← Danh sách bài đọc
Bài 049

Environmentally-Friendly! Vehicles

Xe thân thiện với môi trường

In the early 1990s, the California Air Resources Board (CARB), the government of California’s “clean air agency”, began a push for more fuel-efficient, lower-emissions vehicles, with the ultimate goal being a move to zero-emissions vehicles such as electric vehicles.
Vào đầu những năm 1990, Ban Tài nguyên Không khí California, cơ quan chính phủ của California về ''không khí sạch'', đã bắt đầu có sự thúc đẩy vào những phương tiện tiết kiệm nhiên liệu và khí thải, với mục tiêu cuối cùng là chuyển đổi thành những phương tiện không khí thải chẳng hạn như xe điện.
In response, automakers developed electric models, including the Chrysler TEVan, Ford Ranger EV pickup truck, GM EV1 and S10 EV pickup, Honda EV Plus hatchback, Nissan lithium-battery Altra EV miniwagon and Toyota RAV4 EV.
Để đáp lại, các nhà sản xuất ô tô đã cải tiến các mô hình xe điện, bao gồm Chrysler TEVan, xe bán tải Ford Ranger EV, GM EV1 và S10 EV, ô tô có cửa sau Honda EV Plus, lithium-battery xe kéo loại nhỏ sử dụng pin Li-on Nissan Altra EV và Toyota RAV4 EV.
Ford Fusion is manufactured at Ford’s Hermosillo Stamping & Assembly plant, located in Sonora Mexico.
Ford Fusion được sản xuất tại nhà máy Ford’s Hermosillo Stamping & Assembly, đặt tại Sonora Mexico.
I thought going green was supposed to provide the U.S. with more jobs.
Tôi nghĩ việc chuyển sang "lối sống xanh" được cho rằng sẽ cung cấp cho Hoa Kỳ nhiều việc làm hơn.
The automakers were accused of pandering to the wishes of CARB in order to continue to be allowed to sell cars in the lucrative Californian market, while failing to adequately promote their electric vehicles in order to create the impression that the consumers were not interested in the cars, all the while joining oil industry lobbyists in vigorously protesting CARB’s mandate.
Các nhà sản xuất đã bị buộc tội đã làm theo mong muốn của CARB để tiếp tục được cho phép bán những chiếc ô tô tại thị trường California béo bở, trong khi học không quảng bá đầy đủ xe điện để tạo ấn tượng rằng người tiêu dùng của họ không hứng thú đến ô tô, đồng thời tham gia cùng các nhà vận động hành lang trong ngành dầu mỏ phản đối mạnh mẽ sự ủy thác của CARB.
GM’s program came under particular scrutiny; in an unusual move, consumers were not allowed to purchase EV1s, but were instead asked to sign closed-end leases, meaning that the cars had to be returned to GM at the end of the lease period, with no option to purchase, despite lesser interest in continuing to own the cars.
Chương trình của GM được giám sát đặc biệt; trong một động thái bất thường, người tiêu dùng không được phép mua xe EV1 mà thay vào đó họ được yêu cầu ký hợp đồng thuê kín, có nghĩa là xe phải được trả lại cho GM khi kết thúc thời hạn thuê và không có lựa chọn mua, mặc dù lãi suất thấp hơn khi sở hữu những chiếc xe.
Chrysler, Toyota, and a group of GM dealers sued CARB in Federal court, leading to the eventual neutering of CARB’s ZEV Mandate.
Chrysler, Toyota và một nhóm các đại lý GM đã kiện CARB lên tòa án Liên bang, dẫn đến việc hủy bỏ Ủy nhiệm ZEV của CARB.
After public protests by EV drivers’ groups upset by the repossession of their cars, Toyota offered the last 328 RAV4-EVs for sale to the general public during six months, up until November 22, 2002.
Sau những cuộc biểu tình công khai của các nhóm lái xe EV vì bị thu hồi xe, Toyota ngỏ ý giao bán 328 chiếc RAV4-EVs cuối cùng cho công chúng trong 6 tháng, cho đến ngày 22 tháng 11 năm 2002.
