← Danh sách bài đọc
Bài 065

Consecutive and Simultaneous Translation

Dịch nối tiếp và dịch song song

When people are faced with a foreign-language barrier, the usual way around it is to find someone to interpret or translate for them.
Khi mọi người đối mặt với rào cản về ngoại ngữ, cách thông thường để giải quyết là tìm một người thông dịch hoặc biên dịch.
The term ‘translation’, is the neutral term used for all tasks where the meaning of expressions in one language (the source language) is turned into the meaning of another (the ‘target’ language), whether the medium is spoken, written, or signed.
Thuật ngữ 'dịch', là thuật ngữ trung lập được sử dụng cho tất cả các tác vụ mà trong đó ý nghĩa diễn đạt của một ngôn ngữ (ngôn ngữ nguồn) được chuyển thành ý nghĩa diễn đạt của một ngôn ngữ khác (ngôn ngữ 'đích'), dù phương tiện trung gian là nói, viết, hoặc kí hiệu.
In specific professional contexts, however, a distinction is drawn between people who work with the spoken or signed language (interpreters), and those who work with the written language (translators).
Tuy nhiên, trong các bối cảnh chuyên môn cụ thể, vẫn có sự phân biệt giữa những người làm việc với ngôn ngữ nói hoặc ký hiệu (thông dịch viên) và những người làm việc với ngôn ngữ viết (biên dịch viên).
There are certain tasks that blur this distinction, as when source speeches turned into target writing.
Vẫn có một số tác vụ làm mờ đi sự khác biệt này, ví dụ như khi bài phát biểu nguồn được chuyển thành bài viết đích.
But usually the two roles are seen as quite distinct, and it is unusual to find one person who is equally happy with both occupations.
Tuy nhiên hai vai trò này thường vẫn được xem là tương đối khác nhau, và không dễ gì để tìm thấy một người hài lòng với cả hai vị trí công việc.
Some writers on translation, indeed, consider the interpreting task to be more suitable for extrovert personalities, and the translating task for introverts.
Thực tế, một số nhà bình luận về dịch thuật cho rằng thông dịch phù hợp hơn với người hướng ngoại và biên dịch phù hợp với người hướng nội.
Interpreting is today widely known from its use in international political life.
Phiên dịch ngày nay được biết đến rộng rãi nhờ việc nó được sử dụng trong chính trị quốc tế.
When senior ministers from different language backgrounds meet, the television record invariably shows a pair of interpreters hovering in the background.
Khi các bộ trưởng cấp cao đến từ những quốc gia có ngôn ngữ khác nhau gặp mặt, bản phát sóng truyền hình luôn xuất hiện một cặp thông dịch viên thấp thoáng trong hậu trường.
At major conferences, such as the United Nations General Assembly, the presence of headphones is a clear indication that a major linguistic exercise is taking place.
Tại các hội nghị lớn, chẳng hạn như Đại hội đồng Liên hợp quốc, sự xuất hiện của những tai nghe là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy một buổi áp dụng đa ngôn ngữ rất lớn đang diễn ra.
In everyday circumstances, interpreters are frequently needed, especially in cosmopolitan societies formed by new reiterations of immigrants and Gastarbeiter.
Trong những tình huống hàng ngày, thường rất cần những thông dịch viên, đặc biệt là trong xã hội đa quốc gia được hình thành bởi sự lặp lại mới của những người nhập cư và lao động nước ngoài.
Often, the business of law courts, hospitals, local health clinics, classrooms, or industrial tribunals cannot be carried on without the presence of an interpreter.
Thông thường, hoạt động kinh doanh của những tòa án luật, bệnh viện, phòng khám sức khỏe địa phương, lớp học hoặc tòa án công nghiệp sẽ không thực hiện được nếu như không có sự tham gia của thông dịch viên.
Given the importance and frequency of this task, therefore, it is remarkable that so little study has been made of what actually happens when interpreting takes place, and of how successful an exercise it is.
Do đó đối với tầm quan trọng và sự xuất hiện thường xuyên của thông dịch, thì đáng ngạc nhiên là có rất ít nghiên cứu cho những gì thật sự diễn ra trong các buổi phiên dịch, và buổi phiên dịch ấy đã được diễn ra thành công đến nhường nào.
There are two main kinds of oral translation – consecutive and simultaneous.
Có hai hình thức dịch nói - đó là dịch nối tiếp và dịch song song.
In consecutive translation the translating starts after the original speech or some part of it has been completed.
Trong một buổi dịch nối tiếp, quá trình dịch sẽ bắt đầu sau khi kết thúc bài phát biểu gốc hay một phần của bài phát biểu đó.
