← Danh sách bài đọc
Bài 036
Soviet’s New Working Week
Tuần làm việc mới của Liên Xô
Nguồn: https://ieltssongngu.com
“There are no fortresses that Bolsheviks cannot storm”.
Không có một pháo đài nào mà người Bolsheviks không thể tấn công.
With these words, Stalin expressed the dynamic self-confidence of the Soviet Union’s Five Year Plan: weak and backward Russia was to turn overnight into a powerful modern industrial country.
Với những lời này, Stalin đã thể hiện sự tự tin đầy nhiệt huyết vào kế hoạch 5 năm của Liên Xô: nước Nga yếu ớt và lạc hậu sẽ nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp hiện đại hùng mạnh.
Between 1928 and 1932, production of coal, iron and steel increased at a fantastic rate, and new industrial cities sprang up, along with the world’s biggest dam.
Khoảng giữa năm 1928 đến 1932, sản lượng than, sắt và thép đã tăng với tốc độ cực kỳ ấn tượng, và những thành phố công nghiệp mới đã mọc lên, cùng với con đập lớn nhất thế giới.
Everyone’s life was affected, as collectivised farming drove millions from the land to swell the industrial proletariat.
Cuộc sống của mọi người bị ảnh hưởng, vì nền nông nghiệp tập thể hóa đã khiến hàng triệu người từ bỏ đất đai để gia nhập giai cấp vô sản công nghiệp.
Private enterprise disappeared in city and country, leaving the State supreme under the dictatorship of Stalin.
Doanh nghiệp tư nhân biến mất ở thành phố và nông thôn, để lại doanh nghiệp nhà nước tối cao dưới sự độc tài của Stalin.
Unlimited enthusiasm was the mood of the day, with the Communists believing that iron will and hard-working manpower alone would bring about a new world.
Lòng nhiệt huyết không giới hạn là cảm xúc trong những ngày đó, với những người Cộng sản tin rằng ý chí sắt đá và sức người lao động chăm chỉ có thể một mình kiến tạo nên một thế giới mới.
Enthusiasm spread to time itself, in the desire to make the state a huge efficient machine, where not a moment would be wasted, especially in the workplace.
Niềm đam mê lan tỏa theo thời gian, với mong muốn biến nhà nước trở thành một cỗ máy hiệu quả khổng lồ, nơi không một giây phút nào bị lãng phí, đặc biệt là ở nơi làm việc.
Lenin had already been intrigued by the ideas of the American Frederick Winslow Taylor (1856-1915), whose time-motion studies had discovered ways of stream-lining effort so that every worker could produce the maximum.
Lenin đã bị hấp dẫn bởi ý tưởng của một người Mỹ là Frederick Winslow Taylor (1856-1915), các nghiên cứu thời gian-chuyển động của ông đã phát hiện ra các cách sắp xếp hợp lý hóa sự nỗ lực để mỗi công nhân có thể sản xuất tối đa.
The Bolsheviks were also great admirers of Henry Ford’s assembly line mass production and of his Fordson tractors that were imported by the thousands.
Những người Bolsheviks cũng là những người rất khâm phục dây chuyền sản xuất hàng loạt của Henry Ford và máy kéo Fordson của ông, loại máy đã được hàng ngàn người nhập khẩu.
The engineers who came with them to train their users helped spread what became a real cult of Ford.
Các kỹ sư đã đến với họ để đào tạo người dùng của họ để giúp truyền bá những điều đã trở thành một sự sùng bái thực sự của Ford.
Emulating and surpassing such capitalist models formed part of the training of the new Soviet Man, a heroic figure whose unlimited capacity for work would benefit everyone in the dynamic new society.
Việc sao chép và vượt qua những mô hình tư bản này đã góp phần đào tạo ra thế hệ người Xô-viết mới, một hình tượng anh hùng với khả năng lao động vô hạn giúp ích cho mọi người trong xã hội mới năng động đó.
