← Danh sách bài đọc
Bài 037

Compliance or Noncompliance for children

Việc tuân thủ hay không tuân thủ đối với trẻ em

A. Many scientists believe that socialization takes a long process, while compliance is the outset of it.
Có rất nhiều nhà khoa học tin rằng sự hòa nhập xã hội là một quá trình lâu dài, trong khi đó việc tuân thủ được xem là bước đầu của quá trình này.
Accordingly, compliance with the education of children is the priority.
Theo đó, việc tuân thủ giáo dục con cái được ưu tiên hàng đầu.
Motivationally distinct forms of child compliance, mutually positive affect, and maternal control, observed in 3 control contexts in 103 dyads of mothers and their 26-41-month-old children, were examined as correlates of internalization, assessed using observations of children while alone with prohibited temptations and maternal ratings.
Các hình thức tuân thủ khác biệt về mặt động cơ của trẻ em và sự kiểm soát của bà mẹ có ảnh hưởng tích cực lẫn nhau, đã được quan sát trong 3 bối cảnh kiểm soát ở 103 cặp bà mẹ và con của họ từ 26-41 tháng tuổi, được xem xét như các mối tương quan từ bên trong, được đánh giá bằng cách sử dụng các hình thức quan sát đối với trẻ chúng khi ở một mình với những cám dỗ bị cấm và sự đánh giá của các bà mẹ.
One form of compliance (committed compliance), when the child appeared committed wholeheartedly to the maternal agenda and eager to endorse and accept it, was emphasized.
Một hình thức tuân thủ cũng được chú trọng (tuân thủ có cam kết) là khi đứa trẻ tỏ ra cam kết hết mực với các yêu cầu của bà mẹ và tinh thần háo hức muốn được chứng minh và hoàn thành cam kết.
Mother-child mutually positive affect was both a predictor and a concomitant of committed compliance.
Ảnh hưởng tích cực lẫn nhau giữa mẹ và con vừa là yếu tố dự báo vừa là yếu tố liên kết của việc tuân thủ có cam kết.
Children who shared positive effects with their mothers showed a high level of committed compliance and were also more internalized.
Những đứa trẻ được chia sẻ những tác động tích cực với mẹ cho thấy mức độ tuân thủ cam kết cao và học cách tuân thủ nhanh hơn.
Differences and similarities between children’s compliance with requests and prohibitions (“Do” vs. “Don’t” demand contexts) were also explored.
Những điểm khác biệt và tương đồng giữa việc trẻ tuân thủ các yêu cầu và lệnh cấm (trong ngữ cảnh yêu cầu “Làm” hoặc “Không Làm”) cũng được tìm hiểu.
Some individual coherence of behavior was also found across both demand contexts.
Một số hành vi nhất quán của các cá nhân cũng được tìm ở cả hai ngữ cảnh yêu cầu.
The implication of committed compliance for emerging internalized regulators of conduct is discussed.
Hàm ý của việc tuân thủ đã cam kết đối với các cơ quan quản lý nội hàm mới xuất hiện đã được thảo luận.
B. A number of parents were not easy to be aware of the compliance, some even overlooked their children’s noncompliance.
Một số cha mẹ không dễ dàng nhận thức được việc tuân thủ, một số thậm chí còn không để tâm đến sự không tuân thủ của con cái họ.
Despite good education, these children did not follow the words from their parents on several occasions, especially boys of certain ages.
Mặc dù được học hành tử tế, những đứa trẻ (không tuân thủ) này đã không ít lần không vâng theo lời cha mẹ, đặc biệt là những bé trai ở một số độ tuổi nhất định.
Fortunately, this rate was acceptable, some parents could be patient with the noncompliance.
May mắn thay, tỷ lệ này vẫn đang ở mức có thể chấp nhận được, một số cha mẹ có thể kiên nhẫn hơn với việc con cái của họ khi chúng không tuân thủ theo những gì họ dạy bảo.
Someone held that noncompliance is probably not a wrong thing.
Một số bậc cha mẹ còn cho rằng việc không tuân thủ có lẽ cũng không phải là điều gì sai trái.
To determine the effects of different parental disciplinary techniques on young children’s compliance and noncompliance, mothers were trained to observe emotional incidents involving their own toddler-aged children.
Để xác định ảnh hưởng của các biện pháp kỷ luật khác nhau của bậc cha mẹ đối với sự tuân thủ và không tuân thủ của trẻ nhỏ, các bà mẹ đã được đào tạo để quan sát các sự cố cảm xúc liên quan đến những đứa con của họ đang ở độ tuổi chập chững biết đi.
Reports of disciplinary encounters were analyzed in terms of the types of discipline used (reasoning, verbal prohibition, physical coercion, love withdrawal, and combinations thereof) and children’s responses to that discipline (compliance/ non-compliance and avoidance).
