← Danh sách bài đọc
Bài 024

UNDOING OUR EMOTIONS

Gỡ Rối Những Xúc Cảm Trong Chúng Ta

Three generations ago, 180 young women wrote essays describing why they wanted to join a convent (a religious community of nuns).
Vào khoảng ba thế hệ trước, 180 người phụ nữ trẻ đã viết những bài tiểu luận, làm rõ về lý do tại sao họ lại muốn tham gia vào một tu viện (một cộng đồng về tôn giáo của các nữ tu).
Years later, a team of psychological researchers came across these autobiographies in the convent’s archives.
Nhiều năm sau đó, một nhóm những nhà nghiên cứu tâm lý học đã tìm được những cuốn Tự truyện nằm trong Kho lưu trữ văn thư thuộc về tu viện.
The researchers were seeking material to confirm earlier studies hinting at a link between having a good vocabulary in youth and a low risk of Alzheimer’s disease in old age. What they found was even more amazing.
Những nhà nghiên cứu đã đang trong quá trình tìm kiếm thêm tài liệu để xác thực các nghiên cứu trước đó, vốn đã gợi ý tới mối liên hệ giữa việc sở hữu một vốn ngôn từ tốt khi còn trẻ với khả năng mắc chứng Alzheimer thấp hơn khi về già. Những gì họ tìm thấy thậm chí còn thú vị hơn.
The researchers found that, although the young women were in their early twenties when they wrote their essays, the emotions expressed in these writings were predictive of how long they would live: those with upbeat autobiographies lived more than ten years longer than those whose language was more neutral.
Các nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng, tuy là những người phụ nữ trẻ này vẫn chỉ đang trong độ tuổi đôi mươi khi họ viết những bài tiểu luận này, những cảm xúc được bộc lộ trong cách hành văn đã phần nào phản ánh được tuổi thọ của họ sau này: chủ nhân của những Tự truyện với giọng văn vui tươi thường sống lâu hơn mười năm so với những người sử dụng những ngôn ngữ đơn điệu hơn.
Deborah Danner, a psychologist at the University of Kentucky who spearheaded the study, noted that the results were particularly striking because all members of the convent lived similar lifestyles, eliminating many variables that normally make it difficult to interpret longevity studies.
Deborah Danner, một nhà tâm lý học thuộc trường Đại Học Kentucky, người tiên phong trong công cuộc nghiên cứu này, nhận thấy rằng những kết quả nêu trên thật Đáng kinh ngạc, bởi vì, nếu như loại trừ những khả năng thường thấy có thể gây khó khăn cho việc nghiên cứu và lý giải tuổi thọ, hầu như tất cả các thành viên thuộc Nhà tu kín này đều có lối sống gần như tương tựa nhau.
‘It was a phenomenal finding’, she says.
‘Đây là một phát hiện phi thường’, cô ấy nói.
‘A researcher gets a finding like that maybe once in a lifetime.’
‘Có thể tiếp cận với một phát hiện như thế này, đây chính là một cơ hội có một không hai trong cuộc đời của một nhà nghiên cứu.’
However, she points out that no one has been able to determine why positive emotions might have such life-extending effects.
Tuy nhiên, cô ấy cũng chỉ ra rằng chưa một ai có thể làm rõ lý do vì sao những cảm xúc tích cực lại có tác dụng kéo dài tuổi thọ con người như vậy.
Barbara Fredrickson, Professor of Psychology at the University of Michigan, believes that part of the answer is the ‘undo effect’.
Barbara Fredrickson, Giáo sư ngành Tâm lý học thuộc Đại Học Michigan, tin rằng câu trả lời phần nào có liên quan đến ‘hiệu ứng hoàn tác’.
According to this theory, positive emotions help you live longer by shutting down the effects of negative ones.
Theo như thuyết này, những cảm xúc tích cực có thể giúp ta sống lâu hơn bằng cách ngăn chặn các ảnh hưởng cảm xúc tiêu cực.
