← Danh sách bài đọc
Bài 062

Paper or Computer?

Giấy tờ hay Máy tính?

Computer technology was supposed to replace paper.
Công nghệ máy tính được cho là có thể thay thế giấy tờ.
But that hasn’t happened.
Nhưng điều đó đã không xảy ra.
Every country in the Western world uses more paper today, on a per capita basis, than it did ten years ago.
Ngày nay, các quốc gia phương Tây còn sử dụng nhiều giấy hơn so với 10 năm trước trên cơ sở bình quân đầu người.
The consumption of uncoated free-sheet paper, for instance, the most common kind of office paper — rose almost fifteen percent in the United States between 1995 and 2000.
Ví dụ, sự tiêu thụ giấy không tráng - một loại giấy văn phòng phổ biến - đã tăng gần 15% ở Hoa Kỳ từ năm 1995 đến năm 2000.
This is generally taken as evidence of how hard it is to eradicate old, wasteful habits and of how stubbornly resistant we are to the efficiencies offered by computerization.
Điều này thường được coi là bằng chứng cho thấy những khó khăn trong việc loại bỏ những thói quen cũ, gây lãng phí và cho thấy mức độ phản kháng lâu dài của chúng ta đối với những hiệu quả do tin học hóa mang lại.
A number of cognitive psychologists and ergonomics experts, however, don’t agree.
Tuy nhiên, một số nhà tâm lý học nhận thức và các chuyên gia công thái học không đồng ý.
Paper has persisted, they argue, for very good reasons: when it comes to performing certain kinds of cognitive tasks, paper has many advantages over computers.
Họ lập luận rằng giấy vẫn tồn tại vì những lý do rất chính đáng: khi thực hiện một số loại nhiệm vụ nhất định cần động não, giấy có nhiều lợi thế hơn máy tính.
The dismay people feel at the sight of a messy desk — or the spectacle of air-traffic controllers tracking flights through notes scribbled on paper strips – arises from a fundamental confusion about the role that paper plays in our lives.
Mọi người cảm thấy mất tinh thần khi nhìn thấy bàn làm việc lộn xộn - hoặc cảnh tượng các nhân viên kiểm soát không lưu theo dõi các chuyến bay thông qua các ghi chú viết nguệch ngoạc trên giấy - xuất phát từ sự nhầm lẫn cơ bản về vai trò của giấy trong cuộc sống của chúng ta.
The case for paper is made most eloquently in “The Myth of the Paperless Office”, by two social scientists, Abigail Sellen and Richard Harper.
Trường hợp về giấy được đưa ra rõ ràng nhất trong “Thần thoại về văn phòng không giấy”, bởi hai nhà khoa học xã hội, Abigail Sellen và Richard Harper.
They begin their book with an account of a study they conducted at the International Monetary Fund, in Washington, D.c.
Họ mở đầu cuốn sách của mình bằng lời tường thuật về một nghiên cứu mà họ đã thực hiện tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế, ở Washington, D.c.
Economists at the I.M.F. spend most of their time writing reports on complicated economic questions, work that would seem to be perfectly suited to sitting in front of a computer.
Các nhà kinh tế tại I.M.F. dành phần lớn thời gian để viết báo cáo về những câu hỏi phức tạp về kinh tế, công việc dường như hoàn toàn phù hợp với việc ngồi trước máy tính.
Nonetheless, the I.M.F. is awash in paper, and Sellen and Harper wanted to find out why.
Tuy nhiên, I.M.F. đang ngập trong giấy tờ, và Sellen và Harper muốn tìm hiểu lý do tại sao.
Their answer is that the business of writing reports – at least at the I.M.F. is an intensely collaborative process, involving the professional judgments and contributions of many people.
Câu trả lời của họ là công việc viết báo cáo - ít nhất là tại I.M.F. là một quá trình cộng tác mạnh mẽ, có sự đánh giá chuyên môn và đóng góp của nhiều người.
