← Danh sách bài đọc
Bài 005
The Need to Belong
Nhu cầu thuộc về
Nguồn: https://ieltssongngu.com
No one likes to feel left out, ignored by colleagues (đồng nghiệp) at meetings or not be invited to the big party that everyone is talking about.
Không ai thích cảm giác bị bỏ rơi, bị đồng nghiệp phớt lờ trong các cuộc họp mặt hoặc không được mời đến bữa tiệc lớn mà mọi người đang bàn tán.
Imagine not being part of a joke, or worse still, if the joke is on you.
Hãy tưởng tượng Bạn không phải là một phần của trò đùa hoặc tệ hơn nữa,khi tâm điểm của trò đùa đó lại chính là bạn.
For most people, living the life of an outsider can have a negative effect on self-esteem and mood.
Đối với hầu hết mọi người, việc bị trở thành người ngoài cuộc có thể tác động tiêu cực đến lòng tự trọng và tâm trạng của họ.
It can even lead to negative behaviour. The pull to belong is extremely strong.
Điều này thậm chí còn dễ dẫn đến hành vi tiêu cực. Sức hấp dẫn khi được là một phần của tập thể vô cùng mạnh mẽ.
Scientists believe that, in part, there is an evolutionary explanation for why we have this need to belong.
Các nhà khoa học đã đưa ra lời giải thích rằng, một phần nào đó, tại sao chúng ta có nhu cầu này đó là do quá trình tiến hoá.
In the past, people hunted and cooked together in tribes and each member of the group would be assigned a role.
Trong quá khứ, những người sống cùng một bộ tộc săn bắt và ăn uống chung với nhau và mỗi thành viên giữ một vai trò nhất định.
As each member had a purpose, it meant that in the event of the loss of one person, the group as a whole would suffer.
Vì mỗi thành viên đều có nhiệm vụ riêng của mình nên trong trường hợp mất đi một người, cả tập thể sẽ bị ảnh hưởng.
For this reason, they had a vested interest in protecting each other.
Vì lý do này, họ đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ lẫn nhau.
To our prehistoric (thời tiền sử) ancestors, membership of a group meant the difference between survival (sống sót) and death.
Đối với tổ tiên tiền sử của chúng ta, là thành viên của một nhóm chính là sự khác biệt giữa sự sống và cái chết.
Those who were rejected and excluded from joining a group had to fend (chống đỡ) for themselves and struggled (đấu tranh) to stay alive alone in the wild.
Những người bị loại trừ và không được gia nhập nhóm phải tự lo cho bản thân và phải tự bảo vệ bản thân và đấu tranh đơn độc để sống sót nơi thiên nhiên hoang dã.
Apart from protection, being part of a group also ensured (đảm bảo) that genes could be passed onto future generations (thế hệ).
Ngoài việc được bảo vệ, là một phần của một nhóm cũng đảm bảo rằng các gen có thể được di truyền cho các thế hệ tương lai.
Although it is very different now from the way our primitive ancestors lived, our brains have not had time to evolve to fit today's lifestyles.
Mặc dù hiện tại rất khác so với cách mà tổ tiên nguyên thủy của chúng ta sống nhưng não của chúng ta không có thời gian để tiến hóa sao cho phù hợp với lối sống ngày nay.
In this day and age, it is no longer a matter of survival (sống sót) to be affiliated to a tribe or group, but the evolutionary instinct (bản năng) to find protection still lingers.
Trong thời đại ngày nay, việc liên kết với một bộ lạc hay một nhóm người không còn là vấn đề sống còn nữa, nhưng bản năng tiến hóa để tìm kiếm sự bảo vệ vẫn còn sót lại.
This inherent feeling of security that comes with being part of a group is powerful enough to make people employ both conscious and unconscious strategies to gain membership.
Cảm giác an toàn vốn có khi trở thành một phần của một nhóm chính là cảm giác đủ mạnh để khiến cho mọi người sử dụng cả hai chiến lược có ý thức và vô thức để đạt được tư cách thành viên.
