← Danh sách bài đọc
Bài 041
The future never dies?
Tương lai không bao giờ kết thúc?
Nguồn: https://ieltssongngu.com
The prospects for humanity and for the world as a whole are somewhere between glorious and dire.
Những viễn cảnh cho nhân loại và cho thế giới nói chung nằm ở đâu đó giữa vinh quang và thảm khốc.
It is hard to be much more precise.
Thật khó để nói chính xác hơn.
By ‘glorious’, I mean that our descendants – all who are born on to this Earth – could live very comfortably and securely, and could continue to do so for as long as the Earth can support life, which should be for a very long time indeed.
Ở vế ‘vinh quang’, ý tôi là con cháu của chúng ta – tất cả những người sinh ra trên Trái Đất này – có thể sống rất thoải mái và an toàn, và có thể tiếp tục như vậy miễn là Trái Đất còn mang lại sự sống, điều này thật sự cần thiết trong thời gian dài.
We should at least be thinking in terms of the next million years.
Ít nhất chúng ta nên suy nghĩ về hàng triệu năm tới.
Furthermore, our descendants could continue to enjoy the company of other species – establishing a much better relationship with them than we have now.
Hơn nữa, con cháu của chúng ta có thể tiếp tục bầu bạn với các loài khác – thiết lập một mối quan hệ với chúng tốt hơn chúng ta bây giờ.
Other animals need not live in constant fear of us.
Những loài động vật khác không cần sống trong nỗi sợ hãi liên tục vì chúng ta.
Many of those fellow species now seem bound to become extinct, but a significant proportion could and should continue to live alongside us.
Ngày nay, nhiều loài trong số các đồng loại có vẻ như dần tuyệt chủng, nhưng một phần đáng kể có thể và nên tiếp tục sống cùng chúng ta.
Such a future may seem ideal, and so it is.
Một tương lai như vậy có vẻ như chỉ có trong lý tưởng, và nó là như vậy.
Yet I do not believe it is fanciful.
Tuy nhiên, tôi không tin đó chỉ là ảo vọng.
There is nothing in the physical fabric of the Earth or in our own biology to suggest that this is not possible.
Không có gì bên trong cấu trúc vật lý của Trái Đất hay trong riêng ngành sinh học của chúng ta cho rằng điều này là không thể.
‘Dire’ means that we human beings could be in deep trouble within the next few centuries, living but also dying in large numbers in political terror and from starvation, while huge numbers of our fellow creatures would simply disappear, leaving only the ones that we find convenient – chickens, cattle – or that we can’t shake off, like flies and mice.
‘Thảm khốc’ nghĩa là con người có thể gặp rắc rối lớn trong vòng vài thế kỷ tới, sống nhưng chết với số lượng lớn trong khủng bố chính trị và nạn đói, trong khi đó nhiều sinh vật đồng loại của chúng ta sẽ đơn giản biến mất, chỉ giữ lại những loài mà chúng ta xét thấy thuận lợi – gà, gia súc – hoặc những loài mà chúng ta không thể loại bỏ như ruồi và chuột.
I’m taking it to be self-evident that glory is preferable.
Tôi xem đó là hiển nhiên rằng vinh quang là điều tốt hơn.
Our future is not entirely in our own hands because the Earth has its own rules, is part of the solar system and is neither stable nor innately safe.
Tương lai chúng ta hoàn toàn không nằm trong tay của chúng ta vì Trái Đất có quy luật riêng của nó, là phần của hệ mặt trời và không ổn định cũng không tự nhiên an toàn.
Other planets in the solar system are quite beyond habitation, because their temperature is far too high or too low to be endured, and ours, too, in principle could tip either way.
Những hành tinh khác trong hệ mặt trời khá là vượt quá khả năng sinh sống, vì nhiệt độ của nó quá cao hoặc quá thấp ngoài ngưỡng chịu đựng, và cách của chúng ta, cũng như vậy, về nguyên tắc có thể gây ra một trong hai trường hợp.
Even relatively unspectacular changes in the atmosphere could do the trick.
Ngay cả những thay đổi tương đối không đáng kể trong bầu khí quyển cũng có khả năng đạt được hiệu quả mong muốn.
The core of the Earth is hot, which in many ways is good for living creatures, but every now and again, the molten rock bursts through volcanoes on the surface.
nhân Trái Đất nóng, điều này tốt cho sinh vật sống theo nhiều hướng, nhưng đôi khi, đá nóng chảy nổ tung thông qua núi lửa trên bề mặt.