All this culminated in the Plan, which has been characterized as the triumph of the machine, where workers would become supremely efficient robot-like creatures.
Tất cả điều này đều là kết quả của Kế hoạch đã được mô tả như là sự thắng lợi của máy móc, nơi mà những người công nhân đã trở thành những sinh vật giống robot cực kỳ hiệu quả.
Yet this was Communism whose goals had always included improving the lives of the proletariat.
Tuy nhiên, mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản luôn bao gồm việc cải thiện cuộc sống của giai cấp vô sản.
One major step in that direction was the sudden announcement in 1927 that reduced the working day from eight to seven hours.
Một bước đi chính trong hướng đi này là thông báo bất ngờ năm 1927 rằng giảm số giờ làm việc trong ngày từ 8 xuống 7 giờ.
In January 1929, all Indus-tries were ordered to adopt the shorter day by the end of the Plan.
Vào tháng 1 năm 1929, tất cả các ngành công nghiệp được lệnh thực hiện ngày làm việc ngắn hơn trước khi Kế hoạch kết thúc.
Workers were also to have an extra hour off on the eve of Sundays and holidays.
Công nhân cũng phải có thêm 1 giờ nghỉ vào tối các ngày Chủ nhật và ngày lễ.
Typically though, the state took away more than it gave, for this was part of a scheme to increase production by establishing a three-shift system.
Tuy nhiên, điển hình là, nhà nước đã trừ đi nhiều hơn họ cho phép, điều đã là một phần của kế hoạch tăng sản lượng bằng cách thiết lập hệ thống 3 ca làm việc.
This meant that the factories were open day and night and that many had to work at highly undesirable hours.
Điều này có nghĩa là các nhà máy được phép mở cửa cả ngày lẫn đêm và nhiều công nhân phải làm việc vào những giờ rất không mong muốn.
Hardly had that policy been announced, though, then Yuri Larin, who had been a close associate of Lenin and architect of his radical economic policy, came up with an idea for even greater efficiency.
Chính sách đó hầu như đã không được thông báo, dù cho sau đó Yuri Larin, một người cộng sự thân thiết và kiến trúc sư của chính sách kinh tế cấp tiến của Lenin đã nảy ra một ý tưởng để đạt hiệu quả cao hơn nữa.
Workers were free and plants were closed on Sundays.
Công nhân được tự do và các nhà máy đóng cửa vào các ngày Chủ nhật.
Why not abolish that wasted day by instituting a continuous workweek so that the machines could operate to their full capacity every day of the week? When Larin presented his ideas to the Congress of Soviets in May 1929, no one paid much attention.
Tại sao không bãi bỏ những ngày lãng phí đó bằng cách thực hiện 1 tuần làm việc liên tục để máy móc có thể vận hành tối đa công suất của nó mỗi ngày trong tuần? Khi Larin giới thiệu ý tưởng của mình tại Quốc hội Liên Xô vào tháng 5/1929, đã không có ai chú ý.
Soon after, though, he got the ear of Stalin, who approved.
Tuy nhiên không lâu sau đó, ông đã nhận được sự phê chuẩn của Stalin.
Suddenly, in June, the Soviet press was filled with articles praising the new scheme.
Bất ngờ thay, vào tháng 6, báo chí Liên Xô đầy ắp những bài ca ngợi kế hoạch mới.
In August, the Council of Peoples’ Commissars ordered that the continuous workweek be brought into immediate effect, during the height of enthusiasm for the Plan, whose goals the new schedule seemed guaranteed to forward.
Vào tháng 8, Hội đồng nhân dân đã ra lệnh rằng tuần làm việc liên tục phải có hiệu lực ngay lập tức, trong thời gian đỉnh cao sự nhiệt tình đối với Kế hoạch, những mục tiêu mà lịch trình mới có vẻ được đảm bảo sẽ hướng tới.
The idea seemed simple enough but turned out to be very complicated in practice.
