyên bố như vậy—một số người thậm chí còn đặt câu hỏi rằng liệu quét não để phát hiện nói dối có bị sử dụng ngoài mục đích nghiên cứu thêm về bản chất của sự lừa dối và não bộ hay không.
An fMRI machine tracks blood flow to activated brain areas.
Một máy fMRI theo dõi lưu lượng máu đến các vùng não đã được cho sử dụng.
The assumption in lie detection is that the brain must exert extra effort when telling a lie and that the regions that do more work get more blood.
Giả định trong phát hiện nói dối là não phải nỗ lực nhiều hơn khi nói dối và các vùng hoạt động nhiều hơn sẽ nhận được nhiều máu hơn.
Such areas light up in scans; during the lie studies, the illuminated regions are primarily involved in decision making.
Những khu vực như vậy sẽ sáng hơn các vùng khác khi quét; trong các nghiên cứu về nói dối, các vùng sáng chủ yếu liên quan đến việc ra quyết định.
To assess how fMRI and other neurocience findings affect the law, the Mac- Arthur Foundation put up $10 million last year to pilot for three years the Law and Neuroscience Project.
Để đánh giá fMRI và các phát hiện khoa học thần kinh khác ảnh hưởng đến luật pháp như thế nào, Quỹ Mac-Arthur đã chi 10 triệu đô la vào năm ngoái để thí điểm Dự án Luật và Khoa học thần kinh trong ba năm.
Part of the funding will attempt to set criteria for accurate and reliable lie detection using fMRI and other brain-scanning technology.
Một phần kinh phí sẽ cố gắng thiết lập các tiêu chí để phát hiện nói dối chính xác và đáng tin cậy bằng cách sử dụng fMRI và công nghệ quét não khác.
“I think it’s not possible, given the current technology, to trust the results,” says Marcus Raichle, a neuroscientist at the Washington University School of Medicine in St. Louis who heads the project’s study group on lie detection.
Marcus Raichle, một Nhà thần kinh học tại Trường Y Đại học Washington ở St. Louis, người đứng đầu nhóm nghiên cứu của dự án về phát hiện nói dối, cho biết: “Tôi nghĩ rằng với công nghệ hiện tại thì không thể tin tưởng vào kết quả".
“But it’s not impossible to set up a research program to determine whether that’s possible.”
“Nhưng không phải là không thể thiết lập một chương trình nghiên cứu để xác định xem điều đó có khả thi hay không.”
A major review article last year in the American Journal of Law and Medicine by Henry T. Greely of Stanford University and Judy Illes, now at the University of British Columbia, explores the deficiencies of existing research and what may be needed to move the technology forward.
Một bài báo đánh giá năm ngoái trên Tạp chí Luật và Y học Hoa Kỳ của Henry T.Greely thuộc Đại học Stanford và Judy Illes, hiện đang làm việc tại Đại học British Columbia, đã khám phá những thiếu sót của nghiên cứu hiện có và những gì có thể cần thiết để thúc đẩy công nghệ phát triển.
The two scholars found that lie detection studies conducted so far (still less than 20 in all) failed to prove that fMRI is “effective as a lie detector in the real world at any accuracy level.”
Hai học giả nhận thấy rằng các nghiên cứu phát hiện nói dối được thực hiện cho đến nay (vẫn chưa đến 20 nghiên cứu) đã không chứng minh được rằng fMRI “hiệu quả như một máy phát hiện nói dối trong thế giới thực ở bất kỳ mức độ chính xác nào”.
Most studies examined groups, not individuals.
Hầu hết các nghiên cứu là kiểm tra trên các nhóm, chứ không phải cá nhân.
Subjects in these studies were healthy young adults—making it unclear how the results would apply to someone who takes a drug that affects blood pressure or has a blockage in an artery.
Đối tượng trong các nghiên cứu này là những người trẻ tuổi khỏe mạnh - không rõ kết quả sẽ áp dụng như thế nào đối với người dùng thuốc điều trị huyết áp hoặc bị tắc nghẽn động mạch.
And the two researchers questioned the specificity of the lit-up areas; they noted that the regions also correlate with a wide range of cognitive behaviors, including memory, self- monitoring and conscious self-awareness.
Và hai nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi về tính đặc thù của các khu vực sáng; họ lưu ý rằng các khu vực đó cũng tương quan với một loạt các hành vi nhận thức, bao gồm trí nhớ, tự giám sát và sự nhận thức có ý thức.
The biggest challenge for which the Law and Neuroscience Project is already funding new research—is how to diminish the artificiality of the test protocol.
Thách thức lớn nhất mà Dự án Luật và Khoa học Thần kinh đã tài trợ cho nghiên cứu mới—là làm thế nào để giảm bớt tính giả thiết của phương thức thử nghiệm.
Lying about whether a playing card is the seven of spades may not activate the same areas of the cortex as answering a question about whether you robbed the comer store.
Thử nghiệm nói dối về việc một quân bài có phải là quân 7 bích có thể không kích hoạt các vùng vỏ não tương tự như khi trả lời câu hỏi liệu bạn có cướp cửa hàng ở góc phố hay không.
In fact, the most realistic studies to date may have come from the Lie Lab television programs.
