← Danh sách bài đọc
Bài 241
The sense of flavour 2
Vị giác 2
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Scientists now believe that human beings acquired the sense of taste as a way to avoid being poisoned.
Các nhà khoa học ngày nay tin rằng con người cảm nhận hương vị như một cách để tránh bị ngộ độc.
Edible plants generally taste sweet; deadly ones, bitter.
Những loài thực vật ăn được thường có vị ngọt, còn những loài gây chết người thì có vị đắng.
Taste is supposed to help us differentiate food that’s good for us from food that’s not.
Hương vị được cho là sẽ giúp con người phân biệt được thực phẩm có lợi và có hại cho sức khoẻ.
The taste buds on our tongues can detect the presence of half a dozen or so basic tastes, including sweet, sour, bitter, salty, and umami (a taste discovered by Japanese researchers, a rich and full sense of deliciousness triggered by amino acids in foods such as shellfish, mushrooms, potatoes, and seaweed).
Nụ vị giác trên lưỡi có thể phân biệt được khoảng 6 loại vị cơ bản, bao gồm ngọt, chua, đắng, mặn và umami (một vị được phát hiện bởi các nhà nghiên cứu Nhật Bản, một cảm giác cực kỳ ngon lành được kích thích bởi các axit amin trong các loại thực phẩm như động vật có vỏ, nấm, khoai tây và rong biển).
Tastebuds offers a limited means of detection, however, compared with the human olfactory system, which can perceive thousands of different chemical aromas.
Tuy nhiên, nụ vị giác vẫn còn khá hạn chế trong việc phân biệt hương vị, so với hệ thống khứu giác của con người, có thể cảm nhận được hàng ngàn hương liệu hóa học khác nhau.
Indeed, ‘flavor’ is primarily the smell of gases being released by the chemicals you’ve just put in your mouth.
Thật vậy, ‘hương vị' đơn giản là mùi của các loại khí thoát ra khi các hóa chất tan trong miệng.
The aroma of food can be responsible for as much as 90% of its flavor.
Hương vị thực phẩm có thể đóng tới 90% vai trò tạo ra mùi vị.
The act of drinking, sucking or chewing a substance releases its volatile gases.
Hoạt động uống, hút hoặc nhai bất kỳ thứ gì sẽ giải phóng ra các loại khí dễ bay hơi.
They flow out of the mouth and up the nostrils, or up the passageway at the back of the mouth, to a thin layer of nerve cells called the olfactory epithelium, located at the base of the nose, right between the eyes.
Chúng tràn ra khỏi miệng và thông lên lỗ mũi, hoặc lên đường ở phía sau miệng, đến một lớp tế bào thần kinh mỏng được gọi là biểu mô khứu giác, nằm ở đáy mũi, ngay giữa hai mắt.
The brain combines the complex smell signals from the epithelium with the simple taste signals from the tongue, assigns a flavor to what’s in your mouth, and decides if it’s something you want to eat.
Bộ não kết hợp các tín hiệu mùi hương phức tạp từ biểu mô cùng với các tín hiệu hương vị đơn giản từ lưỡi, để gọi tên hương vị của thứ trong miệng, và quyết định liệu nó có phải là thứ bạn muốn ăn hay không.
Babies like sweet tastes and reject bitter ones; we know this because scientists have rubbed various flavors inside the mouths of infants and then recorded their facial reactions.
Trẻ sơ sinh thích vị ngọt và ghét vị đắng; Chúng ta biết điều này vì các nhà khoa học đã thoa nhiều hương vị khác nhau trong miệng của trẻ sơ sinh và sau đó ghi lại biểu cảm trên khuôn mặt của chúng.
A person’s food preferences, like his or her personality, are formed during the first few years of life, through a process of socialization.
Khẩu vị ăn uống của một người, tương tự như tính cách, được hình thành trong vài năm đầu tiên của cuộc đời, thông qua khoảng thời gian hoà nhập với xã hội.
Toddlers can learn to enjoy hot and spicy food, bland health food, or fast food, depending upon what the people around them eat.