Among the biggest volcanic eruptions in recent memory was Mount St Helens, in the USA, which threw out a cubic kilometre of ash – fortunately, in an area where very few people live.
Trong số những vụ phun trào núi lửa lớn nhất trong thời gian gần đây là núi St Helens, ở Hoa Kỳ, đã phóng ra một kilômét khối tro – thật may, trong khu vực có rất ít người sinh sống.
In 1815, Tambora (in present-day Indonesia) expelled so much ash into the upper atmosphere that climatic effects seriously harmed food production around the world for the season after season.
Vào năm 1815, Tambora (ở Indonesia ngày nay) phun ra quá nhiều tro vào thượng tầng khí quyển đến nỗi ảnh hưởng khí hậu làm hại nghiêm trọng đến sản xuất lương thực trên khắp thế giới từ mùa này đến mùa khác.
Entire civilisations have been destroyed by volcanoes.
Toàn bộ các nền văn minh bị núi lửa phá hủy.
Yet nothing we have so far experienced shows what volcanoes can really do.
Nhưng gần đây chúng tôi không tìm ra được điều gì cho thấy núi lửa thực sự có thể làm những gì.
Yellowstone National Park in the USA occupies the caldera (the crater formed when a volcano collapses) of an exceedingly ancient volcano of extraordinary magnitude.
Vườn quốc gia Yellowstone ở Hoa Kỳ chiếm hõm chảo (miệng núi lửa hình thành khi một ngọn núi lửa sụp đổ) của một ngọn núi lửa cực kỳ cổ xưa với độ lớn khác thường.
Modem surveys show that its centre is now rising.
Các khảo sát Modem cho thấy rằng hiện nay phần trung tâm đang dâng lên.
Sometime in the next 200 million years, Yellowstone could erupt again, and when it does, the whole world will be transformed.
một lúc nào đó trong 200 triệu năm tới, Yellowstone có thể phun trào trở lại, và khi đó, toàn bộ thế giới sẽ bị biến đổi.
Yellowstone could erupt tomorrow.
Yellowstone có thể phun trào trong tương lai gần.
But there’s a very good chance that it will give us another million years, and that surely is enough to be going on with.
Nhưng có một cơ hội rất tốt rằng nó sẽ cho chúng ta thêm vài triệu năm nữa, và chắc chắn là đủ cho lúc này.
It seems sensible to assume that this will be the case.
Có vẻ hợp lý để cho rằng điều này là sẽ xảy ra.
The universe at large is dangerous, too: in particular, we share the sky with vast numbers of asteroids, and now and again, they come into our planet’s atmosphere.
Nhìn chung vũ trụ cũng rất nguy hiểm: cụ thể là, chúng ta chia sẻ bầu trời với vô số tiểu hành tinh, và thỉnh thoảng, chúng bay vào bầu khí quyển của hành tinh chúng ta.
An asteroid the size of a small island, hitting the Earth at 15,000 kilometres an hour (a relatively modest speed by the standards of heavenly bodies), would strike the ocean bed like a rock in a puddle, send a tidal wave around the world as high as a small mountain and as fast as a jumbo jet, and propel us into an ice age that could last for centuries.
Một tiểu hành tinh có kích thước của một hòn đảo nhỏ, va vào Trái Đất với tốc độ 15,000 km/h (một tốc độ tương đối vừa phải theo tiêu chuẩn của các thiên thể) sẽ va đập vào đáy đại dương như một hòn đá trong vũng nước, đưa một làn sóng thủy triều khắp thế giới cao như một ngọn núi nhỏ và nhanh như một chiếc máy bay phản lực, và đẩy chúng ta vào kỷ băng hà có thể kéo dài hàng thế kỷ.
There are plans to head off such disasters (including rockets to push approaching asteroids into new trajectories), but in truth, it’s down to luck.
Có nhiều cách tiến hành để ngăn chặn những thảm họa như vậy (kể cả tên lửa để đẩy các tiểu hành tinh đang đến gần vào quỹ đạo mới), nhưng trong thực tế, nó phụ thuộc vào yếu tố may mắn.
On the other hand, the archaeological and the fossil evidence shows that no truly devastating asteroid has struck since the one that seems to have accounted for the extinction of the dinosaurs 65 million years ago.