Trên thực tế, những nghiên cứu thực tế nhất cho đến nay có thể đến từ các chương trình truyền hình phòng thí nghiệm nói dối.
The two companies marketing the technology are not waiting for more data.
Hai công ty tiếp thị công nghệ này không chờ đợi thêm nhiều dữ liệu hơn.
Cephos is offering scans without charge to people who claim they were falsely accused if they meet certain criteria in an effort to get scans accepted by the courts.
Cephos sẽ cung cấp các bản quét miễn phí cho những người cho rằng họ bị buộc tội sai nếu họ đáp ứng các tiêu chí nhất định, nhằm nỗ lực để các bản quét được tòa án chấp nhận.
Allowing scans as legal evidence could open a potentially huge and lucrative market.
Cho phép bản quét làm bằng chứng pháp lý có thể mở ra một thị trường sinh lợi và tiềm năng khổng lồ.
“We may have to take many shots on goal before we actually see a courtroom,” says Cephos chief executive Steven Laken.
Giám đốc điều hành của Cephos, Steven Laken, cho biết: “Chúng tôi có thể phải thực hiện nhiều cú sút trúng khung thành trước khi thực sự nhìn thấy phòng xử án."
He asserts that the technology has achieved 97 percent accuracy and that the more than 100 people scanned using the Cephos protocol have provided data that have resolved many of the issues that Greely and Illes cited.
Ông khẳng định rằng công nghệ đã đạt được độ chính xác 97% và hơn 100 người được quét bằng phương pháp của Cephos đã cung cấp dữ liệu giải quyết được nhiều vấn đề mà Greely và Illes đã trích dẫn.
But until formal clinical trials prove that the machines meet safety and effectiveness criteria, Greely and Illes have called for a ban on non-research uses.
Nhưng cho đến khi các thử nghiệm lâm sàng chính thức chứng minh rằng máy móc đáp ứng các tiêu chí về an toàn và hiệu quả, Greely và Illes đã kêu gọi cấm sử dụng ngoài mục đích nghiên cứu.
Trials envisaged for regulatory approval hint at the technical challenges.
Các thử nghiệm được dự kiến để phê duyệt theo quy định gợi ý về những thách thức kỹ thuật.
Actors, professional poker players and sociopaths would be compared against average Joes.
Các diễn viên, người chơi poker chuyên nghiệp và những kẻ sát nhân xã hội sẽ được thử nghiệm để so sánh với những người bình thường.
The devout would go in the scanner after nonbelievers.
Những người sùng đạo sẽ đi vào máy quét sau những người không sùng đạo.
Testing would take into account social setting.
Thử nghiệm sẽ tính đến bối cảnh xã hội.
White lies—“no, dinner really was fantastic”—would have to be compared against untruths about sexual peccadilloes to ensure that the brain reacts identically.
Những lời nói dối không gây hại—“không, bữa tối thực sự rất tuyệt”—sẽ phải được so sánh với những lời nói dối về quan hệ tình dục để đảm bảo rằng bộ não phản ứng giống hệt nhau.
There potential for abuse prompts caution.
Có khả năng bị lạm dụng cần phải thận trọng.
“The danger is that people’s lives can be changed in bad ways because of mistakes in the technology,” Greely says.
Greely nói: “Điều nguy hiểm là cuộc sống của mọi người có thể bị thay đổi theo chiều hướng xấu do những sai lầm trong công nghệ."
“The danger for the science is that it gets a black eye because of this very high profile use of neuroimaging that goes wrong.”
"Vì sử dụng phương pháp nghiên cứu thần kinh nên có thể gây hậu quả nguy hiểm cho mắt nếu sai sót trong quá trình thử nghiệm."
Considering the long and controversial history of the polygraph, gradualism may be the wisest course to follow for a new diagnostic that probes an essential quality governing social interaction.
Xem xét lịch sử lâu dài và gây tranh cãi của phương pháp nói dối, chủ nghĩa tuần tiến có thể là hướng đi khôn ngoan nhất để thực hiện một chẩn đoán mới nhằm thăm dò chất lượng và ảnh hưởng tới xã hội

Từ vựng (9)

  • Psychiatry (saɪˈkaɪə.tri) — Tâm thần học
  • neuroimaging (neuroimaging*) — các cách xem hoạt động thần kinh (sử dụng các kỹ thuật định lượng để nghiên cứu cấu trúc và chức năng của hệ thống thần kinh trung ương)
  • gradualism (ˈɡɹædʒəwəˌɫɪzəm) — phương pháp từ từ, phương pháp tiệm tiến, tiệm tiến luận, Kinh tế: thuyết phát triển dần dần từng bước
  • mendacity (menˈdæs.ə.t̬i) — sự dối trá
  • anxiety (æŋˈzaɪ.ə.t̬i) — hành vi
  • peripheral (pəˈrɪf.ɚ.əl) — ngoại vi
  • entrepreneur (ˌɑːn.trə.prəˈnɝː) — doanh nhân
  • strip mall (strɪp) (mɑːl) — trung tâm mua sắm dải
  • neuroscientist (ˌnʊr.oʊˈsaɪ.ən.tɪst) — Nhà thần kinh học