Các báo cáo về một số hình thức được sử dụng để khép trẻ con vào kỷ luật ( dùng lý lẽ, cấm đoán, trừng phạt về thể chất, hạn chế bày tỏ tình cảm và một số cách phối của các hình thức trên) và phản ứng của trẻ đối với hình thức kỷ luật đó (tuân thủ / không tuân thủ và né tránh).
The relation between compliance/ noncompliance and type of misdeed (harm to persons, harm to property, and lapses of self-control) was also analyzed.
Mối quan hệ giữa việc tuân thủ/ không tuân thủ và một số hành vi sai trái (gây tổn hại cho con người, tổn hại tài sản và mất khả năng kiểm soát bản thân) cũng được phân tích.
Results indicated that love withdrawal combined with other techniques was most effective in securing children’s compliance and that its effectiveness was not a function of the type of technique with which it was combined.
Kết quả chỉ ra rằng việc trở nên ghẻ lạnh, không tình cảm âu yếm kết hợp với các hình thức khác là phương thức hiệu quả nhất trong việc đảm bảo việc tuân thủ của con trẻ và sự hiệu quả đó không phải là kết quả của một hình thức mà nó là sự kết hợp của cả 2.
Avoidant responses and affective reunification with the parent were more likely to follow love withdrawal than any other technique.
Những phản ứng lảng tránh và sự gắn kết đầy tình cảm với cha mẹ có nhiều khả năng dẫn đến việc tình cảm ghẻ lạnh hơn một vài hình thức khác.
Physical coercion was somewhat less effective than love withdrawal, while reasoning and verbal prohibition were not at all effective except when both were combined with physical coercion.
Việc sử dụng các biện pháp đánh mắng có phần kém hiệu quả hơn so với việc hạn chế bày tỏ tình cảm, trong khi dùng lý lẽ và cấm đoán bằng lời nói không hề có hiệu quả trừ khi cả hai được kết hợp với sử dụng roi vọt.
C. “Noncompliant Children sometimes prefer to say no directly as they were younger, they are easy to deal with the relationship with contemporaries.
Những đứa trẻ không nghe lời đôi khi thích từ chối trực tiếp giống như khi chúng còn nhỏ, do đó chúng dễ dàng tạo mối quan hệ với những người cùng thời.
When they are growing up.
Nhưng mọi chuyện sẽ khác khi chúng dần lớn lên.
During the period that children are getting older, they may learn to use more advanced approaches for their noncompliance.
Trong quá trình con trẻ trưởng thành, chúng có thể học cách sử dụng các chiêu trò tinh ranh hơn để bào chữa cho việc không tuân thủ của mình.
They are more skillful to negotiate or give reasons for refusal rather than show their opposite idea to parents directly.”
Chúng sẽ khéo léo thương lượng hoặc đưa ra lý do từ chối hợp lý hơn là trực tiếp thể hiện ý kiến đối lập với cha mẹ.
Said Henry Porter, a scholar working in the Psychology Institute of UK.
Henry Porter, một học giả làm việc tại Viện Tâm lý học của Vương quốc Anh cho biết.
He indicated that noncompliance means growth in some way, may have benefit for children.
Ông chỉ ra rằng việc không tuân thủ có nghĩa là sự phát triển theo một cách nào đó, và điều đó có thể có lợi cho trẻ em.
Many Experts held different viewpoints in recent years, they tried drilling compliance into children.
Trong những năm gần đây, các chuyên gia có những quan điểm khác nhau, họ đã cố gắng nhồi nhét vào đầu trẻ em định nghĩa về sự tuân thủ.
His collaborator Wallace Friesen believed that Organizing a child’s daily activities so that they occur in the same order each day as much as possible.
Cộng tác viên của Henry Porter tên là Wallace Friesen tin rằng tổ chức các hoạt động hàng ngày của trẻ sao cho chúng diễn ra theo thứ tự giống nhau mỗi ngày càng nhiều càng tốt.
This first strategy for defiant children is ultimately the most important.
Chiến lược đầu tiên này là chiến lược tối quan trọng dành cho những đứa trẻ ngang bướng, thích chống đối mệnh lệnh.
Developing a routine helps a child to know what to expect and increases the chances that he or she will comply with things such as chores, homework, and hygiene requests.
Xây dựng một thói quen giúp một đứa trẻ biết những gì sẽ xảy ra và tăng khả năng trẻ sẽ tuân thủ những chuyện như làm việc nhà, bài tập về nhà và các yêu cầu về vệ sinh cơ thể.
When undesirable activities occur in the same order at optimal times during the day, they become habits that are not questioned but done without thought.
Khi các hoạt động không mong muốn xảy ra theo cùng một thứ tự vào những thời điểm quan trọng trong ngày, chúng sẽ hình thành thói quen là không được thắc mắc mà phải thực hiện điều đó ngay lập tức.
Chances are that you have developed some type of routine for yourself in terms of showering, cleaning your house, or doing other types of work.
Rất có thể bạn đã hình thành một thói quen nào đó cho mình về việc tắm rửa, dọn dẹp nhà cửa hoặc làm các công việc khác.
