← Danh sách bài đọc
Bài 244
The beginning of intelligence
Sự khởi đầu của trí thông minh
Nguồn: https://ieltssongngu.com
The beginning of intelligence
Sự khởi đầu của trí thông minh
A No one doubts that intelligence develops as children grow older.
Không ai nghi ngờ về việc trí thông minh của trẻ em phát triển ghi chúng dần lớn lên.
Yet the concept of intelligence has proved both quite difficult to define in unambiguous terms and unexpectedly controversial in some respects.
Tuy nhiên định nghĩa trí thông minh tỏ ra là khá khó để xác định trong các điều kiện rõ ràng và dễ gây tranh cãi không ngờ trong một vài khía cạnh.
Although, at one level, there seem to be almost as many definitions of intelligence as people who have tried to define it, there is broad agreement on two key features.
Mặc dù vậy, ở một mức độ nào đó, dường như có khá nhiều định nghĩa về trí thông minh mà mọi người cố định rõ, có một sự đồng thuận lớn trên hai khía cạnh chính.
That is, intelligence involves the capacity not only to learn from experience but also to adapt to one’s environment.
Đó là trí thông minh không chỉ liên quan đến khả năng học từ trải nghiệm mà còn từ khả năng thích nghi với môi trường mới.
However, we cannot leave the concept there.
Tuy nhiên, chúng ta không thể lơ đi định nghĩa đó.
Before turning to what is known about the development of intelligence, it is necessary to consider whether we are considering the growth of one or many skills.
Trước khi xem mọi người đã biết những gì về sự phát triển trí thông minh, chúng ta cần xem xét liệu chúng ta đang xét sự phát triển một hay nhiều kỹ năng.
That question has been tackled in rather different ways by psychometricians and by developmentalists.
Các nhà tâm lý học và các nhà phát triển đã giải quyết câu hỏi này bằng nhiều cách khác nhau.
B The former group has examined the issue by determining how children’s abilities on a wide range of tasks intercorrelate, or go together.
Để kiểm tra vấn đề này, một nhóm trước đó đã quyết định xem cách một nhóm trẻ giải quyết một phạm vi lớn nhiệm vụ có tương quan hay đi đôi với nhau.
Statistical techniques have been used to find out whether the patterns are best explained by one broad underlying capacity, general intelligence, or by a set of multiple, relatively separate, special skills in domains such as verbal and visuospatial ability.
Họ sử dụng kỹ thuật thống kê để xem liệu các mẫu có thể được giải thích tốt nhất một loạt các khả năng cơ bản, trí thông minh chung chung, hay bằng nhiều kỹ năng đặc biệt, khác nhau tương đối trong phạm vi như khả năng ngôn ngữ và thị giác.
While it cannot be claimed that everyone agrees on what the results mean, most people now accept that for practical purposes it is reasonable to suppose that both are involved.
Mặc dù không thể cho rằng mọi người đều đồng ý với kết quả này, nhưng hầu hết đều đồng ý vì mục đích thực tiễn hợp lý để cho thấy cả hai khái niệm đều liên quan.
In brief, the evidence in favour of some kind of general intellectual capacity is that people who are superior (or inferior) on one type of task tend also to be superior (or inferior) on others.
Tóm lại, bằng chứng ủng hộ năng lực trí tuệ nói chung là người vượt trội (hoặc kém) hơn ai đó ở một loại nhiệm vụ cũng có xu hướng vượt trội (hoặc kém) hơn trong các nhiệm vụ khác.
Moreover, general measures of intelligence tend to have considerable powers to predict a person’s performance on a wide range of tasks requiring special skills.
Hơn nữa, các phương pháp đo lường trí thông minh chung có sức mạnh đáng kể tiên đoán trước khả năng của một người trước một loạt các nhiệm vụ yêu cầu các kỹ năng đặc biệt.
Nevertheless, it is plain that it is not at all uncommon for individuals to be very good at some sorts of task and yet quite poor at some others.
Tuy nhiên, rõ ràng là không phải hiếm gặp những cá nhân làm tốt ở một số lĩnh vực nhưng cũng có thể khá tệ ở một số lĩnh vực khác.
C Furthermore the influences that affect verbal skills are not quite the same as those that affect other skills.
Hơn nữa, một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng ngôn ngữ không giống như kỹ năng khác.