Mặt khác, bằng chứng khảo cổ học và hóa thạch cho thấy rằng không thực sự có một tiểu hành tinh mang sức hủy diệt nào đâm vào (Trái Đất) kể từ cái mà dường như là lời giải thích cho sự tuyệt chủng của khủng long cách đây 65 triệu năm.
So again, there seems no immediate reason for despair.
Như vậy, có vẻ không có lý do trực tiếp dẫn đến sự tuyệt vọng.
The Earth is indeed an uncertain place, in an uncertain universe, but with average luck, it should do us well enough.
Trái Đất thực sự là một nơi dễ thay đổi, trong một vũ trụ thất thường, nhưng với vận may vừa phải, nó sẽ làm cho chúng ta đủ tốt.
If the world does become inhospitable in the next few thousand or million years, then it will probably be our own fault.
Nếu thế giới trở nên khắc nghiệt trong vài ngàn hay vài triệu năm tới, thì có lẽ đó là lỗi của chính chúng ta.
In short, despite the underlying uncertainty, our own future and that of our fellow creatures are very much in our own hands.
Tóm lại, bất chấp tính dễ thay đổi tiềm ẩn, tương lai của chúng ta và của các sinh vật đồng loại phụ thuộc rất nhiều trong tầm tay của chính chúng ta.
Given average luck on the geological and the cosmic scale, the difference between glory and disaster will be made and is being made, by politics.
Xét về vận may trên quy mô địa chất và vũ trụ, sự khác biệt giữa vinh quang và thảm họa sẽ và đang được tạo ra, bởi chính trị.
Certain kinds of political systems and strategies would predispose us to long-term survival (and indeed to comfort and security and pleasure of being alive), while others would take us more and more frenetically towards collapse.
Một số loại hệ thống và chiến lược chính trị nhất định sẽ định hướng chúng ta đến sự tồn tại lâu dài (và quả thực là để an ủi sự an toàn và niềm vui của sự sống), trong khi đó những loại khác sẽ đưa chúng ta càng cuống cuồng về phía sự sụp đổ.
The broad point is, though, that we need to look at ourselves – humanity – and at the world in general in a quite new light.
Tuy nhiên, điểm chung là chúng ta cần nhìn vào bản thân chúng ta – nhân loại – và với thế giới nói chung dưới ánh sáng hoàn toàn mới.
Our material problems are fundamentally those of biology.
Những vấn đề vật chất của chúng ta về cơ bản là vấn đề của sinh vật học.
We need to think, and we need our politicians to think, biologically.
Chúng ta cần suy nghĩ, và chúng ta cần các chính trị gia cũng suy nghĩ, theo hướng sinh học.
Do that, and take the ideas seriously, and we are in with a chance.
Hãy làm điều đó, và thực hiện các ý tưởng một cách nghiêm túc và chúng ta có cơ hội.
Ignore biology and we and our fellow creatures haven’t a hope.
Phớt lờ đi sinh học và chúng ta và các sinh vật đồng loại hết hy vọng.
Từ vựng (60)
- prospects (ˈpɹɑspɛks, ˈpɹɑspɛkts) — viễn cảnh
- as a whole (æz) (ˈeɪ, ə) (hoʊl) — nói chung, toàn bộ
- dire (daɪr) — thảm khốc
- glorious (ˈɡlɔːr.i.əs) — vinh quang, huy hoàng
- enjoy the company of (ɪnˈdʒɔɪ) (ðə) (ˈkʌm.pə.ni) (əv) — bầu bạn, dành thời gian bên cạnh
- live in constant fear of (lɪv) (ˈɪn, ɪn) (ˈkɑːn.stənt) (fɪr) (əv) — sống trong nỗi sợ hãi liên tục