Fredrickson’s theory begins with the observation that negative emotions, like fear and stress, enhance our flight-or-fight response to very real threats.
Học thuyết của Fredrickson bắt đầu qua kết quả quan sát được rằng, những cảm xúc tiêu cực, như nỗi sợ và sự căng thẳng, giúp tăng cường phản ứng chiến-hoặc-chạy của chúng ta trước một Mối đe dọa trong thực tiễn.
However, even when the emergency is gone, negative emotions produce lingering effects.
Tuy nhiên, ngay cả khi tình huống khẩn cấp đó đã qua đi, ảnh hưởng gây ra bởi những cảm xúc tiêu cực vẫn còn đọng lại và chưa thể biến mất hoàn toàn.
Brooks Gump, a stress researcher at the State University of New York, explains that one of these effects is excessive cardiovascular reactivity.
Brooks Gump, một nhà nghiên cứu chuyên tìm hiểu về cảm giác căng thẳng, giải thích rằng một trong những ảnh hưởng này bao gồm Phản ứng biến thiên Quá mức của các chỉ số tim mạch .
Behaviourally, Gump says, this reactivity is related to excessive vigilance: the state of being constantly on guard for potential dangers.
Trên phương diện hành vi, Gumps cho rằng, Phản ứng này có liên quan tới trạng thái đề phòng cao độ: là tình trạng phải thường xuyên duy trì cảnh giác với những mối nguy hiểm tiềm tàng.
Not only is it physically draining to live in a perpetual state of high vigilance, but high cardiovascular reactivity could be linked to increased chances of a heart attack.
Việc thường xuyên phải sống trong trạng thái thận trọng cao, không những khiến cho thể trạng kiệt quệ, mà những Phản ứng dẫn đến sự không ổn định cao của hệ tim mạch do nó mang lại có thể gia tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim.
Fredrickson believes positive emotions work their magic by producing a rapid unwinding of pent-up tension, restoring the system to normal.
Fredrickson tin rằng những cảm xúc tích cực có một khả năng thần kỳ giúp nhanh chóng giải phóng những căng thẳng bị Dồn nén và khôi phục hệ thống trở lại bình thường.
People who quickly bounce back from stress often speed the process by harnessing such emotions as amusement, interest, excitement, and happiness, she says.
Những người có thể nhanh chóng hồi phục sự ổn định sau trạng thái căng thẳng thường đẩy nhanh tiến độ này bằng cách khai thác những cảm xúc như vui vẻ, hứng thú, phấn khích, và hạnh phúc, bà cho hay.
To test her theory, Fredrickson told a group of student volunteers that they had only a few minutes to prepare a speech that would be critiqued by experts.
Để kiểm tra học thuyết của mình, Fredrickson đã nói với một nhóm sinh viên tình nguyện rằng họ sẽ chỉ có một vài phút để chuẩn bị một bài thuyết trình và sẽ được các chuyên gia phê bình.
After letting the students get nervous about that, Fredrickson then told them they wouldn’t actually have to deliver their speeches.
Sau khi khiến cho những học sinh của mình trở nên lo lắng về vấn đề đó, Fredrickson liền bảo họ rằng họ sẽ không thực sự phải nộp bài thuyết trình trên.
She monitored heart rates and blood pressure.
Bà cũng đã tiến hành đo nhịp tim và huyết áp của những học sinh đó.
Not surprisingly, all students got nervous about their speeches, but those who viewed the experiment with good-humoured excitement saw their heart rates return to normal much more quickly than those who were angry about being fooled.
Và không ngoài dự đoán, tất cả các học sinh đều cảm thấy lo lắng cho bài thuyết trình của mình; nhưng với những người coi thử nghiệm này là một trò đùa hài hước thú vị, nhịp tim của họ trở lại bình thường nhanh hơn rất nhiều so với những người cảm thấy tức giận vì cảm thấy bị lừa.
In a second experiment, Fredrickson reported that even those who normally were slow to bounce back could be coached to recover more quickly by being told to view the experiment as a challenge, rather than a threat.