The economists bring drafts of reports to conference rooms, spread out the relevant pages, and negotiate changes with one other.
Các nhà kinh tế học mang các bản thảo báo cáo đến các phòng họp, phát ra các giấy tờ liên quan và thương lượng những thay đổi với nhau.
They go back to their offices and jot down comments in the margin, taking advantage of the freedom offered by the informality of the handwritten note.
Họ quay trở lại văn phòng của mình và ghi lại các ý kiến bên lề, tận dụng sự tự do được mang lại bởi tính không quy chuẩn của việc ghi chú bằng tay.
Then they deliver the annotated draft to the author in person, taking him, page by page, through the suggested changes.
Sau đó, họ giao bản thảo có chú thích đến tận tay tác giả, thảo luận với họ ở từng trang một thông qua những thay đổi được đề xuất.
At the end of the process, the author spreads out all the pages with comments on his desk and starts to enter them on the computer — moving the pages around as he works, organizing and reorganizing, saving and discarding.
Vào cuối cuộc họp, tác giả trải tất cả các giấy tờ có nhận xét lên bàn của mình và bắt đầu nhập chúng vào máy tính - di chuyển, sắp xếp và tổ chức lại, lưu và loại bỏ các giấy tờ xung quanh khi anh ta làm việc.
Without paper, this kind of collaborative and iterative work process would be much more difficult.
Nếu không có giấy, kiểu quy trình làm việc cộng tác và lặp đi lặp lại này sẽ khó khăn hơn nhiều.
According to Sellen and Harper, paper has a unique set of “affordances” — that is, qualities that permit specific kinds of uses.
Theo Sellen và Harper, giấy có một tập hợp “đặc tính” độc đáo - đó là những đặc điểm cho phép các loại mục đích sử dụng cụ thể.
Paper is tangible: we can pick up a document, flip through it, read little bits here and there, and quickly get a sense of it.
Giấy là vật hữu hình: chúng ta có thể nhặt một tài liệu, lật giở nó, đọc từng chút một ở chỗ này rồi chỗ kia, và nhanh chóng hiểu được nó.
Paper is spatially flexible, meaning that we can spread it out and arrange it in the way that suits us best.
Giấy linh hoạt cho mọi vị trí, có nghĩa là chúng ta có thể trải nó ra và sắp xếp nó theo cách phù hợp nhất với chúng ta.
And it’s tailorable: we can easily annotate it, and scribble on it as we read, without altering the original text.
Và nó còn có thể điều chỉnh: chúng ta có thể dễ dàng chú thích, và viết nguệch ngoạc trên đó khi chúng ta đọc mà không làm thay đổi văn bản gốc.
Digital documents, of course, have then own affordances.
Tất nhiên, tài liệu kỹ thuật số cũng có lợi ích riêng.
They can be easily searched, shared, stored, accessed remotely, and linked to other relevant material.
Chúng có thể dễ dàng được tìm kiếm, chia sẻ, lưu trữ, truy cập từ xa và liên kết với các tài liệu có liên quan khác.
But they lack the affordances that really matter to a group of people working together on a report, Sellen and Harper write:
Nhưng chúng thiếu các đặc tính thực sự quan trọng đối với một nhóm làm báo cáo cùng nhau, Sellen và Harper viết.
Paper enables a certain kind of thinking.
Giấy kích thích một loại tư duy nhất định.
Picture, for instance, the top of your desk.
Ví dụ như hình ảnh phía trên bàn làm việc của bạn.
Chances are that you have a keyboard and a computer screen off to one side, and a clear space roughly eighteen inches square in front of your chair.
Rất có thể bạn đặt bàn phím và màn hình máy tính lệch sang một bên, và một khoảng trống rộng khoảng 18 inch phía trước ghế của bạn.
What covers the rest of the desktop is probably piles- piles of papers, journals, magazines, binders, postcards, videotapes, and all the other artifacts of the knowledge economy.
