← Danh sách bài đọc
Bài 004

The Green Revolution in China

Cách mạng Xanh ở Trung Quốc

A couple of weeks ago, China’s highest government body published their conclusions from the second research session on continental climate change over a period of twelve months.
Một vài tuần trước, cơ quan chính phủ cao nhất của Trung Quốc đã công bố kết luận của họ từ phiên nghiên cứu thứ hai về biến đổi khí hậu tại các lục địa trong khoảng thời gian 12 tháng.
Due to China’s new global role and the number of unprecedented environmental issues in China, the Chinese prime minister was very keen to raise climate change as an important issue at the upcoming G8 summit in Hokkaido, Japan.
Do vai trò mới của Trung Quốc trên trường quốc tế cùng một số vấn đề môi trường chưa từng có tiền lệ tại quốc gia này, Chủ tịch Tập Cận Bình rất quan tâm đến biến đổi khí hậu như một vấn đề quan trọng trong hội nghị Thượng đỉnh G8 sắp tới ở Hokkaido, Nhật Bản.
It should be highlighted that the Chinese central government also had a similar meeting and that China is a rapidly industrializing country with new coal-fueled power plants opening every week.
Cần lưu ý rằng chính quyền trung ương Trung Quốc cũng đã có một cuộc họp tương tự và Trung Quốc là quốc gia có tốc độ công nghiệp hóa nhanh chóng và mỗi tuần, nước này lại mở cửa các nhà máy điện chạy bằng than đá mới.
China is like a terrifying carbon-guzzling monster.
Trung Quốc giống như một con quái vật đáng sợ tiêu tốn lượng lớn khí cacbon.
As a result of thirty years of industrialization, China now has the highest level of carbon dioxide emissions in the world.
Kết quả của 30 năm công nghiệp hóa, Trung Quốc hiện có mức phát thải carbon đioxit cao nhất trên thế giới.
Carbon dioxide emissions are increasing up to eight per cent a year.
Lượng khí thải carbon dioxide đang tăng lên đến 8% mỗi năm.
The EU achieved a twenty per cent reduction, but China’s emission rate was twice as much approaching the 2010 IPCC deadline for carbon dioxide emissions reduction.
Liên minh Châu Âu đã đạt được mức giảm 20%, nhưng tỷ lệ phát thải của Trung Quốc lại cao gấp đôi so với thời hạn IPCC 2010 về cắt giảm phát thải khí cacbon đioxit.
However, it could be misleading to put too much emphasis on these statistics.
Tuy nhiên, việc quá chú trọng vào những con số thống kê có thể là hành động sai lầm.
A non-governmental organization (Climate Group) newspaper report presents a slightly different picture.
Một bài báo cáo của tổ chức phi chính phủ (Tổ chức Climate Group) cho thấy một bức tranh khá khác biệt.
According to the Clean Revolution (cuộc cách mạng) in China, China is a nation that is more than aware (nhận thức) of its environmental issues but also has the potential (tiềm năng) to achieve a second miracle in 30 years.
Theo Chiến dịch Cách mạng Xanh ở Trung Quốc, nước này không những có nhận thức rõ ràng về những vấn đề môi trường của chính họ mà còn là quốc gia có tiềm năng đạt được điều kỳ diệu thứ 2 trong vòng 30 năm.
The environmental price of the first “miracle” was that Chinese people always saw their daily lives.
Cái giá phải trả cho môi trường của “phép màu” đầu tiên là điều người Trung Quốc nhìn thấy được trong cuộc sống hàng ngày.
That’s why most of the policies are related to energy efficiency (hiệu quả), energy-saving and other alternative energy sources.
Đó là lý do tại sao hầu hết các chính sách đều liên quan đến sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng và các nguồn năng lượng thay thế khác.
Those policies have already been met with some concern (bận tâm).
Những chính sách đó đã đáp ứng được một vài mối lo ngại.
Whilst the personal sectors are so strong and developing, they are able to aid the central government to introduce laws, like the National Renewable Energy Law in 2006.
Trong khi các lĩnh vực các nhân đang rất vững chắc và phát triển tốt, họ có thể hỗ trợ chính phủ Trung Ương ban hành một số luật mới, như Luật Năng lượng Tái tạo Quốc gia năm 2006.
This has set hard targets, including increasing the amount of energy made from new renewable sources from eight per cent to fifteen per cent until 2020.
Luật này đặt ra một số mục tiêu khó nhằn, bao gồm tăng lượng năng lượng được tạo ra từ các nguồn tái tạo mới từ 8% lên 15% đến năm 2020.
Also, it has guaranteed at least three per cent of renewable energy sources, such as biomass, solar and wind.
Ngoài ra, luật này còn đảm bảo ít nhất 3% các nguồn năng lượng tái tạo, chẳng hạn như sinh khối, năng lượng mặt trời và gió.
Both wind and solar power are so successful, but their origins are very different.
Cả năng lượng gió và năng lượng mặt trời đều rất thành công, nhưng nguồn gốc của chúng rất khác nhau.
With 6 gigawatts of energy made from wind turbines, surprisingly China is now ranked behind Germany, the US, Spain and India.
Với 6 gigawatt năng lượng được tạo ra từ tuabin gió, Trung Quốc bất ngờ xếp sau Đức, Mỹ, Tây Ban Nha và Ấn Độ.
Also, some believe China will reach 100 GW by 2020.
Ngoài ra, người ta tin rằng Trung Quốc sẽ đạt mốc 100 GW vào năm 2020.
Wind power successfully shows that with central government aid China is ready for new policies, subsidies (trợ cấp) and advanced technology.
Năng lượng gió thành công thể hiện rằng với sự viện trợ của chính phủ Trung Ương, Trung Quốc đã sẵn sàng cho các chính sách mới, trợ cấp và công nghệ tiên tiến.
This situation also has a role in the domestic market.
Tình hình này cũng đóng một vai trò nhất định trong thị trường nội địa.
The amount of electricity produced by wind farms can be a burden (gánh nặng) to fund.
Lượng điện được sản xuất bởi các trang trại gió có thể là một gánh nặng cho quỹ.