- fellow species (ˈfel.oʊ) (ˈspiː.ʃiːz) — đồng loại
- bound to do something (baʊnd) (tuː) (də) (ˈsʌm.θɪŋ) — chắc chắn làm điều gì, phải làm điều gì
- fanciful (ˈfæn.sɪ.fəl) — tưởng tượng
- physical fabric (ˈfɪz.ɪ.kəl) (ˈfæb.rɪk) — cấu trúc vật lý
- political terror (pəˈlɪt̬.ə.kəl) (ˈter.ɚ) — khủng bố chính trị
- shake off (ʃeɪk) (ɑːf) — loại bỏ, tống khứ
- self-evident (self) (ˈev.ə.dənt) — hiển nhiên
- glory (ˈɡlɔːr.i) — sự vinh quang
- preferable (ˈpref.ər.ə.bəl) — tốt hơn
- endured (ɪnˈdʊr) — chịu đựng
- either way (ˈiː.ðɚ) (weɪ) — một trong hai trường hợp
- do the trick (də) (ðə) (trɪk) — hoàn thành được công việc, đạt được hiệu quả mong muốn
- core of the Earth (kɔːr) (əv) (ðiː) (ɝːθ) — nhân Trái Đất
- every now and again (ˈev.ri) (naʊ) (ænd) (əˈɡen) — đôi khi, thỉnh thoảng
- molten rock (ˈmoʊl.tən) (rɑːk) — đá nóng chảy
- in recent memory (ˈɪn, ɪn) (ˈriː.sənt) (ˈmem.ər.i) — trong thời gian gần đây
- threw out (θruː) (aʊt) — phóng ra
- in present-day (ˈɪn, ɪn) (ˈprez.ənt) (deɪ) — ngày nay
- expelled (ɪkˈspɛɫd) — phun ra
- the upper atmosphere (ðiː) (ˈʌp.ɚ) (ˈæt.mə.sfɪr) — thượng tầng khí quyển
- season after season (ˈsiː.zən) (ˈæf.tɚ) (ˈsiː.zən) — mùa này qua mùa khác
- caldera (kælˈder.ə) — hõm chảo
- crater (ˈkreɪ.t̬ɚ) — miệng núi lửa
- extraordinary magnitude (ɪkˈstrɔːr.dən.er.i) (ˈmæɡ.nə.tuːd) — độ lớn khác thường
- exceedingly (ɪkˈsiː.dɪŋ.li) — cực kỳ
- sometime (ˈsʌm.taɪm) — một lúc nào đó
- enough/something to be going on with (enoughsomething*) (tuː) (biː) (ˈɡoʊ.ɪŋ) (ɑːn) (wɪð) — đủ cho lúc này, đủ trong thời gian ngắn
- assume that (əˈsuːm) (ðæt) — cho rằng
- be the case (biː) (ðə) (keɪs) — sẽ xảy ra, là đúng
- share something with somebody (ʃer) (ˈsʌm.θɪŋ) (wɪð) (ˈsʌmˌbɑː.di) — dùng chung với ai, chia vật gì với ai
- vast numbers of (væst) (ˈnəmbɝz) (əv) — vô số, số lượng lớn
- asteroids (ˈæstɝˌɔɪdz) — tiểu hành tinh
- by the standards of (baɪ) (ðə) (ˈstændɝdz) (əv) — theo tiêu chuẩn của
- heavenly bodies (ˈhev.ən.li) (ˈbɑdiz) — thiên thể
- ocean bed (ˈoʊ.ʃən) (bed) — đáy đại dương
- puddle (ˈpʌd.əl) — vũng nước
- tidal wave (ˈtaɪ.dəl) (weɪv) — làn sóng thủy triều
- jumbo jet (ˈdʒʌm.boʊ) (dʒet) — máy bay phản lực
- propel into (prəˈpel) (ˈɪn.tuː) — đẩy vào
- ice age (aɪs) (eɪdʒ) — kỷ băng hà
- head off (hed) (ɑːf) — ngăn chặn, chặn tránh (một vấn đề gì bằng cách hướng câu chuyện sang một vấn đề khác,...)
- trajectories (trajectories*) — quỹ đạo
- down to luck (daʊn) (tuː) (lʌk) — phụ thuộc vào yếu tố may mắn
- accounted for (əˈkaʊnt) (fɔːr) — giải thích
- immediate reason (ɪˈmiː.di.ət) (ˈriː.zən) — lý do trực tiếp
- inhospitable (ˌɪn.hɑːˈspɪt̬.ə.bəl) — khắc nghiệt
- underlying (ˌʌn.dɚˈlaɪ.ɪŋ) — tiềm ẩn
- given something (ˈɡɪv.ən) (ˈsʌm.θɪŋ) — xét, căn cứ
- cosmic (ˈkɑːz.mɪk) — vũ trụ
- predispose (ˌpɹidɪˈspoʊz) — định hướng, dẫn đến
- comfort (ˈkʌm.fɚt) — an ủi
- frenetically (frəˈnet̬.ɪ.kəl.i) — cuống cuồng, điên cuồng
- broad point (brɑːd) (pɔɪnt) — điểm chung
- be in with a chance (biː) (ˈɪn, ɪn) (wɪð) (ˈeɪ, ə) (tʃæns) — có khả năng cao để hoàn thành