Trong thử nghiệm thứ 2, Fredrickson báo cáo rằng những người chậm hồi phục nhịp tim có thể được huấn luyện để học cách hồi phục nhanh hơn bằng cách được yêu cầu xem thử nghiệm đó như là một thử thách thay vì là một Mối đe dọa.
Fredrickson believes that positive emotions make people more flexible and creative.
Fredrickson tin rằng những cảm xúc tích cực giúp cho con người trở nên Linh hoạt và sáng tạo.
Negative emotions, she says, give a heightened sense of detail that makes us hypersensitive to minute clues related to the source of a threat.
Những cảm xúc tiêu cực, theo bà, là có thể gia tăng cảm giác đối với những chi tiết và khiến cho chúng ta trở nên Siêu nhạy cảm với những dấu hiệu nhỏ nhất mà có liên quan đến nguồn gốc của Mối đe dọa.
But that also produces ‘tunnel vision’ in which we ignore anything unrelated to the danger.
Tuy nhiên nó cũng góp phần kích hoạt hiệu ứng ‘Tầm nhìn hình ống’, khiến cho chúng ta lập tức bỏ qua những thứ không liên quan tới nguồn gốc mối nguy hiểm.
Fredrickson speculated that just as positive emotions can undo the cardiovascular effects of negative ones, they may also reverse the attention-narrowing effects of negative feelings: broadening our perspectives.
Fredrickson suy đoán rằng, cũng giống như cách mà những cảm xúc tích cực có thể xóa bỏ những tác động của cảm xúc tiêu cực ảnh hưởng lên tim mạch, có khả năng chúng còn đảo ngược hiệu ứng thu hẹp sự chú ý tạo ra bởi cảm xúc tiêu cực: đó là mở rộng tầm nhìn của chúng ta.
To verify her theory, Fredrickson showed a group of students some film clips- some saw frightening clips, some saw humorous ones or peaceful ones.
Để xác nhận học thuyết của mình, Fredrickson đã cho một nhóm học sinh xem một vài đoạn phim ngắn - một số người được xem những thước phim kinh dị, số khác sẽ xem những thước phim có yếu tố hài hước hoặc là bình lặng hơn.
They then did a matching test in which they were shown a simple drawing and asked which of two other drawings it most resembled.
Sau đó, họ thực hiện một bài kiểm tra đối sánh, trong đó họ được xem một bản vẽ đơn giản và được hỏi nó giống với bản nào nhất trong số hai bản vẽ khác.
The drawings were designed so that people would tend to give one answer if they focused on details, and another answer if they focused on the big picture.
Các bản vẽ được thiết kế theo một hướng sẽ khiến cho mọi người có xu hướng đưa ra một câu trả lời duy nhất nếu như họ chú ý vào những tiểu tiết, và sẽ trả lời câu trả lời còn lại nếu họ tập trung vào toàn cảnh bức tranh.
The results confirmed Fredrickson’s suspicion that positive emotions affect our perceptions.
Kết quả đạt được đã xác thực nghi ngờ của Fredrickson về việc những cảm xúc tích cực có thể ảnh hưởng nhận thức của chúng ta.
Students who had seen the humorous or peaceful clips were more likely to match objects according to broad impressions.
Những học sinh được cho xem những đoạn phim hài hước hoặc yên bình có khả năng sẽ ghép hình dựa trên góc nhìn rộng hơn.
This fits with the role that positive emotions might have played in early human tribes, Fredrickson says.
Fredrickson cho rằng điều này hoàn toàn phù hợp với những vai trò của cảm xúc tích cực trong các bộ lạc sơ khai của loài người.
Negative emotions provided focus, which was important for surviving in life-or-death situations, but the ability to feel positive emotions was of long-term value because it opened the mind to new ideas.
Những cảm xúc tiêu cực tạo ra sự tập trung, một thứ tối quan trọng để có thể sống sót trong những trường hợp dần ranh giới sinh - tử, tuy nhiên khả năng cảm nhận được những cảm xúc tích cực lại có giá trị lâu dài hơn, vì nó mở mang đầu óc cho những ý tưởng mới.