Almost all other production electric cars were withdrawn from the market and were in some cases seen to have been destroyed by their manufactures.
Hầu hết tất cả những chiếc ô điện sản xuất khác đã bị rút khỏi thị trường và trong một vài trường hợp được xem là đã bị phá hủy bởi những nhà sản xuất.
Toyota continues to support the several hundred Toyota RAV4-EV in the hands of the general public and in fleet usage.
Toyota tiếp tục hỗ trợ vài trăm chiếc Toyota RAV4-EV trong tay của công chúng và đội xe sử dụng.
GM famously de-activated the few EV1s that were donated to engineering schools and museums.
GM đã nổi tiếng với việc hủy kích hoạt vài chiếc EV1s đã được tặng cho các trường kỹ thuật và viện bảo tàng.
Throughout the 1990s, the appeal of fuel-efficient or environmentally friendly cars declined among Americans, who instead favored sport utility vehicles, which were affordable to operate despite their poor fuel efficiency thanks to lower gasoline prices.
Suốt những năm 1990, sự thu hút của những chiếc xe ô tô tiết kiệm nhiên liệu hoặc thân thiện hơn với môi trường đã suy giảm dần với người Mỹ, thay vào đó họ ưa ái những chiếc xe thể thao tiện ích, giá cả phải chăng để vận hành mặc dù ít tiết kiệm nhiên liệu hơnnhờ vào giá xăng thấp hơn.
American automakers chose to focus their product lines around the truck-based vehicles, which enjoyed larger profit margins than the smaller cars which were preferred in places like Europe or Japan.
Những nhà sản xuất xe hơi Mỹ đã chọn tập trung các dòng sản phẩm của mình vào dòng xe tải, vốn có tỷ suất lợi nhuận lớn hơn so với các dòng xe nhỏ hơn vốn được ưa chuộng ở Châu Âu hay Nhật Bản.
In 1999, the Honda Insight hybrid car became the first hybrid to be sold in North America since the little-known Woods hybrid of 1917.
Năm 1999, Honda Insight đã trở thành chiếc xe hỗn hợp (hybrid) đầu tiên được bán ở Bắc Mỹ bởi chiếc xe hybrid Woods năm 1917 ít được biết đến.
In 1995, Toyota debuted a hybrid concept car at the Tokyo Motor Show, with testing following a year later.
Năm 1995, Toyota đã ra mắt một mẫu xe hỗn hợp tại Tokyo Motor Show, với cuộc thử nghiệm sau đó một năm.
The first Prius, model NHW10, went on sale on December 10, 1997.
Chiếc xe Prius đầu tiên, mẫu NHW10, được bán vào ngày 10 tháng 12 năm 1997.
It was available only in Japan, though it has been imported privately to at least the United Kingdom, Australia, and New Zealand.
Nó chỉ có sẵn tại Nhật bản, mặc dù nó được nhập khẩu riêng đến Vương quốc Anh, Úc và New Zealand.
The first-generation Prius, at its launch, became the world’s first mass-produced gasoline-electric hybrid car.
Khi ra mắt, chiếc Prius dòng đầu tiên đã trở thành chiếc xe lai xăng-điện được sản xuất hàng loạt đầu tiên trên thế giới.
The NHW10 Prius styling originated from California designers, who were selected over competing designs from other Toyota design studios.
Kiểu dáng của chiếc NHW10 Prius có nguồn gốc từ các nhà thiết kế California, những người đã được lựa chọn trên các thiết kế cạnh tranh từ các xưởng thiết kế khác của Toyota.
In the United States, the NHW11 was the first Prius to be sold.
Tại Hoa Kỳ, NHW11 là chiếc Prius đầu tiên được bán.
The Prius was marketed between the smaller Corolla and the larger Camry.
Prius được bán trên thị trường, có kích thước nằm giữa chiếc Corolla và Camry.
The published retail price of the car was US$19,995.
Giá bán lẻ được công bố của xe là 19.995 USD.