Here the interpreter’s strategy and the final results depend, to a great extent on the length of the segment to be translated.
Tại đây, chiến thuật của người phiên dịch và kết quả cuối cùng sẽ phụ thuộc rất nhiều vào độ dài của phân đoạn được dịch.
If the segment is just a sentence or two the interpreter closely follows the original speech.
Nếu phân đoạn dịch chỉ gồm một hoặc hai câu, thông dịch viên sẽ theo sát bài phát biểu gốc.
As often as not, however, the interpreter is expected to translate a long speech which has lasted for scores of minutes or even longer.
Tuy nhiên, rất ít khi, thông dịch viên phải dịch một bài phát biểu kéo dài hàng phút hoặc thậm chí là dài hơn.
In this case he has to remember a great number of messages, and keep them in mind until he begins his translation.
Trong trường hợp này, thông dịch viên phải ghi nhớ thông tin và phải nhớ chúng cho đến khi bắt đầu phần dịch của mình.
To make this possible the interpreter has to take notes of the original messages, various systems of notation having been suggested for the purpose.
Để làm được điều này, thông dịch viên phải ghi chú lại các thông tin gốc, rất nhiều các thủ thuật khác nhau đã được đưa ra để dành cho mục đích này.
The study of, and practice in, such notation is the integral part of the interpreter’s training as are special exercises to develop his memory.
Việc nghiên cứu và thực hành các thủ thuật đó là một phần không thể thiếu trong quá trình đào tạo phiên dịch viên cũng như các bài tập luyện đặc biệt để phát triển khả năng ghi nhớ.
Doubtless the recency of developments in the field partly explains this neglect.
Gần đây sự phát triển nổi bật trong lĩnh vực này phần nào đã giải thích cho việc bỏ qua phương thức dịch nối tiếp.
One procedure, consecutive interpreting, is very old — and presumably dates from the Tower of Babel! Here, the interpreter translates after the speaker has finished speaking.
Một quy trình, được sử dụng phương thức dịch nối tiếp, đã quá cũ - nó có lẽ đã có từ thời Tháp Babel! Ở đây, thông dịch viên sẽ dịch sau khi người nói đã nói xong.
This approach is widely practiced in informal situations, as well as in committees and small conferences.
Cách tiếp cận này được sử dụng rộng rãi trong các tình huống thông thường, cũng như được sử dụng trong các ủy ban và hội nghị nhỏ.
In larger and more formal settings, however, it has been generally replaced by simultaneous interpreting — a recent development that arose from the availability of modern audiological equipment and the advent of increased international interaction following the Second World War.
Tuy nhiên, trong các cơ sở lớn hơn và trang trọng hơn, nó thường được thay thế bằng dịch song song - một phát triển gần đây xuất phát từ việc sẵn có các thiết bị thính học hiện đại và sự xuất hiện gia tăng của quan hệ quốc tế sau Thế chiến thứ hai.
Of the two procedures, it is the second that has attracted most interest, because of the complexity of the task and the remarkable skills required.
Trong số hai quy trình, quy trình thứ hai thu hút được nhiều sự quan tâm nhất, vì tính phức tạp của các tác vụ và yêu cầu các kỹ năng nổi bật.
In no other context of human communication is anyone routinely required to listen and speak at the same time, preserving an exact semantic correspondence between the two modes.
Trong giao tiếp giữa con người, bất kỳ ai cũng luôn cần nghe và nói cùng lúc, duy trì sự tương ứng về ngữ nghĩa một cách chính xác giữa nghe và nói.
Moreover, there is invariably a delay of a few words between the stimulus and the response, because of the time it takes to assimilate what is being said in the source language and to translate it into an acceptable form in the target language.
Hơn nữa, luôn có trễ nhịp một vài từ giữa việc nghe và dịch , do mất thời gian để đồng hóa những gì đang được nói trong ngôn ngữ nguồn và chuyển nó sang dạng có thể hiểu được trong ngôn ngữ đích.
This ‘ear-voice span’ is usually about 2 or 3 seconds, but it may be as much as 10 seconds or so, if the text is complex.
Khoảng thời gian 'Hiểu- Phát ngôn' này thường tầm khoảng 2 hoặc 3 giây, nhưng có thể lên đến 10 giây hoặc lâu hơn, nếu bài phát biểu phức tạp hơn.
The brain has to remember what has just been said, attend to what is currently being said, and anticipate the construction of what is about to be said.
Bộ não phải nhớ những gì vừa được nói, chú ý đến những gì đang được nói và dự đoán trước của những gì sắp được nói.
As you start a sentence you are taking a leap in the dark, you are mortgaging your grammatical future; the original sentence may suddenly be turned in such a way that your translation of its end cannot easily be reconciled with your translation of its start.