Even though western countries invented an open marketplace set to dominate in China, there were few domestic incentives for solar power.
Mặc dù các nước phương Tây đã tạo ra một thị trường mở nhằm chiếm ưu thế tại Trung Quốc, nhưng khuyến khích trong nước về điện mặt trời vẫn còn khá ít ỏi.
In the global solar photovoltaic cell market, it is second only to Japan and growing fast.
Trên thị trường tế bào quang điện mặt trời, nước này đứng thứ hai chỉ sau Nhật Bản và đang phát triển nhanh chóng.
In China, the solar market has been a small business, because the cells are so expensive.
Ở Trung Quốc, thị trường năng lượng mặt trời chỉ là một ngành kinh doanh nhỏ lẻ, vì các tế bào này rất đắt tiền.
This puts pressure on the government to rapidly follow up on their policies, for example, the role of the Climate Group is important in developing domestic markets.
Điều này gây áp lực buộc chính phủ phải nhanh chóng nghiên cứu sâu hơn về các chính sách của họ, chẳng hạn, vai trò của Tổ chức Climate Group là rất quan trọng trong việc phát triển thị trường nội địa.
However, the image of new coal-fueled power stations still looms large as they are opening every week.
Tuy nhiên, bức tranh về các trạm năng lượng chạy bằng than vẫn hiện ra rõ ràng như chúng đang mở cửa hàng tuần.
It is hard to imagine that China has achieved a 10.5 per cent of growth rate without such stations in the last quarter.
Thật khó để tưởng tượng rằng Trung Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng 10,5% mà không có các trạm năng lượng như vậy trong vòng khoảng một phần tư thế kỷ qua.
However, how many people actually know that China has been closing its small power stations over the last couple of years?
Tuy nhiên, có bao nhiêu người thực sự biết rằng Trung Quốc đã đóng cửa các trạm năng lượng nhỏ trong vòng vài năm trở lại đây?
Step by step China is reducing its small power stations, first the 50-megawatt ones then the 100-megawatt ones and next will be the 300-megawatt power stations.
Trung Quốc đang từng bước giảm những trạm năng lượng nhỏ của họ, đầu tiên là trạm 50 megawatt sau đó đến trạm 100 megawatt và tiếp theo sẽ là những trạm năng lượng 300 megawatt.
This policy is operated (vận hành) by the Chinese central government and backs up the new generation of coal station using the most advanced technologies with supercritical and ultra-supercritical improved clean coal.
Chính sách này được chính phủ Trung Ương Trung Quốc ban hành và hỗ trợ các nhà máy than thế hệ mới sử dụng các công nghệ tiên tiến nhất với than sạch cải thiện siêu hạn và cực siêu hạn.
Capture functions and plants of carbon are researched and developed, but advanced thinking for the future is based on the technology of Integrated Gasification Combined Cycle (IGCC) that turn coal materials into synthetic gas to make power.
Các chức năng thu nhận cùng các nhà máy carbon được nghiên cứu và phát triển, nhưng tư duy tiên tiến cho tương lai dựa trên công nghệ Chu trình tổng hợp khí hóa tổng hợp (IGCC) biến nguyên liệu than thành khí tổng hợp để sản xuất điện.
These days, Chinese consumers demand better homes and vehicles.
Ngày nay, người tiêu dùng Trung Quốc có nhu cầu về nhà và phương tiện tốt với chất lượng tốt hơn.
Public awareness of energy-saving is on the rise (đang gia tăng).
Nhận thức của cộng đồng về tiết kiệm năng lượng ngày càng được nâng cao.
The Chinese government introduced a standard fuel economy for vehicles in 2004 of 15.6 kilometers per litre.
Chính phủ Trung Quốc đã đề ra mức tiết kiệm nhiên liệu tiêu chuẩn cho các phương tiện vào năm 2004 là 15,6 km / lít.
This is higher than the US, Canada and Australia but behind Europe and Japan.
Con số này cao hơn Mỹ, Canada và Australia nhưng đứng sau châu Âu và Nhật Bản.
In the meantime, in spite of a high 20 per cent tax on SUVs (Sport Utility Vehicles), the sale of these sorts of cars continues to increase.
Trong khi đó, bất chấp mức thuế cao 20% đối với xe SUV (Xe tiện ích thể thao), doanh số bán những dòng xe này vẫn tiếp tục tăng.
Up to now, China has been the kingdom of the bicycle, importing the electric bike at 1,500 yuan ($220) per vehicle.
Cho đến nay, Trung Quốc đã là vương quốc của xe đạp, nhập khẩu xe đạp điện với mức giá 1.500 nhân dân tệ (220 USD) mỗi chiếc.
Some of these vehicles have adopted an intelligent recovery system similar to that of hybrid cars.
Một số loại xe này đã áp dụng hệ thống phục hồi thông minh tương tự như của xe hơi lai điện.
In 2007, the sale of electric bikes increased considerably and China is estimated to make up three-quarters of the world electric vehicle market.
Năm 2007, doanh số bán xe đạp điện tăng lên đáng kể và Trung Quốc được dự đoán sẽ chiếm 3/4 thị trường xe điện thế giới.
China, already, is doing a lot on the bottom line.
Trung Quốc đang tập trung và có nhiều hành động trên các phương diện quan trọng.
So, could it do more?
Vậy thì liệu họ có thể làm được nhiều hơn thế nữa hay không?
The answer is yes, China should learn and open its mind through international communities.
Câu trả lời là có, Trung Quốc nên học hỏi và mở rộng tư duy thông qua các cộng đồng quốc tế.
According to the Climate Group, they report the world should refine their image of China, just not fear it and, constructively, work in unison (đồng thanh).
Theo Tổ chức Climate Group, họ tuyên bố rằng thế giới nên thay đổi cách nhìn về Trung Quốc theo hướng tích cực hơn, đừng cảm thấy sợ hãi và cùng nhau hợp tác, các bên cùng có lợi.
At the same time, China’s government should develop a clean revolution (cuộc cách mạng) and maintain internal pressure for improvements.
Đồng thời, chính phủ Trung Quốc nên phát triển một cuộc cách mạng xanh và duy trì áp lực nội bộ để tiếp tục đạt được những cải thiện khác.