Những gì bao phủ phần còn lại của máy tính để bàn có lẽ là hàng đống giấy tờ, bài báo, tạp chí, bìa, bưu thiếp, băng video và tất cả các hiện vật khác về kiến thức kinh tế.
The piles look like a mess, but they aren’t.
Các chồng giấy tờ đó thoạt nhìn như một mớ hỗn độn, nhưng thực ra không phải vậy.
When a group at Apple Computer studied piling behavior several years ago, they found that even the most disorderly piles usually make perfect sense to the piler, and that office workers could hold forth in great detail about the precise history and meaning of their piles.
Khi một nhóm tại Apple Computer nghiên cứu về hành vi chất chồng cách đây vài năm, họ phát hiện ra rằng ngay cả những chồng giấy lộn xộn nhất cũng thường có ý nghĩa hoàn hảo đối với người chất lên, và các nhân viên văn phòng đó có thể diễn giải một cách chi tiết về nguồn gốc và ý nghĩa chính xác của các chồng tài liệu mà họ xếp.
The pile closest to the cleared, eighteen-inch-square working area, for example, generally represents the most urgent business, and within that pile, the most important document of all is likely to be at the top.
Ví dụ, chồng tài liệu gần nhất với khu vực làm việc mười tám inch đã được dọn sạch, thường thể hiện công việc cấp bách nhất và trong chồng đó, tài liệu quan trọng nhất có khả năng nằm ở trên cùng.
Piles are living, breathing archives.
Những cột chồng đó là cuộc sống, mặt chữ chính là hơi thở.
Over time, they get broken down and resorted, sometimes chronologically and sometimes thematically and sometimes chronologically and thematically; clues about certain documents may be physically embedded in the file by, say, stacking a certain piece of paper at an angle or inserting dividers into the stack.
Theo thời gian, chúng bị sụp đổ và được sử dụng đến, đôi khi theo trình tự thời gian, đôi khi theo chủ đề và cũng đôi khi theo cả trình tự thời gian và chủ đề; thông tin về các tài liệu nhất định có thể được ghim thẳng vào tệp bằng cách xếp theo thứ tự các loại giấy tờ theo một góc hoặc chèn các vách ngăn vào ngăn xếp.
But why do we pile documents instead of filing them?
Nhưng tại sao chúng ta lại chất đống tài liệu thay vì lưu trữ chúng cẩn thận?
Because piles represent the process of active, ongoing thinking.
Là bởi vì sự chất chồng thể hiện quá trình hoạt động, tư duy liên tục.
The psychologist Alison Kidd, whose research Sellen and Harper refer to extensively, argues that “knowledge workers” use the physical space of the desktop to hold “ideas which they cannot yet categorize or even decide how they might use.”
Nhà tâm lý học Alison Kidd, người mà Sellen và Harper đề cập đến rất nhiều trong nghiên cứu, lập luận rằng “công nhân tri thức” sử dụng không gian hiện hữu của máy tính để nắm giữ “những ý tưởng mà họ chưa thể phân loại hoặc thậm chí quyết định luôn cách họ có thể sử dụng.”
The messy desk is not necessarily a sign of disorganization.
Bàn làm việc lộn xộn không hẳn là biểu hiện của sự vô tổ chức.
It may be a sign of complexity: those who deal with many unresolved ideas simultaneously cannot sort and file the papers on their desks, because they haven’t yet sorted and filed the ideas in their head.
Đó có thể là một dấu hiệu của sự phức tạp: những người xử lý nhiều ý tưởng chưa được giải quyết đồng thời không thể sắp xếp và cất giữ giấy tờ trên bàn của họ, bởi vì họ chưa sắp xếp và lưu trữ các ý tưởng trong đầu.
Kidd writes that many of the people she talked to use the papers on their desks as contextual cues to “recover a complex set of threads without difficulty and delay” when they come in on a Monday morning, or after their work has been interrupted by a phone call.