The NHW11 Prius became more powerful partly to satisfy the higher speeds and longer distances that Americans drive.
NHW11 Prius trở nên mạnh mẽ hơn để một phần đáp ứng tốc độ cao hơn và quãng đường dài hơn mà người Mỹ lái xe.
Air conditioning and electric power steering were standard equipment.
Điều hòa không khí và hệ thống tay lái lực điện là trang bị tiêu chuẩn.
The vehicle was the second mass-produced hybrid on the American market, after the two-seat Honda Insight.
Đây là mẫu xe lai thứ hai được sản xuất hàng loạt tại thị trường Mỹ, sau Honda Insight hai chỗ ngồi.
While the larger Prius could seat five, its battery pack restricted cargo space.
Trong khi chiếc Prius rộng hơn có thể ngồi năm chỗ, bộ pin của nó hạn chế không gian chở hàng.
Hybrids, which featured a combined gasoline and electric powertrain, were seen as a balance, offering an environmentally friendly image and improved fuel economy, without being hindered by the low range of electric vehicles, albeit at an increased price over comparable gasoline cars.
Xe điện lai, đặc trưng của hệ thống truyền động kết hợp xăng và điện, được xem là một sự cân bằng, mang lại hình ảnh thân thiện với môi trường và cải thiện khả năng tiết kiệm nhiên liệu, mà không bị cản trở bởi dòng xe điện thấp, mặc dù giá tăng so với các xe hơi chạy xăng tương đương.
Sales were poor, the lack of interest attributed to the car’s small size and the lack of necessity for a fuel-efficient car at the time.
Doanh số bán hàng kém, sự thiếu thu hút được cho là do kích thước nhỏ của xe và sự thiếu cần thiết đối với một chiếc xe tiết kiệm nhiên liệu vào thời điểm đó.
The 2000s energy crisis brought renewed interest in hybrid and electric cars.
Cuộc khủng hoảng năng lượng vào những năm 2000 đã mang lại sự hứng thú mới đến xe hơi điện lai và xe điện.
In America, sales of the Toyota Prius jumped, and a variety of automakers followed suit, releasing hybrid models of their own.
Tại Mỹ, doanh số bán hàng của Toyota Prius đã nhảy vọt và một loạt các nhà sản xuất ô tô cũng làm theo, tung ra các mẫu xe điện lai của riêng họ.
Several began to produce new electric car prototypes, as consumers called for cars that would free them from the fluctuations of oil prices.
Một số đã bắt đầu các nguyên mẫu ô tô điện mới, khi người tiêu dùng cho rằng những chiếc ô tô có thể giải phóng họ khỏi những biến động của giá dầu.
In 2000, Hybrid Technologies, later renamed Li-ion Motors, started manufacturing electric cars in Mooresville, North Carolina.
Năm 2000, Hybrid Technologies, sau này đã đổi tên thành Li-ion Motors, đã bắt đầu sản xuất những chiếc xe hơi điện ở Mooresville, North Carolina.
There has been increasing controversy with Li-ion Motors though due to the ongoing ‘Lemon issues’ regarding their product.
Ngày càng có nhiều tranh cãi với Li-ion Motors mặc dù do 'vấn đề Lemon' liên quan đến sản phẩm của họ đang diễn ra.
And their attempt to cover it up.
Và họ cố gắng che đậy nó.
California electric-car maker Tesla Motors began development in 2004 on the Tesla Roadster, which was first delivered to customers in 2008.
Nhà sản xuất ô tô điện Tesla Motors của California bắt đầu phát triển chiếc Tesla Roadster vào năm 2004, được giao cho khách hàng lần đầu tiên vào năm 2008.
The Roadster remained the only highway-capable EV in serial production and available for sale until 2010.
Roadster vẫn là chiếc EV duy nhất có khả năng chạy trên đường cao tốc được sản xuất hàng loạt và có sẵn để bán cho đến năm 2010.
Senior leaders at several large automakers, including Nissan and General Motors, have stated that the Roadster was a catalyst which demonstrated that there is pent-up consumer demand for more efficient vehicles.