One obvious (rõ ràng) way people try to be accepted into a group is self-presentation, which is the act of portraying yourself in the best possible light.
Một cách thức rõ ràng khi mọi người cố gắng để được chấp nhận vào một nhóm là tự thể hiện, đó là hành động khắc họa bản thân theo hướng tích cực nhất.
An individual will attempt (nỗ lực) to outwardly display the characteristics which are important to the group's advancement.
Một cá nhân sẽ cố gắng biểu lộ ra bên ngoài các đặc điểm riêng mà họ cho là quan trọng đối với sự tiến bộ của nhóm.
At the same time, they will conceal any parts of their personality that may be seen as undesirable or not useful to a group.
Đồng thời, họ sẽ che giấu đi những phần tính cách được cho là không được mong muốn hoặc không giúp ích được gì cho nhóm.
An example of self-presentation is the job application process. A candidate applying for a job will promote themselves as motivated, but is likely to hide the fact that they are disorganised.
Một ví dụ về sự tự thể hiện bản thân chính là thông qua quá trình xin việc. Một ứng viên nộp đơn xin việc sẽ xây dựng hình ảnh của bản thân họ như một người có động lực nhưng lại che giấu đi thực tế bản thân là người vô tổ chức.
These conscious tactics that people use are not a surprise to anyone, but we also use other strategies unknowingly.
Những chiến thuật có ý thức được mọi người sử dụng chẳng có gì đáng kinh ngạc với bất kỳ ai, đôi khi chúng ta cũng sử dụng những chiến lược khác mà không hề hay biết.
Psychologists Jessica Larkin, Tanya Chartrand and Robert Arkin suggested that people often resort to automatic mimicry to gain affiliation into groups, much like our primitive ancestors used to do.
Các nhà tâm lý học Jessica Larkin, Tanya Chartrand và Robert Arkin đã gợi ý rằng mọi người thường dùng đến sự tự động mô phỏng để có được sự liên kết với các nhóm, giống như tổ tiên nguyên thủy của chúng ta từng làm.
Before humans had the ability to speak, physical imitation was a method of begging for a place in the group.
Trước khi con người có khả năng nói, việc bắt chước các hành động bên ngoài là một trong những phương pháp để xin được gia nhập nhóm.
Most will be unaware they are doing it. Larkin and her co-workers decided to test this hypothesis.
Đa phần thì họ sẽ không biết mình đang làm điều đó. Larkin và các đồng nghiệp của cô quyết định kiểm tra giả thuyết này.
They took a group of student volunteers and had them play a game called Cyberball, a ball tossing arcade game that resembled American football.
Họ chọn ra một nhóm sinh viên tình nguyện viên và cho họ chơi một trò chơi gọi là Cyberball, một trò chơi ném bóng điện tử tương tự với bóng bầu dục của Mỹ.
The volunteers were led to believe they were all playing against each other, but in actual fact they were not.
Các tình nguyện viên được dẫn dắt để tin rằng họ đang chơi với nhau, nhưng thực tế thì không phải vậy.
The computer was manipulating the game by passing the ball to some volunteers and excluding others.
Máy tính đã điều khiển trò chơi bằng cách chuyền bóng cho một số tình nguyện viên và không chuyền cho số tình nguyện viên khác.
The ‘accepted and ‘rejected students were then asked if they enjoyed the game and about their opinions of the other players.
Sau đó, những sinh viên 'được chọn' và 'bị từ chối' được hỏi xem liệu họ có thích trò chơi này không và những quan điểm của họ về những người chơi khác.
Participants were then put alone in a room and their natural foot movements were filmed.
Những người tham gia sau đó được ở một mình trong một căn phòng và chuyển động chân theo bản năng của họ đã được ghi hình lại.
Then a female entered the room under the pretense of conducting a fake photo description task.
Sau đó, một người phụ nữ bước vào phòng với nhiệm vụ giả vờ thực hiện việc mô phỏng hình ảnh giả.