You have an idea in your mind when you will do these things regularly and this helps you to know what to expect.
Bạn sẽ hình thành một ý tưởng trong đầu khi bạn sẽ làm những việc này thường xuyên và điều này giúp bạn biết những gì sẽ xảy ra.
In fact, you have probably already been using most of these compliance strategies for yourself without realizing it.
Trên thực tế, có thể bạn đã và đang sử dụng hầu hết các chiến lược tuân thủ này cho chính bản thân mình mà bạn không hề nhận ra.
For children, without setting these expectations daily by making them part of a routine, they can become very upset.
Đối với trẻ em, nếu đặt ra quá nhiều kỳ vọng mà không biến chúng thành một phần của thói quen hằng ngày, bọn trẻ có thể trở nên rất khó chịu.
Just like adults, children think about what they plan to do that day and expect to be able to do what they want.
Cũng giống như người lớn, trẻ em nghĩ về những gì chúng định làm trong ngày hôm đó và mong đợi có thể làm được những gì chúng muốn.
So, when you come along and ask them to do something, they weren’t already planning to do that day, this can result in automatic refusals and other undesirable defiant behaviors.
Vì vậy, khi bạn đến và yêu cầu chúng làm điều mà chúng đã không hề có kế hoạch làm vào ngày hôm đó, điều này có thể dẫn đến việc tự động từ chối và các hành vi chống đối không mong muốn khác.
However, by using this compliance strategy with defiant children, these activities are done almost every day in the same general order and the child expects to already do them.
Tuy nhiên, nhờ sử dụng chiến lược tuân thủ này với những đứa trẻ ngang ngạnh, những hoạt động này được thực hiện hầu như hàng ngày theo cùng một trình tự chung và những gì chúng mong đợi cũng đã được thực hiện.
D. Doctor Steven Walson addressed that organizing fun activities to occur after frequently refused activities.
Bác sĩ Steven Walson bày tỏ rằng nên tổ chức thường xuyên các hoạt động vui chơi để diễn ra sau các hoạt động bị từ chối.
This strategy also works as a positive reinforcer when the child complies with your requests.
Chiến lược này cũng hoạt động như một món quà tinh thần khi trẻ tuân thủ các yêu cầu của bạn.
By arranging your day so that things often refused to occur right before highly preferred activities, you can eliminate defiant behavior and motivate your child’s behavior of doing the undesirable activity.
Nhờ sắp xếp ngày của bạn bằng cách để những yêu cầu thường bị từ chối xảy ra ngay trước các hoạt động yêu thích , bạn có thể loại bỏ hành vi chống cự đồng thời thúc đẩy tinh thần thực hiện hoạt động không mong muốn của con bạn.
This is not to be presented in a way that the preferred activity is only allowed if a defiant child does the non-preferred activity.
Điều này không có nghĩa là một đứa trẻ ngang ngạnh chỉ được phép thực hiện hoạt động ưa thích chỉ khi chúng hoàn thành những việc mà chúng không thích.
However, you can word your request in a way so that your child assumes that you have to do the non-preferred activity before moving on to the next preferred activity.
Tuy nhiên, bạn có thể nói yêu cầu của mình theo cách để con bạn hiểu rằng chúng phải làm những việc mà chúng không thích trước khi chúng được làm những chuyện mà chúng muốn.
For example, you do not want to say something such as, “If you clean your room, we can play a game.” Instead of the word your request like this, “As soon as you are done cleaning your room, we will be able to play that really fun game you wanted to play.”
Ví dụ: nếu bạn không muốn nói những điều chẳng hạn như, "Nếu con dọn dẹp phòng của mình, chúng ta có thể chơi trò chơi." Thay vào đó bạn có thể nói như thế này, "Sau khi con dọn dẹp phòng của mình xong, chúng ta có thể chơi một trò bất kì mà con muốn”.
E. Psychologist Paul Edith insisted praise is the best way to make children comply.
Nhà tâm lý học Paul Edith khẳng định khen ngợi là biện pháp tốt nhất để khiến trẻ vâng lời.
This is probably a common term you are used to hearing by now.
Đây có lẽ là một thuật ngữ phổ biến mà bạn vẫn thường xuyên nghe từ trước đến nay.
If you praise your child’s behavior, he or she will be more likely to do that behavior.
Nếu bạn khen ngợi một hành động nào đó của trẻ, chúng sẽ có khả năng thực hiện hành động đó nhiều hơn.
So, it is essential to use praise when working with defiant children.
Do đó, việc sử dụng lời khen khi làm việc với những đứa trẻ ngang ngạnh là điều cần thiết.
It also provides your child with positive attention.
Nó cũng giúp cho con bạn có được sự chú ý tích cực.
However, it is important to know how to praise children in a way that encourages future automatic reinforcement for your child when doing a similar behavior.
Tuy nhiên, điều quan trọng là bạn phải biết cách khen ngợi trẻ theo cách khuyến khích sự nỗ lực tự động trong tương lai khi con bạn thực hiện một hành vi tương tự.