Lãnh đạo cấp cao của một số nhà sản xuất ô tô lớn, bao gồm Nissan và General Motors, đã tuyên bố rằng Roadster là một chất xúc tác chứng tỏ rằng nhu cầu của người tiêu dùng đang bị dồn về các loại xe hiệu quả hơn.
GM Vice Chairman Bob Lutz said in 2007 that the Tesla Roadster inspired him to push GM to develop the Chevrolet Volt, a plug-in hybrid sedan prototype that aims to reverse years of dwindling market share and massive financial losses for America’s largest automaker.
Phó Chủ tịch GM Bob Lutz cho biết vào năm 2007 rằng Tesla Roadster đã truyền cảm hứng để ông thúc đẩy GM phát triển Chevrolet Volt, một nguyên mẫu xe lai sạc điện sedan nhằm mục đích đảo ngược những năm thị phần ngày càng giảm và thiệt hại tài chính lớn cho nhà sản xuất ô tô lớn nhất nước Mỹ.
In an August 2009 edition of The New Yorker, Lutz was quoted as saying, “All the geniuses here at General Motors kept saying lithium-ion technology is 10 years away, and Toyota agreed with us – and boom, along comes Tesla.
Trong một ấn bản tháng 8 năm 2009 của tờ The New Yorker, Lutz được trích dẫn nói: “Tất cả các thiên tài ở General Motors đều nói rằng công nghệ pin Li-on sẽ xuất hiện trong 10 năm nữa, và Toyota đã đồng ý với chúng tôi - và sự bùng nổ, cùng với Tesla.
So I said, ‘How come some tiny little California startup, run by guys who know nothing about the car business, can do this, and we can’t?’ That was the crowbar that helped break up the log jam.”.
Vì vậy tôi đã nói, "Làm thế nào mà một số công ty khởi nghiệp nhỏ ở California, được điều hành bởi những người không biết gì về kinh doanh xe hơi, lại có thể làm được điều này, còn chúng tôi thì không thể?"

Từ vựng (53)

  • hybrid (n) (ˈhaɪ.brɪd) (ˈɛn) — loại xe điện lai hoặc xe lai/ hỗn hợp
  • fuel-efficient (=economical)(adj) (ˈfjuː.əl) (ɪˈfɪʃ.ənt) (economicaladj*) — tiết kiệm nhiên liệu
  • automaker (n) (ˈɑː.t̬oʊˌmeɪ.kɚ) (ˈɛn) — nhà sản suất xe hơi
  • push (v) (pʊʃ) (ˈvi) — thúc đẩy
  • in response (ˈɪn, ɪn) (rɪˈspɑːns) — sự trả lời, sự đáp lại, sự hưởng ứng
  • dealer (n) (ˈdiː.lɚ) (ˈɛn) — người buôn bán, đại lý
  • support (v) (səˈpɔːrt) (ˈvi) — chống đỡ, ủng hộ
  • emission (n) (iˈmɪʃ.ən) (ˈɛn) — khí thải, sự thải khí
  • ultimate (ˈʌl.tə.mət) — cuối cùng, sau cùng
  • electectric vehicle (n) (electectric*) (ˈviː.ə.kəl) (ˈɛn) — xe điện
  • pickup truck (n) (ˈpɪk.ʌp) (trʌk) (ˈɛn) — xe bán tải
  • hatchback (n) (ˈhætʃ.bæk) (ˈɛn) — ô tô có cửa sau