The female deliberately moved her foot during the task, but not in a way that would be noticeable to the volunteer.
Người phụ nữ cố ý di chuyển chân của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ, nhưng theo cách ít gây sự chú ý đối với các tình nguyện viên nhất.
It turned out that the rejected students mimicked the female's foot movements the most. This revealed that after exclusion, people will automatically mimic to affiliate with someone new.
Hóa ra là các sinh viên bị từ chối bắt chước động tác chân của người phụ nữ nhiều nhất. Điều đó cho thấy rằng sau khi bị từ chối, mọi người sẽ tự động bắt chước để liên kết với một người mới.
However, Larkin and her colleagues (đồng nghiệp) wanted to go further. They believed that more often than not, in the real world, we actually know the people that reject us.
Tuy nhiên, Larkin và các đồng nghiệp của cô muốn nghiên cứu sâu hơn. Họ tin rằng trong thực tế, chúng ta đều thường biết rõ những ai đã từ chối mình.
How do we behave towards the group that we know has excluded us? The experiment was repeated with this question in mind.
Chúng ta hành xử như thế nào đối với nhóm mà chúng ta biết họ đã loại trừ chúng ta? Thí nghiệm được lặp đi lặp lại với câu hỏi này trong tâm trí.
In the second experiment, only female volunteers played the Cyberball game, during which they experienced rejection by either men or women.
Trong thí nghiệm thứ hai, chỉ có nữ tình nguyện viên chơi trò chơi Cyberball, và trong trò chơi, họ bị cả nam hoặc nữ từ chối.
Then each volunteer did the fake photo task, but this time with a man and then a woman.
Sau đó, mỗi tình nguyện viên thực hiện nhiệm vụ chụp ảnh giả, nhưng lần này họ thực hiện với một người đàn ông và sau đó là một phụ nữ.
The results clearly indicated that the female students that felt rejected would unconsciously make more of an effort to mimic members of their own in-group - that is, other women - rather than men.
Kết quả chỉ ra rõ ràng rằng các sinh viên nữ cảm thấy bị từ chối sẽ cố gắng bắt chước các thành viên trong nhóm của họ - nghĩa là những phụ nữ khác - thay vì nam giới một cách vô thức.
This deep-wired instinct (bản năng) to mimic was not only directed towards random people, as initially thought, but targeted to specific groups, the particular group that did the rejecting in the first place.
Mối liên kết sâu xa trong bản năng để tạo ra hành vi bắt chước này không chỉ hướng đến những người ngẫu nhiên, theo như suy nghĩ ban đầu, mà nhắm mục tiêu đến các nhóm cụ thể, đặc biệt là các nhóm đã thực hiện hành vi từ chối ngay từ đầu.
To some, it is inconceivable why people will go to great lengths to be accepted into one of life's social groups or clubs, enduring rejection and sometimes humiliation in order to be accepted.
Đối với một số người, thật không dễ để tưởng tượng được rằng tại sao họ lại phải tìm đủ mọi cách để được chấp nhận vào một trong các hội nhóm và câu lạc bộ của xã hội, chịu đựng sự chối từ và đôi khi bị sỉ nhục để được chấp nhận.
You only have to look at college campuses, which are notorious for strict initiations inflicted on candidates desperately seeking membership.
Bạn chỉ cần nhìn vào khuôn viên trường đại học, vốn khét tiếng với những nghi thức tuyển chọn hà khắc buộc các ứng cử viên phải tìm kiếm tư cách thành viên trong tuyệt vọng.
But it happens and will continue to happen, because the desire to belong is a very powerful force and a fundamental part of human nature.
Nhưng điều đó vẫn xảy ra và sẽ tiếp tục xảy ra bởi khát khao hòa nhập là nguồn lực mạnh mẽ và là phần cơ bản của bản chất con người.