Humour is a good example of this.
Sự hài hước chính là một ví dụ thích hợp cho điều này.
She says: ‘The emotions are transient, but the resources are durable.
Bà cho rằng: ‘Những cảm xúc có thể chỉ là thoáng qua, những cội nguồn tạo ra chúng lại bền lâu hơn nhiều.
If you building a friendship through being playful, that friendship is a lasting resource.’
Nếu bạn xây dựng một tình bạn thông qua việc đùa vui với nhau, tình bạn đó chính là một nguồn lực dài lâu.’
So while the good feelings may pass, the friendship remains.
Vậy nên những cảm giác vui vẻ có thể tan biến, nhưng tình bạn thì vẫn còn đó.
On an individual level, Fredrickson’s theory also says that taking time to do things that make you feel happy isn’t simply self-indulgent.
Trên mức độ cá nhân, học thuyết của Fredrickson cũng nói rằng việc dành thời gian để làm những điều khiến cho mình hạnh phúc thì không đơn giản chỉ là tự nuông chiều bản thân.
Not only are these emotions good for the individual, but they are also good for society.
Những cảm xúc này không chỉ có lợi cho một mình chúng ta, mà nó còn giúp ích cho xã hội.
Other researchers are intrigued by Fredrickson’s findings.
Phát hiện của Fredrickson đã khơi dậy sự hứng thú của những nhà nghiên cứu khác.
Susan Folkman, of the University of California, has spent two decades studying how people cope with long-term stresses such as bereavement, or caring for a chronically ill child.
Susan Folkman, từ Đại Học California, đã dành ra hai thập kỷ chỉ để nghiên cứu về cách con người ta đối mặt với áp lực trong thời gian dài thí dụ như một Sự mất mát lớn, hoặc là phải chăm lo cho một đứa trẻ phải trải qua bệnh tật trong nhiều năm.
Contrary to what one might expect, she says, these people frequently experience positive emotions.
Bà cho biết rằng, trái ngược với những điều người ta mong đợi, những người này thường xuyên cảm thấy tích cực.
‘These emotions aren’t there by accident’, she adds.
"Những cảm xúc này không phải ngẫu nhiên mà có", bà nói thêm.
‘Mother Nature doesn’t work that way, I think that they give a person time out from the intense stress to restore their resources and keep going.
‘Tự Nhiên không hoạt động theo cách đó, tôi nghĩ rằng nó cho con người một khoảng thời gian nghỉ ngơi khỏi quá trình căng thẳng dữ dội để họ có thể khôi phục năng lượng và tiếp tục tiến lên phía trước.
This is very consistent with Fredrickson’s work.’
Điều này lại có sự nhất quán với phát hiện của Fredrickson.’

Từ vựng (50)

  • Convent (ˈkɑːn.vənt) — Nhà tu kín
  • Psychological (ˌsaɪ.kəˈlɑː.dʒɪ.kəl) — Thuộc tâm lý
  • Nun (nʌn) — Ma Sơ, nữ tu dòng đền
  • Autobiographies (ˌɔtəbaɪˈɑɡɹəfiz) — Tự truyện
  • Archives (ˈɑɹˌkaɪvz) — Kho lưu trữ văn thư
  • Hint (v) (hɪnt) (ˈvi) — Đưa ra dấu hiệu
  • Alzheimer (ˈæɫzˌhaɪmɝ, ˈɑɫtsˌhaɪmɝ) — Alzheimer - một căn bệnh tác động đến trí nhớ, hành vi và suy nghĩ ở người già.
  • Risk (rɪsk) — Rủi ro, nguy hiểm
  • Predictive (prɪˈdɪk.tɪv) — Có tính dự đoán, đoán trước.