This approach to investigating intelligence is based on the nature of the task involved, but studies of age-related changes show that this is not the only, or necessarily the most important, approach.
Phương pháp này khám phá ra trí thông minh dựa trên bản chất của nhiệm vụ, nhưng nghiên cứu về sự thay đổi của độ tuổi chỉ ra rằng đó không phải là phương pháp duy nhất hay quan trọng nhất.
For instance, some decades ago, Horn and Cattell argued for a differentiation between what they termed ‘fluid’ and ‘crystallised’ intelligence.
Chẳng hạn, vài thập kỷ trước Horn và Cattel tranh luận về sự khác nhau giữa thuật ngữ trí thông minh “dễ thay đổi” và “khó thay đổi”.
Fluid abilities are best assessed by tests that require mental manipulation of abstract symbols.
Năng lực dễ thay đổi được đánh giá tốt nhất bởi các bài kiểm tra yêu cầu sự vận dụng trí não vào các biểu tượng trừu trượng.
Crystallised abilities, by contrast, reflect knowledge of the environment in which we live and past experience of similar tasks; they may be assessed by tests of comprehension and information.
Ngược lại, năng lực khó thay đổi phản ánh lượng kiến thức trong môi trường mà ta sống và kinh nghiệm trải qua các nhiệm vụ tương tự nhau, năng lực khó thay đổi được đánh giá bằng sự thấu hiểu và thông tin.
It seems that fluid abilities peak in early adult life, whereas crystallised abilities increase up to advanced old.
Có vẻ như năng lực dễ thay đổi đạt đỉnh vào thời gian đầu trưởng thành, trong khi năng lực khó thay đổi tăng dần theo độ tuổi.
D Developmental studies also show that the interconnections between different skills vary with age.
Những nghiên cứu phát triển cũng chỉ ra rằng sự liên kết các kỹ năng khác nhau thay đổi theo độ tuổi.
Thus in the first year of life an interest in perceptual patterns is a major contributor to cognitive abilities, whereas verbal abilities are more important later on.
Vậy nên trong năm đầu đời, việc quan tâm đến khuôn mẫu nhận thức là một nhân tố quan trọng đóng góp cho khả năng nhận thức, ngược lại khả năng ngôn ngữ lại quan trọng hơn sau đó.
These findings seemed to suggest a substantial lack of continuity between infancy and middle childhood.
Những phát hiện cho thấy sự thiếu hụt liên tục lớn giữa thời thơ ấu và giai đoạn thanh thiếu niên.
However, it is important to realise that the apparent discontinuity will vary according to which of the cognitive skills were assessed in infancy.
Tuy nhiên, nhận ra sự gián đoạn rõ ràng là quan trọng, điều này sẽ thay đổi theo các kỹ năng nhận thức thời thơ ấu.
It has been found that tests of coping with novelty do predict later intelligence.
Người ta phát hiện ra các bài kiểm tra độ giải quyết những điều mới lạ sẽ tiên đoán được trí thông minh sau đó.
These findings reinforce the view that young children’s intellectual performance needs to be assessed from their interest in and curiosity about the environment, and the extent to which this is applied to new situations, as well as by standardised intelligence testing.
Những nghiên cứu càng củng cố thêm cho quan điểm trí thông minh của trẻ cần được đánh giá từ sự hứng thú và tò mò về môi trường, mức độ áp dụng cho tình huống mới cũng như là bài kiểm tra trí thông minh tiêu chuẩn.
E These psychometric approaches have focused on children’s increase in cognitive skills as they grow older.
Phương pháp tiếp cận tâm lý tập trung vào sự phát triển của trẻ trong kỹ năng nhận thức khi trẻ lớn lên.
Piaget brought about a revolution in the approach to cognitive development through his arguments (backed up by observations) that the focus should be on the thinking processes involved rather than on levels of cognitive achievement.
Piaget đem đến cuộc cách mạng trong phương pháp phát triển nhận thức qua lập luận của ông (được chứng minh bằng sự quan sát), đó là nên tập trung vào quá trình tư duy hơn là mức độ đạt được thành tựu nhận thức.
These ideas of Piaget gave rise to an immense body of research and it would be true to say that subsequent thinking has been heavily dependent on his genius in opening up new ways of thinking about cognitive development.
Ý tưởng của Piaget đã tạo ra một cuộc nghiên cứu lớn, có thể nói rằng suy nghĩ sau đó đã phụ thuộc khá nhiều vào tài năng của ông khi mở ra một suy nghĩ mới về phát triển nhận thức.