Trẻ chập chững biết đi có thể học cách thưởng thức đồ ăn nóng và cay, thực phẩm sức khỏe nhạt hoặc thức ăn nhanh, tùy thuộc vào những gì những người xung quanh họ ăn.
The human sense of smell is still not fully understood.
Vị giác của con người vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ.
It is greatly affected by psychological factors and expectations.
Nó chịu chi phối bởi yếu tố tâm lý và kỳ vọng.
The mind filters out the overwhelming majority of chemical aromas that surround us, focusing intently on some, ignoring others.
Bộ não sẽ chọn lọc phần đa những mùi hương hóa học xung quanh chúng ta , do đó, tập trung vào một số mùi và bỏ qua những mùi khác.
People can grow accustomed to bad smells or good smells; they stop noticing what once seemed overpowering.
Con người bắt đầu quen dần với cả những mùi dễ chịu và khó ngửi; mà ngừng để ý xem loại mùi nào chiếm đa số hơn.
Aroma and memory are somehow inextricably linked.
Mùi vị và trí nhớ bằng một cách nào đó có sự liên kết chặt chẽ với nhau.
A smell can suddenly evoke a long-forgotten moment.
Mùi hương có thể bất chợt gợi lại một khoảnh khắc đã lãng quên từ lâu.
The flavours of childhood foods seem to leave an indelible mark, and adults often return to them, without always knowing why.
Hương vị của món ăn thời thơ ấu dường như để lại dấu ấn không thể phai mờ, và người trưởng thành thường nhớ về chúng mà chẳng bao giờ rõ nguyên nhân.
These ‘comfort foods’ become a source of pleasure and reassurance a fact that fast-food chains work hard to promote Childhood memories of Happy Meals can translate into frequent adult visits to McDonald’s’, like those of the chain’s ‘heavy users’, the customers who eat there four or five times a week.
Những" thực phẩm gợi sự thoải mái này" trở thành niềm vui và trấn an một sự thật rằng các chuỗi thức ăn nhanh đang ra sức thúc đẩy Ký ức tuổi thơ của Bữa ăn Hạnh phúc để thu hút lượng lớn khách hàng trưởng thành đến với chuỗi cửa hàng McDonald’s, giống như tập khách hàng thâm niên, người thường ghé ăn bốn đến năm lần một tuần.
The human craving for flavour has been a large unacknowledged and unexamined force in history.
Niềm khao khát hương vị của con người vốn vẫn là một nguồn sức mạnh tiềm ẩn trong lịch sử.
Royal empires have been built, unexplored lands have been traversed, great religions and philosophies have been forever changed by the spice trade.
Các đế chế hoàng gia được xây dựng, những vùng đất chưa được khám phá đã được đi qua, các tôn giáo và triết lý lớn đã thay đổi mãi mãi bởi hoạt động buôn bán gia vị.
In 1492, Christopher Columbus set sail in order to try to find new seasonings and thus to make his fortune with this most desired commodity of that time.
Vào năm 1492, Christopher Columbus đã dong buồm ra khơi với nỗ lực tìm kiếm những gia vị mới và do đó kiếm được bộn tiền với món hàng hóa được khao khát nhất thời bấy giờ.
Today, the influence of flavour in the world marketplace is no less decisive.
Ngày nay, tầm ảnh hưởng của hương vị trên thị trường thế giới cũng không kém phần quan trọng.
The rise and fall of corporate empires – soft-drink companies, snack-food companies, and fast-food chains – is frequently determined by how their products taste.
Sự trỗi dậy và sụp đổ của các đế chế tập đoàn - như các công ty nước giải khát, đồ ăn vặt, và chuỗi thức ăn nhanh - thường bị ảnh hưởng bởi yếu tố hương vị sản phẩm của họ.
The flavor industry emerged in the mid-1800s, as processed foods began to be manufactured on a large scale.
Ngành công nghiệp hương vị nổi lên vào giữa những năm 1800, khi thực phẩm chế biến sẵn bắt đầu được sản xuất trên quy mô lớn.
Recognizing the need for flavor additives, the early food processors turned to perfume companies that had years of experience working with essential oils and volatile aromas.