  • Upbeat (ˈʌp.biːt) — Lạc quan, vui vẻ
  • Neutral (ˈnuː.trəl) — Trung lập, đều đều
  • Spearhead (v) (ˈspɪr.hed) (ˈvi) — Dẫn đầu
  • Striking (ˈstraɪ.kɪŋ) — Đáng kinh ngạc
  • Interpret (-ˈtɝː-) — Giải thích, làm sáng tỏ
  • Longevity (lɑːnˈdʒev.ə.t̬i) — Tuổi thọ
  • Phenomenal (fəˈnɑː.mə.nəl) — Kỳ lạ, phi thường
  • Finding (n) (ˈfaɪn.dɪŋ) (ˈɛn) — Phát hiện
  • Once in a lifetime (wʌns) (ˈɪn, ɪn) (ˈeɪ, ə) (ˈlaɪf.taɪm) — Chỉ có một không hai
  • Life-extending (laɪf) (ɪkˈstend) — (có khả năng) kéo dài sự sống
  • Shutting down (ˈʃətɪŋ) (daʊn) — Ngăn chặn, loại bỏ
  • Observation (ˌɑːb.zɚˈveɪ.ʃən) — Sự quan sát
  • Flight-or-fight response (flaɪt) (ɔːr) (faɪt) (rɪˈspɑːns) — Phản ứng chạy-hay-chiến
  • Threat (θret) — Mối đe dọa
  • Emergency (ɪˈmɝː.dʒən.si) — Sự khẩn cấp
  • Lingering (ˈlɪŋ.ɡɚ.ɪŋ) — Vương vấn, còn lại
  • Excessive (ekˈses.ɪv) — Quá mức
  • cardiovascular (ˌkɑːr.di.oʊˈvæs.kjə.lɚ) — (Thuộc) tim mạch
  • Reactivity (ˌri.ækˈtɪv.ə.t̬i) — Phản ứng
  • Behaviourally (behaviourally*) — Theo hành vi
  • Vigilance (ˈvɪdʒ.əl.əns) — Sự cảnh giác, dè chừng
  • Constant(ly) (ˈkɑːn.stənt.li) — Liên tục
  • On guard (a) (ɑːn) (ɡɑːrd) (ˈeɪ, ə) — Đề phòng
  • Draining (ˈdreɪ.nɪŋ) — ( Làm cho) Kiệt sức, suy kiệt
  • Heart attack (chuyên ngành) (hɑːrt) (əˈtæk) (chuyn*) (ngnh*) — Nhồi máu cơ tim
  • Work their magic (wɝːk) (ðer) (ˈmædʒ.ɪk) — Đạt được mục đích (bằng cách sử dụng khả năng, tài năng của bản thân)
  • Pent-up (ˈpɛnt) (ʌp) — Dồn nén
  • Bounce back from something (baʊns) (bæk) (frɑːm) (ˈsʌm.θɪŋ) — Khôi phục/ hồi phục khỏi
  • Harness (ˈhɑːr.nəs) — Khai thác, sử dụng
  • Critique (krɪˈtiːk) — Phê bình, đánh giá
  • Speech (spiːtʃ) — Bài thuyết trình, bài phát biểu
  • Flexible (ˈflek.sə.bəl) — Linh hoạt
  • Hypersensitive (ˌhaɪ.pɚˈsen.sə.t̬ɪv) — Siêu nhạy cảm
  • Perspectives (pɝˈspɛktɪvz) — Góc nhìn, tầm nhìn
  • Long-term (lɑːŋ) (tɝːm) — Dài hạn
  • Transient (ˈtræn.zi.ənt) — Tạm thời, nhất thời, chóng tàn
  • Self-indulgent (self) (ɪnˈdʌl.dʒənt) — Bê tha, tự nuông chiều bản thân
  • Intrigue (v) (ɪnˈtriːɡ) (ˈvi) — Hấp dẫn, làm cho có hứng thú
  • Cope with (koʊp) (wɪð) — Đối mặt với, đương đầu với
  • Chronically (ˈkrɑː.nɪ.kəl.i) — Kinh niên
  • Bereavement (bɪˈriːv.mənt) — Sự mất mát