Từ vựng (32)
- The need to belong (ðə) (niːd) (tuː) (bɪˈlɑːŋ) — Nhu cầu thuộc về là một quan niệm cho rằng con người có một nguồn động lực mang tính nền tảng là muốn bản thân được chấp nhận trong những mối quan hệ với người khác và là một phần của các nhóm xã hội.
- leave out (liːv) (aʊt) — bỏ rơi
- the joke is on someone (ðə) (dʒoʊk) (ɪz) (ɑːn) (ˈsʌm.wʌn) — cười người hôm trước hôm sau người cười
- outsider (ˌaʊtˈsaɪ.dɚ) — người ngoài cuộc
- self-esteem (self) (ɪˈstiːm) — lòng tự trọng
- in part = partly (ˈɪn, ɪn) (pɑːrt) (ˈpɑːrt.li) — một phần, phần nào đó
- evolutionary (ˌiː.vəˈluː.ʃən.er.i) — tiến hóa, tiến triển
- tribe (traɪb) — bộ tộc, bộ lạc
- in the event of (ˈɪn, ɪn) (ðiː) (ɪˈvent) (əv) — trong trường hợp
- had a vested interest in (hæd) (ˈeɪ, ə) (ˈvɛstɪd) (ˈɪn.trɪst) (ˈɪn, ɪn) — đặc biệt quan tâm đến mong được lợi từ
- fend for oneself (ˈfɛnd) (fɔːr) (ˌwʌnˈself) — tự chăm sóc/ bảo hộ bản thân
- evolve (ɪˈvɑːlv) — tiến hóa
- in this day and age (ˈɪn, ɪn) (ðɪs) (deɪ) (ænd) (eɪdʒ) — ngày nay, trong thời đại ngày nay
- affiliate (əˈfɪl.i.eɪt) — liên kết
- linger (ˈlɪŋ.ɡɚ) — sót lại, tồn tại, mất rất lâu để dời đi hoặc biến mất
- inherent (ɪnˈhɪr.ənt) — vốn có
- employ (ɪmˈplɔɪ) — tuyển chọn, sử dụng
- self-presentation (self) (ˌprez.ənˈteɪ.ʃən) — tự thể hiện
- portray (pɔːrˈtreɪ) — mô tả, khắc họa
- tactic (ˈtæk.tɪk) — chiến thuật
- resort to sth (rɪˈzɔːrt) (tuː) (sth*) — làm hoặc sử dụng thứ gì vì nó là cái duy nhất có sẵn
- mimicry = imitation (ˈmɪm.ɪ.kri) (ˌɪm.əˈteɪ.ʃən) — sự mô phỏng, bắt chước
- ball tossing arcade game (bɑːl) (tɑːs) (ɑːrˈkeɪd) (ɡeɪm) — trò chơi ném bóng điện tử
- manipulate (məˈnɪp.jə.leɪt) — điều khiển
- under the pretense of (ˈʌn.dɚ) (ðə) (prɪˈtens) (əv) — với nhiệm vụ
- more often than not = usually (mɔːr) (ˈɑːf.ən) (ðæn) (nɑːt) (ˈjuː.ʒu.ə.li) — thường xuyên
- inconceivable (ˌɪn.kənˈsiː.və.bəl) — không có khả năng tưởng tượng hay nghĩ về điều gì, cực kỳ không có khả năng
- go to great lengths (ɡoʊ) (tuː) (ɡreɪt) (ˈɫɛŋkθs, ˈɫɛŋθs) — cực kỳ cố gắng, tìm đủ mọi cách
- humiliation (hjuːˌmɪl.iˈeɪ.ʃən) — sự sỉ nhục
- notorious (noʊˈtɔːr.i.əs) — khét tiếng, nổi tiếng về cái tiêu cực
- initiation (ɪˌnɪʃ.iˈeɪ.ʃən) — nghi thức, nghi thức tuyển chọn, chấp nhận gia nhập
- inflict on (ɪnˈflɪkt) (ɑːn) — buộc, ép ai đó làm gì không thích