Ý tưởng có vẻ đơn giản nhưng hóa ra thực tế lại rất phức tạp .
Obviously, the workers couldn’t be made to work seven days a week, nor should their total work hours be increased.
Rõ ràng là, công nhân không thể bị ép làm việc 7 ngày một tuần, cũng không nên bị tăng tổng số giờ làm việc lên.
The solution was ingenious: a new five-day week would have the workers on the job for four days, with the fifth day free; holidays would be reduced from ten to five, and the extra hour off on the eve of rest days would be abolished.
Giải pháp thông minh là: một tuần mới gồm 5 ngày sẽ cho phép công nhân làm việc 4 ngày, nghỉ ngày thứ 5, số ngày nghỉ lễ sẽ được giảm từ 10 xuống còn 5, và giờ nghỉ thêm trong tối các ngày còn lại sẽ bị hủy bỏ.
Staggering the rest-days between groups of workers meant that each worker would spend the same number of hours on the job, but the factories would be working a full 360 days a year instead of 300.
Việc so sánh những ngày nghỉ giữa các nhóm công nhân có nghĩa là công nhân sẽ dành ra số giờ làm việc như nhau, nhưng nhà máy sẽ làm việc trong toàn bộ 360 ngày một năm thay vì 300.
The 360 divided neatly into 72 five-day weeks.
360 ngày đó được chia gọn thành 72 tuần gồm 5-ngày.
Workers in each establishment (at first factories, then stores and offices) were divided into five groups, each assigned a colour which appeared on the new Uninterrupted Work Week calendars distributed all over the country.
Những công nhân trong mỗi tổ chức (đầu tiên tại các nhà máy, sau đó đến các cửa hàng và văn phòng) được chia thành 5 nhóm, mỗi nhóm gán với một màu xuất hiện trên lịch Tuần Làm việc Không gián đoạn được phân phối khắp cả nước.
Colour-coding was a valuable mnemonic device since workers might have trouble remembering what their day off was going to be, for it would change every week.
Mã hóa màu là một dụng cụ ghi nhớ giá trị vì công nhân có thể khó nhớ ngày nghỉ của mình, khi nó thay đổi mỗi tuần.
A glance at the colour on the calendar would reveal the free day, and allow workers to plan their activities.
Một cái nhìn liếc qua màu sắc trên lịch đó thôi là có thể nhận ra ngày nghỉ, và cho phép công nhân lên kế hoạch cho các hoạt động của họ.
This system, however, did not apply to construction or seasonal occupations, which followed a six-day week, or to factories or mines which had to close regularly for maintenance: they also had a six-day week, whether interrupted (with the same day off for everyone) or continuous.
Tuy nhiên, hệ thống này đã không áp dụng vào ngành xây dựng và những công việc mùa vụ, những công việc theo hệ thống 1 tuần gồm 6 ngày, hoặc vào các nhà máy hoặc các mỏ phải đóng cửa thường xuyên để bảo dưỡng: họ cũng có một tuần gồm 6 ngày, dù là gián đoạn (cùng ngày nghỉ như mọi người) hay liên tục.
In all cases, though, Sunday was treated like any other day.
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, Chủ nhật được coi như bất kỳ một ngày nào khác.
Official propaganda touted the material and cultural benefits of the new scheme.
Sự tuyên truyền của chính quyền đã ca ngợi hệ thống đó và những lợi ích văn hóa của kế hoạch mới.
Workers would get more rest; production and employment would increase (for more workers would be needed to keep the factories running continuously); the standard of living would improve.
Công nhân sẽ được nghỉ ngơi nhiều hơn, năng suất và việc làm sẽ tăng (vì sẽ cần nhiều công nhân hơn để vận hành nhà máy liên tục); mức sống sẽ được cải thiện.
Leisure time would be more rationally employed, for cultural activities (theatre, clubs, sports) would no longer have to be crammed into a weekend, but could flourish every day, with their facilities far less crowded.