Từ vựng (22)

  • continental (ˌkɑːn.t̬ənˈen.t̬əl) — (thuộc) lục địa
  • prime minister (praɪm) (ˈmɪn.ə.stɚ) — thủ tướng chính phủ
  • summit (ˈsʌm.ɪt) — hội nghị Thượng đỉnh
  • central government (ˈsen.trəl) (ˈɡʌv.ɚn.mənt) — chính phủ Trung Ương
  • coal-fueled power plant (koʊl) (ˈfjuəɫd) (ˈpaʊ.ɚ) (plænt) — nhà máy điện chạy bằng than
  • terrifying (ˈter.ə.faɪ.ɪŋ) — đáng sợ
  • carbon-guzzling (ˈkɑːr.bən) (ˈɡəzəɫɪŋ, ˈɡəzɫɪŋ) — tiêu tốn nhiều cacbon
  • emphasis (ˈem.fə.sɪs) — sự nhấn mạnh, sự chú trọng
  • miracle (ˈmɪr.ə.kəl) — phép màu, điều kỳ diệu
  • aid (eɪd) — sự hỗ trợ, cứu trợ, viện trợ
  • biomass (ˈbaɪ.oʊˌmæs) — sinh khối
  • subsidy (ˈsʌb.sə.di) — tiền trợ cấp do chính phủ chi trả
  • domestic (dəˈmes.tɪk) — nội địa, trong nước
  • fund (fʌnd) — ngân quỹ
  • dominate (ˈdɑː.mə.neɪt) — chiếm ưu thế, vượt trội hơn
  • photovoltaic (ˌfoʊ.t̬oʊ.vɑːlˈteɪ.ɪk) — thuộc quang điện
  • loom (luːm) — hiện lên sừng sừng, rõ ràng
  • supercritical (ˌsuː.pɚˈkrɪt̬.ɪ.kəl) — siêu hạn
  • capture (ˈkæp.tʃɚ) — thu nhận
  • gasification (ˌɡæs.ə.fəˈkeɪ.ʃən) — sự khí hoá
  • synthetic (sɪnˈθet̬.ɪk) — tổng hợp
  • refine (rɪˈfaɪn) — cải thiện