← Danh sách bài đọc
Bài 042
Cosmetic in Ancient Past
Mỹ phẩm thời cổ đại
Nguồn: https://ieltssongngu.com
Since cosmetics and perfumes are still in wide use today, it is interesting to compare the attitudes, customs and beliefs related to them in ancient times to those of our own day and age.
Vì mỹ phẩm.và nước hoa đều vẫn đang được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay, thật thú vị khi so sánh những quan điểm, phong tục và niềm tin dành cho chúng trong thời cổ đại so với trong thời đại của chúng ta.
Cosmetics and perfumes have been popular since the dawn of civilization; it is shown by the discovery of a great deal of pertinent archaeological material, dating from the third millennium BC.
mỹ phẩm.và dầu thơm đã trở nên khá phổ biến ngay từ thời khai sinh của nền văn minh nhân loại; điều này được thể hiện rõ qua việc khám phá ra rất nhiều những tài liệu khảo cổ có liên quan, có niên đại từ thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên.
Mosaics, glass perfume flasks, stone vessels, ovens, cooking-pots, clay jars, etc., some inscribed by the hand of the artisan.
Tranh khảm, bình nước hoa thủy tinh, vại đá, lò nướng, nồi nấu, lọ sành, v.v., một số chúng được chạm khắc bởi những bàn tay người thợ thủ công.
Evidence also appears in the Bible and other classical writings, where it is written that spices and perfumes were prestigious products known throughout the ancient world and coveted by kings and princes.
Bằng chứng cho những điều này cũng xuất hiện trong Kinh Thánh và những văn từ cổ đại khác, trong đó có ghi rằng các loại hương liệu và dầu thơm là những thành phẩm cao cấp được biết đến rộng rãi trong thời cổ đại và được săn đón bởi những bậc vương công quý tử.
The written and pictorial descriptions, as well as archaeological findings, all show how important body care and aesthetic appearance were in the lives of the ancient people.
Các mô tả bằng văn bản và hình ảnh, cũng như những phát hiện về khảo cổ học, tất cả đều cho thấy tầm quan trọng của việc chăm sóc cơ thể và duy trì vẻ ngoài mang tính thẩm mỹ đối với cuộc sống của những người thời xưa.
The chain of evidence spans many centuries, detailing the usage of cosmetics in various cultures from the earliest period of recorded history.
Hàng loạt những bằng chứng trải dài qua nhiều thế kỷ đã mô tả kỹ lưỡng những ứng dụng của mỹ phẩm.trong nhiều nền văn hóa khác nhau, ngay từ thời kỳ đầu tiên trong lịch sử mà con người có thể ghi lại được.
In antiquity, however, at least in the onset, cosmetics served in religious ceremonies and for healing purposes.
Tuy nhiên, trong thời cổ đại, ít nhất là vào thời kỳ đầu, mỹ phẩm.chỉ được phục vụ trong các nghi lễ tôn giáo và cho mục đích chữa bệnh.
Cosmetics were also connected with cultic worship and witchcraft: to appease the various gods, fragrant ointments were applied to the statuary images and even to their attendants.
mỹ phẩm.còn được liên hệ với những nghi lễ thờ phụng của các giáo phái và những thuật phù thủy: Để xoa dịu các vị thần, người ta sẽ bôi mỡ thơm lên các bức tượng và lên cả những người phụ trách trông nom chúng.
From this, in the course of time, developed the custom of personal use, to enhance the beauty of the face and the body, and to conceal defects.
Từ đó, dần theo thời gian, người ta bắt đầu sử dụng chúng với mục đích cá nhân, nhằm tôn lên vẻ đẹp của gương mặt và cơ thể, cũng như để che đi những khuyết điểm của bản thân.
Perfumes and fragrant spices were precious commodities in antiquity, very much in demand, and at times even exceeded silver and gold in value.
Dầu thơm và hương liệu là những mặt hàng quý giá trong thời cổ đại, chúng được bán rất chạy và, tại thời điểm đó, có khi còn có giá trị lớn hơn cả vàng và bạc.