Thời gian nhàn rỗi sẽ được sử dụng hợp lý hơn, vì các hoạt động văn hóa (nhà hát, câu lạc bộ, thể thao) sẽ không còn bị nhồi nhét vào cuối tuần nữa, nhưng có thể phát triển mỗi ngày, với các cơ sở của họ ít đông đúc hơn nhiều.
Shopping would be easier for the same reasons.
Việc mua sắm sẽ trở nên dễ dàng hơn nhờ những lý do này.
Ignorance and superstition, as represented by organized religion, would suffer a mortal blow, since 80 per cent of the workers would be on the job on any given Sunday.
Sự ngu dốt và mê tín, như đã được đề cập bởi tôn giáo có tổ chức, sẽ phải chịu một tai họa chí mạng, vì 80% công nhân sẽ làm việc vào bất cứ ngày Chủ nhật cho trước nào.
The only objection concerned the family, where normally more than one member was working: well, the Soviets insisted, the narrow family was far less important than the vast common good and besides, arrangements could be made for husband and wife to share a common schedule.
Sự phản đối duy nhất có liên quan đến gia đình, nơi mà thông thường có hơn một thành viên lao động: tốt thôi, những người Xô Viết nhấn mạnh, gia đình hẹp kém quan trọng hơn nhiều so với gia đình lớn, sự sắp xếp có thể thực hiện cho cả vợ và chồng cod cùng một lịch trình chung.
In fact, the regime had long wanted to weaken or sideline the two greatest potential threats to its total dominance: organised religion and the nuclear family.
Trên thực tế, hệ thống cai trị từ lâu đã muốn làm suy yếu hoặc loại bỏ hai mối đe dọa tiềm ẩn lớn nhất đến địa vị thống trị tuyệt đối của họ: tôn giáo có tổ chức và năng lượng hạt nhân.
Religion succumbed, but the family, as even Stalin finally had to admit, proved much more resistant.
Tôn giáo đã khuất phục, nhưng gia đình, như cả Stalin cuối cùng cũng phải thừa nhận, phải tỏ ra phản kháng nhiều hơn.
The continuous work week, hailed as a Utopia where time itself was conquered and the sluggish Sunday abolished forever, spread like an epidemic.
Tuần làm việc liên tục, đã được ca ngợi như một xã hội Utopia nơi mà thời gian tự nó được kiểm soát và ngày Chủ nhật chậm chạp bị hủy bỏ mãi mãi, đã lan truyền như một bệnh dịch.
According to official figures, 63 per cent of industrial workers were so employed by April 1930; in June, all industry was ordered to convert during the next year.
Theo số liệu chính thức, 63% công nhân công nghiệp đã được tuyển dụng vào tháng 4 năm 1930; vào tháng 6, tất cả các ngành công nghiệp được lệnh phải chuyển đổi trong năm tới.
The fad reached its peak in October when it affected 73 per cent of workers.
Mốt lên đến đỉnh điểm vào tháng 10 khi nó ảnh hưởng đến 73% người lao động.
In fact, many managers simply claimed that their factories had gone over to the new week, without actually applying it.
Thực tế thì, nhiều giám đốc chỉ đơn giản là đã tuyên bố rằng những nhà máy của họ đã chuyển sang loại tuần mới, mà không thực sự triển khai nó.
Conforming to the demands of the Plan was important; practical matters could wait.
Tuân thủ các yêu cầu của Kế hoạch có vai trò quan trọng, các vấn đề thực tế chỉ có thể chờ đợi.
By then, though, problems were becoming obvious.
Tuy nhiên, đến lúc ấy, các vấn đề càng trở nên rõ ràng.
Most serious (though never officially admitted), the workers hated it.
Vấn đề nghiêm trọng nhất (mặc dù chưa bao giờ được thừa nhận công khai) là, công nhân ghét nó.