Khi bạn bắt đầu một câu nói, giống như bạn đang thực hiện một bước nhảy vọt trong bóng tối, và bạn đang đặt cược tương lai sử dụng câu từ của mình vào đó; câu nói gốc có thể bỗng nhiên bị thay đổi theo cái cách mà bản dịch của bạn không đồng nhất với bản gốc.
Great nimbleness is called for.
Sự nhanh bén là rất cần thiết trong lúc này.
How it is all done is not at all clear.
Làm thế nào để điều đó được thực hiện thì vẫn chưa thể kể hết được.
That it is done at all is a source of some wonder, given the often lengthy periods of interpreting required, the confined environment of an interpreting booth, the presence of background noise, and the awareness that major decisions may depend upon the accuracy of the work.
Rằng sự thành công của nó là tập hợp của những điều phi thường, là khoảng thời gian nhất định cho phiên dịch , hay môi trường hạn chế trong buồng phiên dịch, những tiếng ồn xung quanh và việc hiểu được rằng những quyết định quan trọng có thể phụ thuộc vào độ chính xác của người phiên dịch.
Other considerations such as cultural background also make it aim to pay full attention to the backgrounds of the authors and the recipients and to take into account differences between source and target language.
Các yếu tố cần lưu ý khác như văn hóa cũng là lý do khiến người phiên dịch cần lưu ý đến xuất thân của tác giả hay người cần thông dịch, và ngoài ra cũng cần phải tính đến những khác biệt giữa ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích.
Research projects have now begun to look at these factors – to determine, for example, how far successful interpreting is affected by poor listening conditions or the speed at which the source language is spoken.
Các bài nghiên cứu hiện đã bắt đầu xem xét những yếu tố này - chẳng hạn để xác định xem việc thành công cho một phiên dịch bị ảnh hưởng nhiều như thế nào bởi điều kiện nghe kém hoặc tốc độ ngôn ngữ nguồn được nói.
It seems that an input speed of between 100 and 120 words per minute is a comfortable rate for interpreting, with an upper limit of around 200 w.p.m.
Có vẻ như tốc độ của người nói rơi vào từ 100 đến 120 từ mỗi phút là một tốc độ dễ hiểu để thông dịch, với giới hạn tối đa là khoảng 200 w.p.m ( từ mỗi phút).
But even small increases in speed can dramatically affect the accuracy of output.
Nhưng ngay cả khi tốc độ nói có tăng lên nhẹ thì vẫn có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến độ chính xác của bản dịch ra.
In one controlled study, when speeds were gradually increased in a series of stages from 95 to 164 w.p.m., the ear-voice span also increased with each stage, and the amount correctly interpreted showed a clear decline.
Trong một nghiên cứu có đối chứng, khi tốc độ được tăng dần trong một loạt các giai đoạn từ 95 đến 164 w.p.m.( từ mỗi phút), khoảng thời gian ‘Hiểu-Phát ngôn’ cũng tăng lên theo từng giai đoạn và mức độ diễn giải chính xác có sự suy giảm rõ ràng.
Also, as the translating load increases, not only are there more errors of commission (mistranslations, cases of vagueness replacing precision), there are also more errors of omission, as words and segments of meaning are filtered out.
Ngoài ra, khi mức độ dịch tăng lên, không chỉ có nhiều lỗi sai hơn (bản dịch sai, các trường hợp có thông tin mơ hồ thay vì sự chính xác), mà còn có nhiều lỗi bỏ sót hơn, vì các từ và phân đoạn ngữ nghĩa đã bị lược bớt.
These are important findings, given the need for accuracy in international communication.
Đây là những phát hiện rất quan trọng, do nhu cầu về tính chính xác trong giao tiếp quốc tế.
What is needed is a more detailed identification of the problem areas, and of the strategies speakers, listeners, and interpreters use to solve them.
Điều cần thiết là phải xác định chính xác các lỗ hỗng của vấn đề nằm ở đâu và các chiến lược mà người nói, người nghe và người phiên dịch nên sử dụng để có thể khắc phục.
There is an urgent need to expand what has so far been one of the most neglected fields of communication research..
Một nhu cầu cấp thiết rằng phải mở rộng lĩnh vực này cho đến nay vẫn là một trong những nghiên cứu truyền thông bị bỏ quên nhiều nhất..

Từ vựng (8)

  • consecutive (kənˈsek.jə.t̬ɪv) — nối tiếp
  • simultaneous (ˌsaɪ.məlˈteɪ.ni.əs) — đồng thời/ song song
  • segment (ˈseɡ.mənt) — phân đoạn
  • procedure (prəˈsiː.dʒɚ) — quy trình
  • semantic (səˈmæn.t̬ɪk) — ngữ nghĩa
  • mortgage (ˈmɔːr.ɡɪdʒ) — thế chấp/ đặt cược
  • nimbleness (ˈnɪm.bəl.nəs) — sự nhanh nhạy/ nhạy bén
  • interpreting booth (-ˈtɝː-) (buːθ) — buồng phiên dịch