Therefore they were luxury products, used mainly in the temples and in the homes of the noble and wealthy.
Vậy nên, chúng được xem như là những mặt hàng sang trọng, và phần lớn chỉ được sử dụng trong đền thờ hoặc trong gia đình quý tộc và giàu có.
The Judean kings kept them in treasure houses (2 Kings 20:13).
Những quốc vương của Đế quốc Judah còn cất giữ chúng trong kho tàng của mình ( thuộc Sách Các Vua 2, Kinh Cựu Ước, Chương 20 mục 13).
And the Queen of Sheba brought to Solomon “camels laden with spices, gold in great quantity and precious stones.”(1 Kings 10:2, 10).
Và Nữ vương xứ Sheba đã đưa đến cho vua Solomon “những con lạc đà chở đầy hương liệu, và một số lượng rất lớn vàng cùng đá quý.” (thuộc Sách Các Vua 1, Kinh Cựu Ước, Chương 10 mục 2).
However, within time, the use of cosmetics became the custom of that period.
Tuy nhiên, theo thời gian, việc sử dụng mỹ phẩm.đã dần trở thành một thói quen trong thời kỳ đó.
The use of cosmetics became widespread among the lower classes as well as among the wealthy; in the same way, they washed the body, so they used to care for the body with substances that softened the skin and anoint it with fragrant oils and ointments.
Việc sử dụng mỹ phẩm.đã trở nên phổ biến với những người thuộc cả tầng lớp lao động lẫn những tầng lớp giàu có hơn; một điểm giống nhau đó là, họ đều phải tắm rửa, vậy nên họ cũng dưỡng thể bằng những chất làm mềm da và xức lên người các loại tinh dầu hoặc mỡ thơm.
Facial treatment was highly developed and women devoted many hours to it.
Liệu trình chăm sóc da mặt dần trở nên phổ biến mạnh và phụ nữ cũng dành nhiều thời gian cho việc này hơn.
They used to spread various scented creams on the face and to apply makeup in vivid and contrasting colours.
Họ thoa những loại kem thơm lên mặt và trang điểm với những tông màu nổi bật có độ tương phản đối lập nhau.
An Egyptian papyrus from the 16th century BC contains detailed recipes to remove blemishes, wrinkles, and other signs of age.
Một loại giấy cói Ai Cập từ thế kỷ 16 trước Công Nguyên đã ghi chép lại những công thức giúp loại bỏ thâm mụn, nếp nhăn, và những dấu hiệu lão hóa khá
Greek and Roman women would cover their faces in the evening with a “beauty mask” to remove blemishes, which consisted mainly of flour mixed with fragrant spices, leaving it on their face all night.
Những người phụ nữ Hy Lạp và La Mã sẽ đắp mặt vào buổi tối với một loại “mặt nạ dưỡng nhan” nhằm loại bỏ những vết thâm, với thành phần chủ yếu là bột mì trộn với các loại hương liệu khác nhau, họ sẽ để như vậy cả đêm.
The next morning they would wash it off with asses’ milk.
Sáng hôm sau, họ sẽ rửa sạch lớp mặt nạ này bằng sữa lừa.
The very common creams used by women in the ancient Far East, particularly important in the hot climate and prevalent in that area of the globe, were made up of oils and aromatic scents.
Các loại kem được sử dụng phổ biến bởi những phụ nữ ở Viễn Đông, cực kỳ quan trọng với những vùng có khí hậu nóng và thịnh hành ở khu vực này, được làm từ tinh dầu và những chất tạo hương.
Sometimes the oil in these creams was extracted from olives, almonds, gourds, sesame, or from trees and plants; but, for those of limited means, scented animal and fish fats were commonly used.
Đôi khi những tinh dầu được dùng trong những loại kem này được chiết từ quả ô liu, hạnh nhân, bầu bí, vừng, hoặc từ thân cây; nhưng, khi các nguyên liệu bị hạn chế, mỡ động vật và mỡ cá được tẩm hương cũng được sử dụng phổ biến.
Women in the ancient past commonly put colours around their eyes.
Phụ nữ thời cổ đại thường xuyên vẽ màu lên xung quanh mắt của họ.