Kidd viết rằng nhiều người mà cô ấy đã nói chuyện sử dụng các giấy tờ trên bàn của họ như một dấu hiệu theo hoàn cảnh để ''khôi phục một tập hợp các chủ đề phức tạp mà không gặp khó khăn và chậm trễ” vào sáng thứ Hai, hoặc sau khi công việc của họ bị gián đoạn bởi một cuộc điện thoại.
What we see when we look at the piles on our desks is, in a sense, the contents of our brains.
Những gì chúng ta thấy khi nhìn vào đống giấy tờ trên bàn làm việc, theo một khía cạnh nào đó, là nội dung trong não của chúng ta.
This idea that paper facilitates a highly specialized cognitive and social process is a far cry from the way we have historically thought about the stuff.
Ý tưởng cho rằng giấy tạo điều kiện cho quá trình nhận thức và xã hội có tính chuyên môn hóa cao khác xa với cách chúng ta từng nghĩ trong quá khứ về những thứ này.
Paper first began to proliferate in the workplace in the late nineteenth century as part of the move toward “systematic management.”
Giấy lần đầu tiên bắt đầu phổ biến ở nơi làm việc vào cuối thế kỷ 19 như là một phần của quá trình hướng tới việc “quản lý có hệ thống”.
To cope with the complexity of the industrial economy, managers were instituting company-wide policies and demanding monthly, weekly, or even daily updates from their subordinates.
Để đối phó với sự phức tạp của nền kinh tế công nghiệp, các nhà quản lý đã thiết lập các chính sách trên toàn công ty và yêu cầu cấp dưới của họ cập nhật hàng tháng, hàng tuần hoặc thậm chí hàng ngày.
Thus was born the monthly sales report, and the office manual and the internal company newsletter.
Do đó đã cho ra đời báo cáo bán hàng hàng tháng, sổ tay hướng dẫn văn phòng và bản tin nội bộ công ty.
The typewriter took off in the eighteen-eighties, making it possible to create documents in a fraction of the time it had previously taken, and that was followed closely by the advent of carbon paper, which meant that a typist could create ten copies of that document simultaneously.
Máy đánh chữ bất ngờ phổ biến vào những năm 1880, giúp con người tạo ra các tài liệu chỉ trong thời gian ngắn mà nó đã thực hiện trước đó, và không lâu sau là sự ra đời của giấy than, điều đó có nghĩa là một người đánh máy đồng thời có thể tạo ra mười bản sao của tài liệu đó.
Paper was important not to facilitate creative collaboration and thought but as an instrument of control.
Giấy không quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sự hợp tác và suy nghĩ sáng tạo mà là một công cụ thích hợp để kiểm soát.

Từ vựng (15)

  • ergonomics (ˌɝː.ɡəˈnɑː.mɪks) — công thái học
  • persist (pɝˈsɪst) — vẫn tồn tại
  • dismay (dɪˈsmeɪ) — sự thất vọng
  • eloquently (ˈel.ə.kwənt.li) — theo cách đưa ra một thông điệp rõ ràng, mạnh mẽ
  • awash in sth (əˈwɑːʃ) (ˈɪn, ɪn) (sth*) — ngập trong điều gì đó
  • annotate (ˈæn.ə.teɪt) — ghi chú
  • iterative (ˈɪt̬.ə.reɪ.t̬ɪv) — lặp đi lặp lại
  • affordance (əˈfɔːr.dəns) — đặc trưng, đặc tính
  • tangible (ˈtæn.dʒə.bəl) — hữu hình, có thể cầm nắm được
  • spatially (ˈspeɪ.ʃəl.i) — liên quan đến vị trí, khu vực, kích cỡ của vật
  • tailorable (tailorable*) — có thể điều chỉnh
  • hold forth (hoʊld) (fɔːrθ) — nói nhiều về một chủ đề trong một thời gian dài
  • simultaneously (ˌsaɪ.məlˈteɪ.ni.əs.li) — đồng thời
  • proliferate (prəˈlɪf.ə.reɪt) — gia tăng nhiều
  • take off (teɪk) (ɑːf) — bất ngờ thành công hoặc trở nên phổ biến