Coordination of family schedules was virtually impossible and usually ignored, so husbands and wives only saw each other before or after work; rest days were empty without any loved ones to share them – even friends were likely to be on a different schedule.
Sự phối hợp kế hoạch gia đình gần như là bất khả thi và thường bị bỏ qua, cho nên người chồng và người vợ chỉ nhìn thấy nhau trước và sau giờ làm, các ngày nghỉ thì trống mà không có bất kỳ ai thân thiết chia sẻ với họ, thậm chí những người bạn cũng có thể thể có một thời gian biểu khác.
Từ vựng (28)
- fortress (ˈfɔːr.trəs) — pháo đài
- Bolshevik (ˈboʊl.ʃə.vɪk) — Người Bolshevik, đảng viên đảng cộng sản Liên Xô
- collectivised farming (collectivised*) (ˈfɑːr.mɪŋ) — nền nông nghiệp tập thể hóa
- proletariat (ˌproʊ.ləˈter.i.ət) — giai cấp vô sản
- dictatorship (dɪkˈteɪ.t̬ɚ.ʃɪp) — nền chuyên chính, chế độ độc tài
- time-motion study (taɪm) (ˈmoʊ.ʃən) (ˈstʌd.i) — nghiên cứu thời gian-chuyển động
- streamline (ˈstriːm.laɪn) — sắp xếp hợp lý hóa, tổ chức cho tốt hơn
- emulate (ˈem.jə.leɪt) — sao chép hoặc cố gắng bắt chước một cái gì đã được người khác thực hiện thành công
- surpass (sɚˈpæs) — hơn, vượt, trội hơn
- triumph (ˈtraɪ.əmf) — Sự chiến thắng, thành tựu
- radical (ˈræd.ɪ.kəl) — triệt để, (chính trị) cấp tiến
- institute (ˈɪn.stə.tuːt) — thành lập, lập nên, tiến hành.
- Council of People's Commissars (ˈkaʊn.səl) (əv) (ˈpipəɫz) (ˈkɑmɪsɑz) — Hội đồng Dân ủy Nga Xô (một cơ quan hành pháp thời Liên Xô tồn tại từ 1917-1946)
- stagger (ˈstæɡ.ɚ) — bố trí (ngày nghỉ, giờ làm…) chéo nhau, xếp xen kẽ.
- tout (taʊt) — quảng cáo, ca ngợi
- superstition (ˌsuː.pɚˈstɪʃ.ən) — sự mê tín
- ignorance (ˈɪɡ.nɚ.əns) — sự ngu dốt, sự không biết
- organized religion (ˈɔːr.ɡən.aɪzd) (rɪˈlɪdʒ.ən) — tôn giáo có tổ chức (là tôn giáo trong đó các hệ thống tín ngưỡng và nghi lễ được sắp xếp và thiết lập một cách có hệ thống)
- regime (reɪˈʒiːm) — chế độ, hệ thống cai trị
- total dominance (ˈtoʊ.t̬əl) (ˈdɑː.mə.nəns) — thế thống trị, địa vị thống trị tuyệt đối
- hail (heɪl) — (công khai) ca ngợi hoặc thể hiện sự ủng hộ đối với một người hoặc thành tựu nào đó
- go over to sth (ɡoʊ) (ˈoʊ.vɚ) (tuː) (sth*) — chuyển đổi sang cái gì mới hoặc cách làm mới.
- reign (reɪn) — bao trùm, ngự trị
- harphazardly (harphazardly*) — một cách bừa bãi, lung tung.
- lose ground (luːz) (ɡraʊnd) — trở nên ít phổ biến hơn hoặc nhận được ít hỗ trợ hơn
- bold (boʊld) — táo bạo
- ill-conceived (ɪl) (kənˈsiːv) — không được lên kế hoạch thấu đáo, cẩn thận
- to be in the way out (tuː) (biː) (ˈɪn, ɪn) (ðə) (weɪ) (aʊt) — rời khỏi một nơi nào đó và đến một nơi khác