Besides beautification, its purpose was also medicinal as covering the sensitive skin of the lids with colored ointments that prevented dryness and eye diseases: the eye-paint repelled the little flies that transmitted eye inflammations.
Ngoài để làm đẹp ra thì điều này còn phục vụ mục đích phòng và chữa bệnh, bởi vì thứ thuốc mỡ đầy màu sắc được bôi quanh vùng da nhạy cảm của mí mắt này sẽ giúp ngăn chặn sự khô nẻ và các bệnh về mắt khác: ví dụ mắt được tô vẽ màu sắc giúp xua đuổi những con ruồi nhỏ truyền bệnh viêm mắt.
Egyptian women colored the upper eyelid black and the lower one green and painted the space between the upper lid and the eyebrow grey and blue.
Phụ nữ Ai Cập tô mí mắt trên của họ màu đen và mí mắt dưới của họ màu xanh lá, và phần khoảng cách giữa mi trên và lông mày sẽ được tô màu xám hoặc xanh lá.
The women of Mesopotamia favoured yellows and reds.
Những người phụ nữ xứ Mesopotamia thì lại ưa chuộng màu vàng và đỏ.
The use of kohl for painting the eyes is mentioned three times in the Bible, always with disapproval by the sages (2 Kings, 9:30; Jeremiah 4:30; Ezekiel 23:40).
Việc sử dụng phấn côn để trang điểm lên mắt được đề cập đến những 3 lần trong Kinh Thánh, nhưng luôn đi kèm với thái độ không tán thành từ những nhà hiền triết ( Kinh Cựu Ước: Sách Các Vua 2, chương 9 mục 30; Sách Ngôn Sứ Jeremiah, chương 4 mục 30; Sách Ngôn Sứ Ezekiel, chương 23 mục 40).
In contrast, Job named one of his daughters “Keren Happukh”- “horn of eye paint” (Job 42:14)
Nhưng trái lại, Thánh Job lại đặt tên cho một trong những con gái của ngài là “Keren Happukh” - nghĩa là “bút kẻ mắt” (Kinh Cựu Ước, Chương 42 mục 14).
Great importance was attached to the care for hair in ancient times.
Ở thời cổ đại, việc chăm sóc tóc cũng rất được coi trọng.
Long hair was always considered a symbol of beauty, and kings, nobles and dignitaries grew their hair long and kept it well-groomed and cared for.
Mái tóc dài đã luôn được coi là biểu tượng của sắc đẹp, và các vị vua chúa, quý tộc cũng như những người có tước vị cao đều nuôi tóc dài và luôn chải chuốt mái tóc cẩn thận.
Women devoted much time to the style of the hair; while not cutting, they would apply much care to it by arranging it skillfully in plaits and “building it up” sometimes with the help of wigs.
Những người phụ nữ là người dành nhiều thời gian hơn cả để tạo kiểu cho mái tóc của mình; không những không cắt tóc mà họ còn cực kỳ chăm sóc chúng bằng cách tết tóc một cách thật khéo léo và đôi khi độn dần lên với sự giúp đỡ của tóc giả.
Egyptian women generally wore their hair flowing down to their shoulders or even longer.
Phụ nữ Ai Cập thường để tóc dài đến vai hoặc dài hơn.
In Mesopotamia, women cherished long hair as a part of their beauty, and hair flowing down their backs in a thick plait and tied with a ribbon is seen in art.
Ở Mesopotamia, phụ nữ coi trọng mái tóc dài như một phần vẻ đẹp của họ, và hình ảnh mái tóc được tết thật dày trước khi được buộc lại bằng dây ruy băng thướt tha sau lưng vẫn được nhìn thấy trong những bức họa.
Assyrian women wore their hair shorter, braiding and binding it in a bun at the back.
Phụ nữ Assyria thì lại để tóc ngắn hơn, tết lại và buộc thành một búi ở phía sau.
In Ancient Israel, brides would wear their hair long on the wedding day as a sign of their virginity.
Ở Israel cổ đại, cô dâu sẽ để tóc dài trong ngày cưới của mình như một dấu hiệu chứng tỏ sự trinh trắng của bản thân.