  • fail (v) (feɪl) (ˈvi) — thất bại trong việc gì
  • promote (v) (prəˈmoʊt) (ˈvi) — quảng bá, thúc đẩy
  • impression (n) (ɪmˈpreʃ.ən) (ˈɛn) — sự ấn tượng
  • consumer (n) (kənˈsuː.mɚ) (ˈɛn) — người tiêu dùng
  • adequately (adv) (ˈæd.ə.kwət.li) (adv*) — một cách tương xứng, thỏa đáng
  • vigorously (adv) (ˈvɪɡ.ɚ.əs.li) (adv*) — một cách sôi nổi, mãnh liệt
  • mandate (v) (ˈmæn.deɪt) (ˈvi) — ủy nhiệm, ủy thác
  • oil industry (n) (ɔɪl) (ˈɪn.də.stri) (ˈɛn) — ngành dầu khí
  • come under (v.p) (kʌm) (ˈʌn.dɚ) (ˌviːˈpiː) — rơi vào loại, nằm trong loại, chịu ảnh hưởng
  • scrunity (n) (scrunity*) (ˈɛn) — sự khảo sát kỹ lưỡng
  • go on = continue (v) (ɡoʊ) (ɑːn) (kənˈtɪn.juː) (ˈvi) — tiếp tục
  • wagon (n) (ˈwæɡ.ən) (ˈɛn) — xe kéo ( xe ngựa, xe bò)
  • go green (v) (ɡoʊ) (ɡriːn) (ˈvi) — theo lối sống thân thiện với môi trường, sống xanh
  • agency (n) (ˈeɪ.dʒən.si) (ˈɛn) — đại lý, sở, hãng, chi nhánh
  • resource (n) (ˈriː.sɔːrs) (ˈɛn) — tài nguyên
  • develop (v) (dɪˈvel.əp) (ˈvi) — mở rộng, phát triển
  • plant (n) (plænt) (ˈɛn) — nhà máy
  • accuse=blame (v) (accuseblame*) (ˈvi) — buộc tội
  • in oder to (ˈɪn, ɪn) (ˈoʊdɝ) (tuː) — nhằm để
  • lucrative (a) (ˈluː.krə.t̬ɪv) (ˈeɪ, ə) — sinh lợi, béo bở
  • industry (n) (ˈɪn.də.stri) (ˈɛn) — công nghệ, công nghiệp
  • protest (n) (ˈproʊ.test) (ˈɛn) — cuộc biểu tình
  • repossession (n) (ˌriː.pəˈzeʃ.ən) (ˈɛn) — sự chiếm lại
  • offer (v) (ˈɑː.fɚ) (ˈvi) — ngỏ ý
  • general public (n) (ˈdʒen.ər.əl) (ˈpʌb.lɪk) (ˈɛn) — công chúng
  • manufacturer (n) (ˌmæn.jəˈfæk.tʃɚ.ɚ) (ˈɛn) — nhà sản xuất
  • withdrawn (v) (wɪðˈdrɑːn) (ˈvi) — rút lui
  • fleet (n) (fliːt) (ˈɛn) — hạm đội
  • de-activate (v) (ˈdeɪ, ˈdi, də) (ˈæk.tə.veɪt) (ˈvi) — hủy kích hoạt
  • gasoline (n) (ˈɡæs.əl.iːn) (ˈɛn) — xăng
  • available (a) (əˈveɪ.lə.bəl) (ˈeɪ, ə) — có sẵn
  • import (v) (ɪmˈpɔːrt) (ˈvi) — nhập khẩu
  • privately (adv) (ˈpraɪ.vət.li) (adv*) — tư nhân, thuộc về cá nhân
  • retail price (n) (ˈriː.teɪl) (praɪs) (ˈɛn) — giá bán lẻ
  • equipment (n) (ɪˈkwɪp.mənt) (ˈɛn) — trang thiết bị
  • standard (n) (ˈstæn.dɚd) (ˈɛn) — tiêu chuẩn
  • battery pack (n) (ˈbæt̬.ɚ.i) (pæk) (ˈɛn) — bộ pin
  • cargo space (n) (ˈkɑːr.ɡoʊ) (speɪs) (ˈɛn) — không gian chở hàng hóa
  • energy crisis (n) (ˈen.ɚ.dʒi) (ˈkraɪ.sɪs) (ˈɛn) — khủng hoảng năng lượng
  • sale (n) (ˈseɪɫ) (ˈɛn) — bán hàng, doanh số bán hàng
  • prototype (n) (ˈproʊ.t̬ə.taɪp) (ˈɛn) — nguyên mẫu