Nhận thấy nhu cầu đối với các chất phụ gia, các nhà chế biến thực phẩm xa xưa đã chuyển sang các công ty nước hoa có nhiều năm kinh nghiệm làm việc với các loại tinh dầu và mùi thơm dễ bay hơi.
The great perfume houses of England, France, and the Netherlands produced many of the first flavor compounds.
Các nhà sản xuất nước hoa lớn Anh, Pháp, Hà Lan đã sản xuất nhiều hợp chất tạo hương đầu tiên.
In the early part of the 20th century, Germany’s powerful chemical industry assumed the lead in flavour production.
Vào đầu thế kỷ 20, ngành công nghiệp hóa chất hùng mạnh của Đức đã dẫn đầu trong sản xuất hương liệu.
Legend has it that a German scientist discovered methyl anthranilate, one of the first artificial flavours, by accident while mixing chemicals in his laboratory.
Truyền thuyết tương truyền rằng một nhà khoa học người Đức đã phát hiện ra methyl anthranilate, một trong những hương vị nhân tạo đầu tiên, một cách tình cờ trong khi trộn các loại hóa chất trong phòng thí nghiệm của ông.
Suddenly, the lab was filled with the sweet smell of grapes.
Bất ngờ, phòng thí nghiệm tràn ngập mùi nho ngạt ngào.
Methyl anthranilate later became the chief flavoring compound of manufactured grape juice.
Methyl anthranilate sau đó trở thành hợp chất hương liệu chính trong sản xuất nước nho.
The quality that people seek most of all in a food, its flavour, is usually present in a quantity too infinitesimal to be measured by any traditional culinary terms such as ounces or teaspoons.
Đặc điểm đa số mọi người tìm kiếm trong một loại thực phẩm, chính là hương vị của nó, thường xuất hiện quá ít để đo lường được bởi thuật ngữ ẩm thực truyền thống nào như ounce hoặc thìa cà phê.
Today’s sophisticated spectrometers, gas chromatograph, and headspace vapor analyzers provide a detailed map of a food’s flavour components, detecting chemical aromas in amounts as low as one part per billion.
Máy quang phổ hiện đại, sắc ký khí, máy phân tích hơi hiện đại ngày nay cho biết bản đồ chi tiết về các thành phần hương vị của thực phẩm, phát hiện các hương liệu hóa học với chỉ một lượng nhỏ chỉ bằng một phần tỷ.
The human nose, however, is still more sensitive than any machine yet invented.
Tuy nhiên, mũi người vẫn nhạy hơn bất kì máy móc chưa được phát minh nào.
A nose can detect aromas present in quantities of a few parts per trillion.
Mũi người có thể phát hiện mùi hương chỉ xuất hiện với số lượng vài phần trên nghìn tỷ.
Complex aromas, such as those of coffee or roasted meat, may be composed of gases from nearly a thousand different chemicals.
Hương thơm phức tạp, chẳng hạn như cà phê hoặc thịt nướng, có thể bao gồm nhiều loại khí từ gần một ngàn hóa chất khác nhau.
The chemical that provides the dominant flavour of bell pepper can be tasted in amounts as low as 0.02 parts per billion; one drop is sufficient to add flavour to the amount of water needed to fill five average-sized swimming pools.
Hóa chất cung cấp hương vị chủ yếu của ớt chuông có thể được nếm với số lượng thấp chỉ 0,02 phần tỷ; một giọt là đủ để thêm hương vị vào lượng nước cần thiết để lấp đầy năm bể bơi kích cỡ trung bình.
Từ vựng (6)
- infinitesimal (ˌɪn.fɪ.nəˈtes.ə.məl) — rất nhỏ, vô cùng nhỏ
- edible (ˈed.ə.bəl) — có thể ăn được (không có độc)
- olfactory (ɑːlˈfæk.ter.i) — thuộc khứu giác
- indelible (ɪnˈdel.ə.bəl) — còn vết mãi
- reassurance (ˌriː.əˈʃʊr.əns) — trấn an
- volatile (ˈvɑː.lə.t̬əl) — dễ bay hơi