Ordinary people and slaves, however, usually wore their hair short, mainly for hygienic reasons, since they could not afford to invest in the kind of treatment that long hair required.
Tuy nhiên, những người bình thường và nô lệ chỉ thường để tóc ngắn, chủ yếu là vì lý do vệ sinh, vì họ không đủ khả năng chi trả cho những phương pháp chăm sóc mà một mái tóc dài cần có.
From the Bible and Egyptian and Assyrian sources, as well as the words of classical authors, it appears that the centers of the trade-in aromatic resins and incense were located in the kingdoms of southern Arabia, and even as far as India, where some of these precious aromatic plants were grown.
Theo Kinh Thánh và các nguồn khác từ Ai Cập và Assyria, cũng như lời của các tác gia cổ điển, có vẻ như các trung tâm mua bán nhựa thơm và nhang hương thường nằm ở các vương quốc phía nam Ả Rập, và có khi là ở những nơi xa xôi như Ấn Độ, nơi mà những cây hương quý này mới mọc được.
“Dealers from Sheba and Rammah dealt with you, offering the choicest spices…” (Ezekiel 27:22).
“Khách buôn xứ Sheba và Rammah cũng giao thương với ngươi, đem đến cho ngươi những loại hương liệu bậc nhất…” ( Kinh Cựu Ước, Sách Ngôn Sứ Ezekiel, Chương 27 mục 22).
The Nabateans functioned as the important middlemen in this trade; Palestine also served as a very important component, as the trade routes crisscrossed the country.
Người Nabati làm việc dưới cương vị là những người trung gian quan trọng trong cuộc mua bán này; những người Palestine cũng đóng vai trò lớn, khi mà nhiều tuyến đường giao thương phải đi ngang qua đất nước này.
It is known that the Egyptian Queen Hatsheput (15th century BC) sent a royal expedition to the Land of Punt (Somalia) in order to bring back myrrh seedlings to plant in her temple.
Theo như được biết, Nữ hoàng Ai Cập Hatshepsut ( thuộc thế kỷ 15 trước Công Nguyên) đã cử một đoàn thám hiểm hoàng gia đến Xứ Punt ( thuộc Somalia) để mang về những hạt giống nhựa trầm hương về trồng trong đền thờ của bà.
In Assyrian records of tribute and spoils of war, perfumes and resins are mentioned; the text from the time of Tukulti-Ninurta II (890-884 BC) refers to balls of myrrh as a part of the tribute brought to the Assyrian king by the Aramaean kings.
Trong các ghi chép về cống vật và chiến lợi phẩm từ chiến tranh của người Assyria, dầu và sáp thơm cũng được nhắc đến; văn bản từ thời Tukulti-Ninurta II (890-884 TCN) đề cập tới những viên nhựa trầm hương là một phần của những cống vật được các vị vua xứ Aram mang đến cho vua Assyria.
The trade-in spices and perfumes are also mentioned in the Bible as written in Genesis (37:25-26), “Camels carrying gum tragacanth and balm and myrrh”.
Việc buôn bán các loại hương liệu và dầu thơm cũng được nhắc đến trong Kinh Thánh khi mà Sách Sáng Thế viết rằng (Chương 37 mục 25-26), “Những con lạc đà mang trên mình nhựa cây tuyết yến, dầu thơm và cả một dược.”
Từ vựng (65)
- flask (flæsk) — bình (dùng thí nghiệm), chai lọ bẹt
- covet (ˈkʌv.ət) — thèm muốn, khát cầu
- antiquity (ænˈtɪk.wə.t̬i) — đời xưa, người xưa
- cosmetic (kɑːzˈmet̬.ɪk) — mỹ phẩm.