Nevertheless, most of his concepts have had to be so radically revised, or rejected, that his theory no longer provides an appropriate basis for thinking about cognitive development.
Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa của ông đều bị sửa đổi triệt để hoặc bị loại bỏ, lý thuyết của ông không còn cung cấp cơ sở đúng đắn về phát triển nhận thức nữa.
To appreciate why that is so, we need to focus on some rather different elements of Piaget’s theorising.
Để tìm hiểu tại sao lại như vậy, chúng ta cần tập trung vào những yếu tố khác so với lý thuyết của Piaget.
F The first element, which has stood the test of time, is his view that the child is active agent of learning and of the importance of this activity in cognitive development.
Yếu tố đầu tiên, trường tồn theo năm tháng, là quan điểm của ông về một đứa trẻ hoạt động tích cực trong học tập và tầm quan trong của hoạt động này trong phát triển nhận thức.
Numerous studies have shown how infants actively scan their environment; how they prefer patterned to non-patterned objects, how they choose novel over familiar stimuli, and how they explore their environment as if to see how it works.
Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ sơ sinh chủ động tìm hiểu môi trường như thế nào, trẻ thích các vật có khuôn mẫu hơn vật không như thế nào, cách mà trẻ chọn tiểu thuyết thay vì vật kích thích quen thuộc và cách khám phá môi trường cứ như thể là muốn xem nó hoạt động như thế nào.
Children’s questions and comments vividly illustrate the ways in which they are constantly constructing schemes of what they know and trying out their ideas of how to fit new knowledge into those schemes or deciding that the schemes need modification.
Các câu hỏi và nhận xét của trẻ minh hoạ sinh động cách mà trẻ liên tục xây dựng sơ đồ cái mà chúng biết và cố bày tỏ quan điểm sao cho phù hợp kiến thức với kế hoạch đó hoặc quyết định kế hoạch nào cần sửa đổi.
Moreover, a variety of studies have shown that active experiences have a greater effect on learning than comparable passive experiences.
Ngoài ra, rất nhiều nghiên cứu chỉ ra các kinh nghiệm chủ động có ảnh hưởng lớn đến việc học hơn là kinh nghiệm thụ động.
However, a second element concerns the notion that development proceeds through a series of separate stages that have to be gone through step-by-step, in a set order, each of which is characterised by a particular cognitive structure.
Tuy nhiên, nhân tố thứ hai liên quan đến quan niệm mà quá trình phát triển thông qua một chuỗi các chặng riêng rẽ mà đi từng bước một, theo một trật tự, mỗi chặng có đặc điểm của một cấu trúc nhận thức đặc biệt.
That has turned out to be a rather misleading way of thinking about cognitive development, although it is not wholly wrong.
Hoá ra đó là một cách nghĩ lệch lạc về phát triển nhận thức, mặc dù nó không sai hoàn toàn.
Từ vựng (16)
- unambiguous (ˌʌn.æmˈbɪɡ.ju.əs) — rõ ràng
- controversial (ˌkɑːn.trəˈvɝː.ʃəl) — gây tranh cãi
- intercollerate (intercollerate*) — tương quan
- domain (doʊˈmeɪn) — phạm vi
- visuospatial ability (visuospatial*) (əˈbɪl.ə.t̬i) — khả năng thị giác
- fluid (ˈfluː.ɪd) — dễ thay đổi
- crystallised (crystallised*) — khó thay đổi
- manipulation (məˌnɪp.jəˈleɪ.ʃən) — sự vận dụng
- comprehension (ˌkɑːm.prəˈhen.ʃən) — sự thấu hiểu
- cognitive abilities (ˈkɑːɡ.nə.t̬ɪv) (əˈbɪɫəˌtiz) — khả năng nhận thức
- novelty (ˈnɑː.vəl.t̬i) — mới lạ
- thinking process (ˈθɪŋ.kɪŋ) (ˈprɑː.ses) — quá trình tư duy
- gave rise (ɡeɪv) (raɪz) — tạo ra, đem đến
- immense body of (ɪˈmens) (ˈbɑː.di) (əv) — lớn
- subsequent (ˈsʌb.sɪ.kwənt) — sau đó
- stood the test of time (stʊd) (ðə) (test) (əv) (taɪm) — trường tồn theo năm tháng