- in demand (ˈɪn, ɪn) (dɪˈmænd) — được đòi hỏi nhiều, được bán chạy
- transmit (trænsˈmɪt) — truyền, phát
- spoil (spɔɪl) — chiến lợi phẩm
- pertinent (ˈpɝː.tən.ənt) — thích hợp, có liên quan
- appease (əˈpiːz) — an ủi, làm dịu, dỗ dành
- blemish (ˈblem.ɪʃ) — vết thâm mụn
- substance (ˈsʌb.stəns) — chất liệu, vật chất
- repel (rɪˈpel) — đẩy xa, đẩy lùi
- resin (ˈrez.ɪn) — nhựa, sáp
- gum tragacanth (ɡʌm) (tragacanth*) — nhựa cây tuyết yến
- ointment (ˈɔɪnt.mənt) — thuốc mỡ
- onset (ˈɑːn.set) — sự bắt đầu (mạnh mẽ)
- eyelid (ˈaɪ.lɪd) — mí mắt
- millennium (mɪˈlen.i.əm) — thiên niên kỷ
- mosaic (moʊˈzeɪ.ɪk) — tranh khảm
- dignitaries (ˈdɪɡnəˌtɛɹiz) — người có chức vụ cao
- exceed (ɪkˈsiːd) — vượt lên
- inscribe (ɪnˈskraɪb) — chạm khắc
- contrasting (kənˈtræs.tɪŋ) — tương phản, trái ngược
- wig (wɪɡ) — tóc giả
- conceal (kənˈsiːl) — che dấu
- incense (ˈɪn.sens) — nhang, hương
- perfume (ˈpɝː.fjuːm) — nước hoa, dầu thơm.
- cherish (ˈtʃer.ɪʃ) — yêu quý, trân trọng
- aromatic (ˌer.əˈmæt̬.ɪk) — thơm
- commodities (kəˈmɑdətiz) — mặt hàng
- prestigious (presˈtɪdʒ.əs) — có tiếng, có thanh thế
- balm (bɑːm) — nhựa thơm, dầu thơm
- plait (pleɪt) — bím tóc, đuôi sam
- widespread (ˌwaɪdˈspred) — phổ biến
- aesthetic (esˈθet̬.ɪk) — có tính thẩm mỹ
- fragrant (ˈfreɪ.ɡrənt) — có mùi thơm ngát
- almond (ˈɑːl.mənd) — hạnh nhân
- disapproval (ˌdɪs.əˈpruː.vəl) — sự không tán thành
- archaeological (ˌɑːr.ki.əˈlɑː.dʒɪ.kəl) — (thuộc) khảo cổ học
- spice (spaɪs) — hương liệu, gia vị
- wrinkle (ˈrɪŋ.kəl) — nếp nhăn
- religious (rɪˈlɪdʒ·əs) — thuộc tôn giáo
- witchcraft (ˈwɪtʃ.kræft) — thuật phù thủy
- hygienic (haɪˈdʒen.ɪk) — hợp vệ sinh
- prevalent (ˈprev.əl.ənt) — thịnh hành, thông dụng
- laden (ˈleɪ.dən) — chất đầy
- cultic (ˈkəɫtɪk) — (thuộc) giáo phái
- statuary (ˈstætʃ.u.er.i) — (thuộc) tượng
- tribute (ˈtrɪb.juːt) — cống vật
- sesame (ˈses.ə.mi) — vừng
- dawn (dɑːn) — bình minh
- expedition (ˌek.spəˈdɪʃ.ən) — cuộc viễn chinh, cuộc thám hiểm
- bun (bʌn) — búi tóc
- custom (ˈkʌs.təm) — phong tục, lề thói
- wealthy (ˈwel.θi) — giàu có
- anoint (əˈnɔɪnt) — xức (dầu)
- civilization (ˌsɪv.əl.əˈzeɪ.ʃən) — nền văn minh
- pictorial (pɪkˈtɔːr.i.əl) — (thuộc) tranh ảnh, bằng hình tượng
- vivid (ˈvɪv.ɪd) — nổi bật, chói lóa, sống động
- discovery (dɪˈskʌv.ɚ.i) — sự khám phá
- gourd (ɡɔːrd) — quả bầu, bí
- papyrus (pəˈpaɪ.rəs) — giấy cói
- enhance (ɪnˈhæns) — nâng cao, tăng cường
- myrrh (mɝː) — một dược
- span (spæn) — trải qua